Аọc tiểu thuyết lịch sử­ để lấy lại niửm tin

TTVH| 24/02/2011 10:07

(NHN) Tiểu thuyết luôn là  giấc mộng của con người. Nếu cả nửn văn học là  một hơi thở thổi suốt từ quá khứ đến tương lai thì tiểu thuyết là  dòng cảm xúc chủ đạo, mãnh liệt nhất, liên tục nhất của hơi thở ấy.

Nhà  văn Nguyễn Quang Thân: Аọc tiểu thuyết lịch sử­ để lấy lại niửm tin

Với dân tộc ta, có thể nói lịch sử­ ngà n năm trở lại đây là  lịch sử­ của chiến tranh giải phóng. Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên, câu thơ rất hay của thi sĩ Hoà ng Cầm nói vử giấc mơ hòa bình mà  cha ông và  cả chúng ta ngà y nay luôn mong đợi trong hồi hộp và  thấp thoáng.

Tiểu thuyết luôn là  giấc mộng của con người. Nếu cả nửn văn học là  một hơi thở thổi suốt từ quá khứ đến tương lai thì tiểu thuyết là  dòng cảm xúc chủ đạo, mãnh liệt nhất, liên tục nhất của hơi thở ấy. Bởi vì dân tộc có một lịch sử­ cam go như vậy nên tiểu thuyết Việt Nam xưa và  nay đửu mang cảm xúc và  cảm hoà i lịch sử­. Lịch sử­ không níu giữ, không là m chậm chân chúng ta bước tới tương lai mà  ngược lại giữ cho chúng ta không lạc đường, không nản chí và  gục ngã trên đường thiên lý lắm cam go và  thử­ thách do vị trí địa chính trị định mệnh của dân tộc.

Nghiêm túc mà  nói, tuy chưa có tác phẩm đặc biệt thà nh công, nhưng tiểu thuyết vử lịch sử­ và  chiến tranh vẫn là  dà n bè trầm của văn học tiếng Việt. Nếu chỉ kể từ Hoà ng Lê Nhất Thống chí, chúng ta có nhiửu tiểu thuyết lịch sử­ giá trị trước Cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám, tiểu thuyết lịch sử­ luôn có chỗ đứng vững và ng trong văn học trước ngà y thống nhất đất nước và  sau đó là  văn học hậu chiến. Vấn đử không chỉ là  tiểu thuyết lịch sử­ và  chiến tranh luôn được coi trọng mà  ở chỗ đó là  sự quan tâm khôn nguôi của nhiửu thế hệ người đọc. Lớp nhiửu tuổi tìm lại mình và  tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục là m ấm lại cảm xúc với lý tưởng của một thời đã qua trong tiểu thuyết. Lớp trẻ hơn, bao gồm cả học sinh sinh viên, không phải đọc tiểu thuyết lịch sử­ để biết lịch sử­ (điửu nà y đã có nhà  trường với sách giáo khoa và  nhiửu loại hình kể chuyện, giáo dục lịch sử­ của thông tin đại chúng), mà  để lấy lại niửm tin và o những gì đang chới với, đang thấp thoáng như giấc mơ trong não trạng của những thế hệ chưa từng biết, từng qua chiến tranh nhưng lại đang cảm thấy sắp sử­a phải đi tiếp con đường gian nan không kém cha ông để thực hiện giấc mơ hòa bình. Người đọc và  tác giả gặp nhau đã nuôi dườ¡ng lâu bửn cảm xúc và  sự trường tồn của tiểu thuyết lịch sử­ và  chiến tranh.

Theo tôi hiểu, những gì đã qua đửu thuộc vử lịch sử­. Nhưng lịch sử­ còn là  cuộc sống đã qua của nhân dân, của mỗi con người trong những cơn biến động, truân chuyên của xã hội. Аã có những cuốn sách hiếm hoi vử đử tà i nà y được xuất bản một cách rụt rè. Nhưng lịch sử­ thì vẫn còn đó và  sớm hay muộn, nguồn cảm hứng của những đử tà i hiện nay còn thuộc loại nhạy cảm nà y vẫn tiếp tục được viết ra và  người ta hy vọng sẽ có những tác phẩm thà nh công, đưa lại bức tranh hoà n chỉnh của lịch sử­ mà  người đọc hiện nay và  tương lai đòi hửi.

Tôi không đánh giá cao những cuốn sách đồ sộ viết vử lịch sử­ từ triửu nà y đến triửu khác. Thực ra là  đó là  những cuốn sách kể chuyện lịch sử­ - tất nhiên cũng rất có ích vì đã bổ sung được ít nhiửu những gì sách giáo khoa chưa là m được - nhưng chưa phải là  tiểu thuyết lịch sử­ đích thực. Tiểu thuyết viết lịch sử­ chứ không phải kể lịch sử­ như quan niệm của GS Hoà ng Ngọc Hiến. Những cuốn tiểu thuyết lịch sử­ hay không cung cấp sử­ liệu, sử­ cứ mà  cho độc giả một cái nhìn, một cách sống, một hướng đi được kiểm chứng qua lịch sử­. Và  cả văn chương hay nữa chứ!

Nhà  phê bình Phạm Xuân Nguyên: Có một tiểu thuyết gây kinh ngạc, thán phục

Ngay trong những ngà y cuối năm 2010 có một cuốn tiểu thuyết vừa ra đời mà  tôi tin ai đọc cũng sẽ kinh ngạc và  thán phục. Аó là  Những ngã tư và  những cột đèn của Trần Dần. Bản thảo tiểu thuyết nà y được viết năm 1966, sau khi ông Dần được một cơ hội đi thực tế trại giam theo yêu cầu của bên ngà nh công an để viết vử những người ngụy quân thời Pháp.

Chuyện đi thực tế nà y là  một việc phổ biến trong sáng tác văn học của nước ta và  kết quả sau mỗi lần đi như thế là  những cuốn sách được viết và  in ra mà  số phận của chúng thế nà o thì ai cũng biết. Trần Dần thì không thế. à”ng viết tiểu thuyết là  viết tiểu thuyết. Gần nử­a thế kỷ trước mà  viết hiện đại, sâu sắc, xuất sắc như Những ngã tư và  những cột đèn thì chỉ có Trần Dần, và  chỉ Trần Dần.

Аặt cuốn sách nà y bên cạnh các tiểu thuyết của ta mười năm qua, lấy nó như một điểm nhìn quy chiếu, mới thấy các nhà  tiểu thuyết của ta lạc hậu rất nhiửu, rất xa. Аọc cuốn của Trần Dần để thấy xấu hổ, một sự xấu hổ cần thiết để đổi mới và  phát triển nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam. Chúng ta đã biết nói trong văn học nghệ thuật cái chính không phải là  viết cái gì, mà  viết thế nà o, nhưng chúng ta còn thiếu sự quyết liệt để thực hiện điửu nói đó.

Văn học Việt Nam rất ít tiểu thuyết, nhiửu cái gọi là  tiểu thuyết, và  chủ yếu là  truyện kể. Cần phải quyết liệt và  táo bạo hơn nữa trong sự thực hà nh đổi mới thi pháp tiểu thuyết. Ở đây, các nhà  văn trẻ phải dấn thân, và  dám biết hy sinh cho những thực nghiệm nghệ thuật.

Nhà  văn Nguyễn Bình Phương: Viết là  để tận trung với cảm quan của mình

Tôi không được đọc hết những tiểu thuyết đã in ra trong vòng chục năm qua, nên cũng không dám nói cho tất cả. Căn cứ và o những cuốn đã đọc thì quả tình tôi chưa thấy hà i lòng, mặc dù có sự phong phú, mạnh bạo. Còn thiếu cái gì đó, như sự chối bử, một đoạn tuyệt triệt để. Chủ yếu vẫn là  những câu chuyện kể, theo giọng nà y, giọng kia, có đầu, có cuối. Аại khái là  rất ngoan ngoãn. Tuồng như tác giả sợ sự đứt đoạn, sự rối loạn, một đặc điểm của thời đại nà y. Tuồng như khi viết, tinh thần cố gắng vơ lấy độc giả đã đánh nhịp chính trong tác phẩm của một và i tác giả.

Với riêng tôi, cho rằng bản thân thể loại tiểu thuyết đã mặc định trong nó một khoảng thẳm khiến tất cả các sự vật xoay quanh nó và  độc giả phải chết lặng đi. Nhưng những tác phẩm đã in ra, trong vòng chục năm gần đây mới chỉ manh nha, hơi hướng có điửu ấy, còn những tiểu thuyết trước đó nữa thì tịnh không có bóng dáng. Có lẽ đấy chính là  nguyên nhân là m cho tiểu thuyết chưa đạt tới độ ghê gớm cần thiết của nó. Xin nhấn mạnh rằng đây chỉ là  cảm nhận cá nhân của riêng tôi, nó đầy chủ quan và  có thể sai.

Công bằng mà  nói, đòi hửi thà nh công ngay tức thì đối với một tác giả tiểu thuyết thì hơi khó. Với tác giả viết truyện ngắn, anh ta có thể thà nh công ngay lập tức, có thể tiến tới hoà n thiện sự nghiệp của anh ta trong thời gian rất ngắn, tựa như cái cây trong một đêm có thể hoà n thà nh công đoạn trút toà n bộ lá của mình. Nhưng với người viết tiểu thuyết thì khác, đó là  công đoạn của cây mọc lá. à‚m thầm, chậm rãi, nảy một cái chồi, rồi lá non, sau đó thà nh lá xanh. Phải tới lúc nà o đó, cái cây mới đạt độ xanh lá đúng nghĩa của mình, và  sự nghiệp của người viết tiểu thuyết là  như thế. Không cuồng loạn, không gấp gáp.

Có một điểm dễ nhận thấy nhất: so với những tiểu thuyết viết trong thời kử³ đổi mới, các tiểu thuyết thời gian gần đây tỉnh táo, sắc lẹm, giá băng hơn, trong cách nhìn nhận, mổ xẻ xã hội. Theo tôi, đây là  tín hiệu đáng mừng, vì văn học đã dần dần là  văn học theo cái nghĩa nhà  văn là  kẻ tách rời ra để nhìn nhận vấn đử thấu đáo hơn. Аến giử, tôi thấy tiểu thuyết đang hứa hẹn đầy ẩn số hơn thơ và  truyện ngắn.

Mỗi nhà  văn là  một trường hợp cá biệt, không thể dẫn dụ nhau. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ cách duy nhất là  từng người hãy viết và  viết, dẹp bử những rà o cản, những lấn cấn sang bên. Viết như không phải để in mà  để tận trung với cảm quan của mình. Sau đó, việc còn lại là  của... ai đó.

(0) Bình luận
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Minh Hiền
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Minh Hiền.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Về nhà
    Chị xuất khẩu sang Đài Loan lao động hơn chục năm. Khi chị đi, đứa con trai duy nhất mới tròn bảy tuổi. Năm nay, thằng bé đã mười chín. Nó có cái tên rất bắt tai, vừa nghe thôi cũng đủ khiến người ta tấm tắc bố mẹ nó khéo đặt thế! Hào Kiệt!...
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Một Hà Nội bình yên lung linh trong ký ức
    “Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội” giai điệu của bài hát đang ngân vang trong tâm khảm sau lời của cô con gái nhỏ trên xe rời Thủ đô ngàn năm tuổi: “Hè năm sau mẹ lại cho con thăm Hà Nội nhé”. Trong câu nói vô tư của con có nhắc đến từ “thăm” khiến tôi chú ý. Hóa ra, Hà Nội đâu chỉ đẹp, đâu chỉ gây thương nhớ cho một người từng đặt chân rất nhiều lần đến trái tim cả nước như tôi. Mà Hà Nội còn rất biết cách “lấy lòng” những du khách nhí giống như cô con gái 9 tuổi của tôi bây giờ.
  • Nhớ những hàng hoa
    Nếu hỏi bất kỳ ai rằng: Điều gì đã tạo nên nét riêng của Hà Nội, mang đậm màu sắc của mảnh đất này, thì có lẽ đó không phải là những thứ to lớn nguy nga, mà là những gì xưa cũ, hoặc bình dị, tự nhiên như hơi thở cuộc sống. Nếu hỏi bất kỳ ai - dù là người Hà Nội hay du khách đến tham quan - cái gì đặc trưng và gây ấn tượng ở Hà Nội, câu trả lời chắc có nhiều thứ, và trong những thứ ấy có hàng hoa rong trên phố.
Đừng bỏ lỡ
Аọc tiểu thuyết lịch sử­ để lấy lại niửm tin
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO