Văn hóa – Di sản

Đình Hiệp - nét xưa bên dòng sông Đáy

Phan Ngọc Anh 15:08 14/02/2025

Làng Hạ Hiệp (tên gọi cổ xưa là kẻ Hiệp), xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ là một trong số ít những ngôi làng Việt cổ nằm bên hữu ngạn sông Đáy còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc của xứ Đoài nói riêng và của đồng bằng Bắc Bộ nói chung. Trong đó nổi bật là ngôi đình cổ kính, linh thiêng thờ Thành hoàng Hoàng Đạo - một danh tướng nổi tiếng của Hai Bà Trưng.

1b.jpg
Đình Hạ Hiệp - một trong số những ngôi đình cổ nổi tiếng xứ Đoài.

Tương truyền, Hoàng Đạo tướng quân có tên là Đỗ Năng Đạo. Người kẻ Hiệp vẫn kể cho nhau nghe về Thành hoàng làng có cha là người họ Đỗ ở Nghệ An đến Hạ Hiệp lập nghiệp và kết duyên với một người họ Phùng. Hai ông bà muộn con nên đưa nhau lên núi chùa Thầy cầu tự. Một đêm, bà vợ nằm mơ thấy dải hoàng vân bay ngang qua mình rồi mang thai. Sau chín tháng mười ngày, bà sinh hạ một cậu bé khôi ngô. Nhớ lại giấc mơ, hai ông bà liền gọi con bằng cái tên Hoàng Đạo.

Vào những năm bốn mươi sau Công nguyên, nhà Đông Hán xâm lược nước ta, chúng thi hành nhiều chính sách tàn bạo để vơ vét của cải. Trong hoàn cảnh đó, Hoàng Đạo đã chiêu tập dân binh ba thôn Hạ Hiệp, Hiệp Lộc, Yên Dục để tập luyện võ nghệ nhằm chống lại quân Hán. Khi Hai Bà Trưng nổi dậy khởi nghĩa, Hoàng Đạo đã đưa dân binh của mình hưởng ứng và trở thành một danh tướng. Sau ba năm nước nhà được độc lập, đến năm 42, vua Hán sai Mã Viện đem hai vạn quân sang xâm lược nước ta lần nữa.

Hai Bà Trưng cùng các bộ tướng dũng cảm chống trả nhưng thế lực không cân nên đã thất trận, tuẫn tiết ở cửa sông Đáy. Hoàng Đạo phải đưa quân theo hạ lưu sông Đáy về lập căn cứ ở Hạ Hiệp nhằm tiếp tục kháng chiến. Rồi đến ngày mười hai tháng ba, ông đã hi sinh ở ngoài bãi sông Đáy, làng Hạ Hiệp. Sau này, kẻ Hiệp dựng thành quán thờ ông nằm ngay chỗ ông mất, gọi là quán Hiệp. Và ba làng Hạ Hiệp, Hiệp Lộc, Yên Dục đều tôn thờ ông làm Thành hoàng. Ngoài nơi thờ chính ở quán Hiệp, kẻ Hiệp còn dựng đình (đình Hạ Hiệp) để thờ vọng. Hằng năm, nhằm ngày ngài hóa, dân làng Hạ Hiệp mở hội long trọng để tưởng nhớ công đức của ngài.

Đình Hạ Hiệp nằm ở giữa làng, tọa lạc trên một khu đất đẹp, rộng khoảng ba nghìn mét vuông, nhìn về hướng Tây Nam. Ngôi đình này có từ lâu đời nhưng căn cứ vào phong cách nghệ thuật trên những đường nét kiến trúc cùng các đạo sắc phong của các triều đại phong kiến, người ta có thể xác định các hạng mục công trình đang tồn tại được làm vào khoảng từ thế kỷ XVII trở về trước. Nhìn tổng thể đình Hạ Hiệp có đầy đủ các hạng mục tiêu biểu của một ngôi đình làng Việt cổ ở Bắc Bộ như: Nghi môn (có hai Nghi môn: một ở trước tòa Tiền tế, cửa này mang ý nghĩa tượng trưng bởi đường qua lại đã bị bịt kín; một nằm phía bên trái Đại đình); Tả vu, Hữu vu (hai nhà nhỏ ở bên sân, vây quanh khu đình) Tiền tế (hình chữ nhật, ba gian hai chái, hai tầng tám mái kiểu chồng diềm, dựng trên bốn hàng chân cột hình vuông, hai hàng cột cái bằng gỗ, hai hàng cột quân bằng đá); Đại đình (có ba gian hai chái nhưng mỗi chái có kích thước lớn như một gian, dựng trên nền nhà hình chữ nhất, xưa vốn là đình sàn, nay không còn sàn nhưng dấu vết các lỗ mộng đỡ các thanh xà để lát ván sàn vẫn còn hiện diện trên các thân cột gỗ lim); Hậu cung (nơi đặt bài vị Thành hoàng, có hai gian, làm vuông góc với Đại đình tạo thành chữ Đinh, xây kiểu tường hồi bít đốc). Ngoài ra, đình còn có hồ bán nguyệt và hai bể cảnh bằng đá, thân bể chạm nổi các hình long cuốn thủy, hoa sen, sóng nước..., bể có ghi niên đại Gia Long XV (1816).

3.jpg
6.jpg
4.jpg
Với những nét chạm khắc tinh xảo, đình Hạ Hiệp giống như một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc dân gian.

Đến với ngôi đình này, ngoài được ngắm nhìn các công trình cổ kính với những mái ngói, đầu đao vút cong, uyển chuyển như hàng trăm ngôi đình khác ở đồng bằng Bắc bộ, chúng ta còn được chiêm ngưỡng một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc dân gian với nhiều tác phẩm thuộc các đề tài khác nhau rất sống động, qua đó hiểu thêm về cuộc sống lao động cùng những triết mỹ của ông cha thời trước. Những tác phẩm nghệ thuật ở đình Hạ Hiệp được tập trung nổi bật trong các hình ảnh đắp bằng vôi vữa và chạm khắc bằng gỗ. Thế giới nghệ thuật bằng vôi vữa là những hình chim phượng, những con nghê, đèn lồng trên các trụ hoa biểu ở Nghi môn. Ngắm nhìn chim phượng với chiếc đuôi uốn lượn bay bổng lên không trung người ta như thấy một bầu trời cao rộng mênh mông. Chiêm ngưỡng cặp nghê chầu gắn những mảnh sứ rất đẹp người ta nghĩ đến những loài linh vật vừa trung thành vừa uy lực.

Nếu như nghệ thuật trang trí bồi đắp bằng vôi vữa được thể hiện tập trung trên các Nghi môn thì nghệ thuật đục chạm được hiện hình trên các bức cốn, cây kẻ, đầu dư, xà nách, giá chiêng, ván gió, ván nong, con rường, vì nóc… bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng, chạm kênh bong… rất đặc sắc. Trong thế giới điêu khắc này người ta thấy có ba đề tài: đề tài về động vật, đề tài cây cối và đề tài về con người.

Đề tài về động vật có những hình ảnh tứ linh (long, ly, quy, phượng) và hình ảnh các con vật thường thấy trong cuộc sống hằng ngày (voi, ngựa, trâu, gà, thạch sùng, cá, lợn, ngựa, hổ…). Ở những đề tài này, nổi bật lên là những con rồng được chạm khắc công phu, theo một phong cách rất độc đáo: có con mình trơn hoặc mình vảy với chiếc miệng há rộng để lộ hai hàm răng lớn; có con đang cuộn mình; có con oai vệ giơ hai chân trước ra nắm lấy bộ râu; có con lại đưa hai chân sau tỳ vào cây cột như muốn vươn mình bay ra; có con miệng loe ra, môi rất dày, mắt tròn lồi to, đao mác, đuôi cá chép, thân tròn, cuộn khúc như vẫn đang trong tư thế bơi dưới nước; có con đầu lớn, tai thú, cằm bạnh ra, miệng rộng, mắt lồi; có con con rồng lớn cùng bầy rồng nhỏ và những con thạch sùng làm thành rồng ổ.

Ngoài chạm khắc rồng còn có chạm khắc chọi trâu với hình ảnh con trâu mập mạp đang cúi xuống, ngoắc đầu giao chiến với vẻ dữ tợn; chạm khắc cưỡi voi với những cặp ngà dài, vòi to; chạm khắc hai con hổ được đục trong tư thế như đang rình mồi với bắp thịt cuộn lên, nằm ép sát đất, hai chân trước co lại trước ngực vừa như đang phủ phục vừa như đang sẵn sàng tấn công.

Đề tài về thực vật không nhiều, nổi bật lên là hình ảnh hoa sen trong bức chạm thiếu nữ tắm hồ sen và một vài bông hoa cúc hướng dương tượng trưng cho mặt trời được đục chạm thủng trên vì nóc.

Sinh động nhất có lẽ là những tác phẩm điêu khắc về người. Đó là hình ảnh mười hai vũ nữ thiên thần gợi lên bóng dáng của các cô thôn nữ với khuôn mặt bầu bĩnh, thân hình uyển chuyển, thon thả; chạm khắc “mả táng hàm rồng” với hình ảnh người nông dân mình trần, đóng khố, tay trái vanh hàm trên con rồng lớn, tay phải đẩy một cỗ quan tài vào; chạm khắc “người cưỡi hổ” với hình ảnh người đàn ông miệng rộng, tai lớn, đôi chân kẹp chặt mạng sườn con hổ; chạm khắc “đấu vật” với cảnh người mình trần, đóng khố, khuôn mặt tươi tỉnh đang múa võ; chạm “uống rượu” với hình ảnh hai đàn ông vận áo dài, đầu đội mũ tròn ôm sát đầu đang ngồi đối ẩm bên mâm bồng cao; chạm khắc “đánh cờ” với hình ảnh hai người đàn ông vận áo dài, ống tay áo rộng, đội mũ che kín tai và gáy như thể không màng tới thế sự; chạm khắc “cưỡi ngựa” với những hoạt cảnh vinh quy bái tổ hay cảnh hai người đàn ông đang cưỡi ngựa phi nước đại; chạm khắc “ôm gà đi chọi” với hình ảnh ba người đàn ông ôm một chú gà đang xếp hàng để đi vào xới, phía sau họ là một tốp người đang hò reo, cổ vũ rất vui.

Có thể nói, thông qua nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, các nghệ nhân không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ trong xã hội mà còn thể hiện những khát vọng về mưa thuận gió hòa, cuộc sống may mắn. Ngoài các giá trị về nghệ thuật, đình Hạ Hiệp là một trong số ít những ngôi đình còn bảo tồn được khá đầy đủ các hiện vật cổ xưa như: kiệu gỗ, hòm sớ, sắc phong, bia đá, đồ thờ... Đây là những cổ vật rất có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa của dân tộc.

Với những giá trị to lớn về lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, năm 2000, ngôi đình duyên dáng với những nét xưa bên bờ sông Đáy đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long
    Trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đền Bạch Mã (trấn Đông) cùng với đền Voi Phục (trấn Tây), đền Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc) được biết đến là “Thăng Long tứ trấn”, biểu tượng cho đời sống tâm linh chốn Kinh kỳ. Là ngôi đền trấn giữ phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã được định vị ở phía Nam sông Tô Lịch trên bản đồ Hồng Đức thế kỷ XV, gần cửa sông Tô đổ ra sông Nhị (sông Hồng), thuộc phường Giang Khẩu. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long, nay tọa lạc ở địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Ngựa trong tâm thức dân gian của người Việt
    Trong kho tàng di sản vật thể và phi vật thể của người Việt, ngựa là một trong những con vật mang nhiều giá trị thực dụng nhất là trong trận mạc nhưng cũng là một con vật thiêng gắn bó sâu sắc với tâm thức người Việt.
  • Khám phá Tết xưa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
    Sáng 6/2/2026, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình trải nghiệm văn hóa “Khám phá Tết xưa” thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên và các gia đình tại Hà Nội.
  • Hà Nội có 14 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký quyết định công nhận 30 bảo vật quốc gia đợt 14, gồm nhiều hiện vật cổ quý giá, Hà Nội có 14 hiện vật được công nhận đợt này.
  • Việt Nam gửi hồ sơ đề cử Khu di tích Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đồng ý gửi Hồ sơ khoa học “Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, tỉnh An Giang” tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) để đề nghị công nhận và ghi vào Danh mục Di sản thế giới.
  • Khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long
    Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương đã ký Quyết định số 51/QĐ-BVHTTDL ngày 10/1/2025 về việc cho phép khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Căn phòng mùa xuân
    Từ xa xôi xuân sải cánh, rồi bước gần và thong dong trở lại. Xếp 4 mùa ấm lạnh đã qua để đón mùa xuân, đón Tết thật bâng khuâng, có khi là nuối tiếc, lại có khi là mong xuân ùa ập vào khuôn cửa...
  • Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long
    Trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đền Bạch Mã (trấn Đông) cùng với đền Voi Phục (trấn Tây), đền Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc) được biết đến là “Thăng Long tứ trấn”, biểu tượng cho đời sống tâm linh chốn Kinh kỳ. Là ngôi đền trấn giữ phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã được định vị ở phía Nam sông Tô Lịch trên bản đồ Hồng Đức thế kỷ XV, gần cửa sông Tô đổ ra sông Nhị (sông Hồng), thuộc phường Giang Khẩu. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long, nay tọa lạc ở địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • [Infographic] Làng nghề Hà Nội: Điểm đến hấp dẫn dịp Tết Nguyên đán
    Mỗi dịp Tết đến, xuân về, bên cạnh các điểm du lịch quen thuộc trong nội đô, nhiều làng nghề truyền thống của Hà Nội trở thành lựa chọn được đông đảo người dân và du khách tìm đến. Không chỉ đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, các làng nghề còn mang đến không gian trải nghiệm văn hóa, góp phần quảng bá giá trị di sản của Thủ đô.
  • Hà Nội treo cờ Tổ quốc chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026
    Chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, UBND Thành phố đề nghị các cơ quan, đơn vị, bệnh viện, trường học và Nhân dân treo cờ Tổ quốc từ ngày 14/02/2026 đến hết ngày 21/02/2026.
Đừng bỏ lỡ
Đình Hiệp - nét xưa bên dòng sông Đáy
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO