Chuyện bếp núc một thời

Hanoimoi| 07/06/2022 09:47

Bây giờ, người dân ở thành phố cũng như nhiều vùng nông thôn đã dùng bếp từ, bếp ga để nấu nướng hằng ngày. Nhưng ký ức về bếp củi, bếp dầu gắn bó với mọi gia đình một thời gian khó có lẽ sẽ theo người ta đến suốt cuộc đời…

Chuyện bếp núc một thời
Xếp hàng mua chất đốt thời bao cấp. Ảnh: Tư liệu

Một hôm, đám bạn học cũ, nay đều đã ở tuổi ông bà, rủ nhau đi chơi xa. Buổi tối ngồi bên nhau, có ánh lửa bập bùng và vị thơm ngai ngái, nồng ấm của củi khô, câu chuyện của chúng tôi lại quay trở về cái thuở trong veo.

Ngày ấy, đi học về là đứa nào đứa nấy lao ngay vào bếp nấu cơm cho nhanh, chiều phụ giúp gia đình bóc vỏ lạc, đập vỏ hạt trẩu lấy nhân cho nhà máy ép dầu... Ở nơi sơ tán, chúng tôi đun bếp bằng rơm rạ, lá tre, lá sắn, tàu chuối già đã phơi nỏ. Trở về thành phố lại nấu bằng củi phân phối theo phiếu chất đốt. Hằng tháng, mỗi gia đình được mua 10kg củi. Chừng ấy làm sao đủ cho 30 ngày nấu cơm và các nhu cầu sinh hoạt khác?

Vậy là cái bếp lò bằng sắt tây nhồi mùn cưa ra đời. Cái lò có đường kính khoảng 30cm, ở giữa đặt một chai thủy tinh nhỏ rồi nhồi mùn cưa chặt đến miệng. Khi rút chai ra, khoảng rỗng sẽ hút không khí từ cửa lò lên và chỉ việc nhóm mồi cho mùn cưa bắt lửa. Thế mà đôi tay tuổi 11 của tôi nhồi mùn cưa không chặt, lò bị sụt, mùn cưa rơi lả tả theo chai thủy tinh khi rút ra khiến tôi khóc dở mếu dở. Hôm nào mùn cưa ẩm thì nước mắt nước mũi thi nhau giàn giụa mà lò chả buồn cháy. Mẹ thương tôi, vỡ đám đất hoang trước dãy nhà bốn tầng, gieo hạt điền thanh. Mấy tháng sau đã có thân cây làm củi. Ba nửa viên gạch vỡ là đủ làm ông đầu rau bắc nồi nấu cơm, chả cần kiềng sắt.

Một dụng cụ không thể thiếu trong mỗi gia đình lúc bấy giờ là dao rựa to bản để chặt và chẻ củi. Nhà nào cũng phải sắm con dao rựa thật sắc. Ngoài việc chẻ củi được phân phối theo phiếu chất đốt thì còn để chẻ những vật dụng đã cũ, hỏng như chạn, ghế đẩu... Các làng quê ở vùng bán sơn địa lại càng cần dao rựa để trẻ con một buổi đi học, một buổi kiếm củi cho cả gia đình chống rét mùa đông và nấu bếp hằng ngày.

Còn ở đồng bằng, dao rựa cần nhất cho việc chẻ gộc tre, chặt cành cây bị sâu đục làm củi. Nhớ dáng ông tôi lui cui bổ gộc tre chống rét. Trấu đổ quanh gộc tre giúp lửa cháy đượm và thơm. Những hôm tát ao, bắt được nhiều cá đồng béo múp đầu, vẩy vàng óng ánh, bác tôi kho cá với tương, ớt, riềng bằng cách vùi nồi đất xuống tro bếp, rắc trấu xung quanh, mồi cho lửa than trấu âm ỉ cháy, om cá cả đêm. Nồi cá om ấy đúng là đặc sản của đồng quê.

Cuối những năm 70 của thế kỷ trước, các gia đình công nhân, viên chức ở nội thành chuyển từ bếp đun củi sang bếp dầu. Bếp rất đơn giản với bình dầu chứa 1 lít dầu hỏa, 6 bấc hút dầu lên mặt bình; nút vặn bấc điều chỉnh lửa to - nhỏ; ba trụ sắt tròn nhỏ, đường kính 0,5cm gắn vào ba góc bình để đặt nồi. Đơn sơ vậy nhưng bếp dầu đã giúp các bà nội trợ nấu nướng đỡ vất vả hơn. Sau này, bếp dầu được cải tiến thành 9 bấc, rồi 12, 16 bấc, có nắp tròn úp xuống thân bếp để giữ nhiệt... Đẹp nhất là bếp dầu Thăng Long hình tròn, có lớp tráng men màu ngọc, bình chứa được 2 - 3 lít dầu. Dầu hỏa cũng phải xếp hàng mua theo phiếu chất đốt. Khổ nhất là mua phải dầu hỏa chất lượng kém. Dầu có màu vàng nhạt, khi đun dễ bị thối bấc. Thế nên nhà nào cũng phải có một bộ bấc dự trữ, nếu bấc không cháy là thay ngay kẻo cơm sống. Những gia đình đông con hoặc có nghề nấu ăn, làm bún, phở, bánh… vẫn duy trì lò than quả bàng cho rẻ và tiện.

Chuyện bếp núc một thời
Chiếc bếp dầu thân quen thời bao cấp.

Bếp dầu là một bước cải tiến kỹ thuật so với bếp củi và tiện lợi cho việc nội trợ. Tôi có thể vừa nấu cơm vừa ôm cuốn truyện yêu thích ra đọc trong khi chờ cơm sôi. Có hôm mải đọc, suýt làm cháy chảo đậu rán. Đến thời sinh viên, giai thoại “tình yêu bếp dầu” là có thật ở một số ký túc xá. Nhà bếp phục vụ đám sinh viên thường quá tải. Một số nữ sinh có sáng kiến kiếm bếp dầu mang về phòng, tự nấu nướng, cải thiện bữa ăn. Một ngày, chàng của nàng xuất hiện và ăn cùng. Ri đô được kéo ra cho kín đáo. Ôi chao, “tình yêu bếp dầu” nên thơ một thời gian khó như thế. Mãi đến những năm cuối của thế kỷ XX, bếp ga dần thay thế bếp dầu, rồi bếp điện từ thay thế bếp ga... Công việc bếp núc mới bắt đầu trở nên nhàn nhã, sạch sẽ hơn.

Chiều nay, ngó mưa đầu hạ sầm sập, tôi lại ước có củi để rang nắm ngô trên chảo gang. Hoa ngô nở đều, trộn mật mía thật nhanh tay rồi đổ ra sàng. Với chúng tôi, thế hệ đội mũ rơm đi học, ăn ngô khoai sắn thay cơm, bếp lửa đã gắn với vai áo nâu bạc của bà mỗi sớm mỗi chiều, như nhà thơ Bằng Việt đã viết: “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi/ Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui/ Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ/ Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”...

(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Về nhà
    Chị xuất khẩu sang Đài Loan lao động hơn chục năm. Khi chị đi, đứa con trai duy nhất mới tròn bảy tuổi. Năm nay, thằng bé đã mười chín. Nó có cái tên rất bắt tai, vừa nghe thôi cũng đủ khiến người ta tấm tắc bố mẹ nó khéo đặt thế! Hào Kiệt!...
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy khả năng sáng tạo và tình yêu văn học, nghệ thuật cho học sinh Thủ đô
    Chiều 12/8, tại Nhà Văn hóa xã Đông Anh (Hà Nội), Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình tổng kết Đề án Sân khấu học đường tại các trường THCS, THPT Hà Nội năm 2026, đánh dấu việc hoàn thành các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, workshop và thực hành biểu diễn dành cho giáo viên, học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố.
  • Hà Nội đẩy mạnh hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp
    Trong chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp, Thành phố Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 có 70% học sinh THPT được định hướng và 90% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp, hướng tới đạt 100% ở giai đoạn 2031 - 2035.
  • Lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội
    Triển khai Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, Thường trực Thành ủy Hà Nội yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiếp tục phát huy những kết quả, nền tảng đã đạt được trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương thức quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và phạm vi lan tỏa của đổi mới sáng tạo trong đời sống xã hội.
Đừng bỏ lỡ
Chuyện bếp núc một thời
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO