Sức mạnh chiến thắng của cuộc trường chinh

Anh Ngọc| 11/04/2022 08:45

Chính Hữu
Duyệt binh 
Đồng chí thương binh,
Trên đôi nạng gỗ,
xem mười lăm năm lịch sử (1)
đang xếp thành đội ngũ
đi đều.
Đồng chí thương binh
tưởng nghe tiếng bước chân mình,
tiếng bước của bàn chân đã mất.
Bàn chân
mười năm
hành quân!
Thăm thẳm Chiềng Lề, Khâu Vác, Pha Đin...
Đâu quê hương là bàn chân bước đến.
Có gặp những người
đã để lại một phần thân thể
gửi làm hoa lá cỏ cây
trên mảnh đất này,
mới hiểu được tâm hồn tiếng trống hôm nay,
mới hiểu được
vì sao những lá cờ bay
theo nhịp bước,
vì sao những chân đi làm rơi nước mắt.
Với những anh hùng hôm qua chân đất,
Cả nước hành quân theo xe đại bác.
Đồng chí thương binh
tưởng nghe tiếng bước chân mình
tiếng bước của bàn chân đã mất,
trong tiếng nhạc,
Này nghe: Mười lăm năm hùng vĩ tiến trên đường,
Gió núi mưa ngàn những đêm hành quân.
(1961)
---------------------
(1)1960: Kỷ niệm 15 năm thành lập nước Việt Nam 
Dân chủ Cộng hòa.

Thơ viết trong và liền sau cuộc kháng chiến chống Pháp thường nghiêng về phía tình cảm như: Tố Hữu, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung... Có lẽ đó cũng là thần thái chung của cả một dân tộc trong những ngày trăng mật của cách mạng, khi những tình cảm tự nhiên của con người vừa được giải phóng liền bột phát cất lên, vô tư, hồn nhiên, chưa kịp lắng lại để suy tư, nghiền ngẫm. Tuy nhiên, ít ra có hai nhà thơ Nguyễn Đình Thi và Chính Hữu đã sớm đặt chân sang mảnh đất thứ hai: “không chỉ duy cảm mà còn duy lý”, nhất là với bài Duyệt binh của Chính Hữu.
Duyệt binh là hành vi có tính nghi thức, nhằm biểu dương sức mạnh toàn diện của một đạo quân, một lực lượng. Thường thì, chỉ cần chú mục vào miêu tả vẻ đẹp oai hùng ấy thì cũng đã có thể viết được một bài thơ cuốn hút.  Chính Hữu không đi theo con đường quen thuộc, tầm suy nghĩ sâu sắc, tài nắm bắt bản chất của hiện tượng qua những chi tiết ngỡ như không đâu đã giúp ông “chộp” được một tứ thơ độc đáo, mà nếu táo gan tôi có thể chắc chắn là ông phải sướng run lên khi phát hiện ra nó: Mô tả vẻ đẹp của một cuộc duyệt binh trong đó hình ảnh bước chân đi đều tăm tắp vốn chiếm vị trí then chốt mà lại thông qua một bàn chân đã mất của người thương binh đang chống nạng đứng trong đám người xem vô danh! Với một tài năng vốn thâm hậu, có thừa trí lực và bản lĩnh làm chủ ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu như nhà thơ Chính Hữu thì bài thơ dễ thường đã đạt đến độ toàn bích.
Trước hết, con người kỹ tính này đã không chịu bỏ sót một ý tưởng nhỏ nào mà tứ thơ cho phép: Những bàn chân đang nện bước vang lừng trên mặt quảng trường kia sẽ chẳng là gì nếu không để tượng trưng cho vô số những bàn chân vô hình đã làm nên sức mạnh chiến thắng của cuộc trường chinh của dân tộc. Mà tiêu biểu cho những bàn chân đã làm nên chiến thắng ấy lại không có gì khác hơn là những hy sinh vô giá - những bàn chân, hay nói rộng ra, những phần thân thể đã được hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, được: “gửi làm hoa lá cỏ cây/ trên mảnh đất này”.
Té ra, người anh hùng thực sự của cuộc duyệt binh kia lại chính là người thương binh đang đóng vai một khán giả vô danh khuất lấp bên lề đường. Và tiếng rầm rập của cuộc duyệt binh hùng tráng cũng chẳng có gì khác hơn là tiếng dội của những “tiếng bước của bàn chân đã mất” - thứ âm thanh mà phải là những người trong cuộc mới đủ sức nghe ra: “Bàn chân/ mười năm/ hành quân”. Từ câu thơ bị ngắt thành những nhịp ngắn, đều đặn như nhịp bước - như từng nhịp bước nhỏ nhoi, ngắn ngủi nhưng nối lại đã thành ra con đường trường chinh vạn dặm với những địa danh hun hút, xa xôi: “Thăm thẳm Chiềng Lề, Khâu Vác, Pha Đin.../ Đâu quê hương là bàn chân bước đến”.
Tiếp đó, tác giả cũng không quên cái ý này - chiến công của những bàn chân ấy không chỉ làm nên một quá khứ hào hùng - mà, còn quan trọng hơn, nó mở ra một hiện tại và một tương lai sán lạn: “Với những anh hùng hôm qua chân đất/ Cả nước hành quân theo xe đại bác”.
Vậy là, đâu chỉ có người thương binh nghe ra “tiếng bước chân mình - tiếng bước của bàn chân đã mất”, mà cùng với anh, cả nhà thơ, cả bạn đọc chúng ta đều cảm nghe được âm thanh âm thầm nhưng dữ dội và thiêng liêng ấy. Và sự cảm thông sâu thẳm đã làm cho tất cả bức tranh hoành tráng trước mắt chợt khoác một màu huyền thoại: Cuộc duyệt binh của con người và vũ khí vốn cũng chỉ là cảnh trí hữu hạn trước mắt bỗng thành ra “mười lăm năm lịch sử/ đang xếp thành đội ngũ/ đi đều”, nó khiến ta: “hiểu được tâm hồn tiếng trống hôm nay/ hiểu được/ vì sao những lá cờ bay/ theo nhịp bước/ vì sao những chân đi làm rơi nước mắt”.
Lối triết lý bật lên từ đời sống cụ thể không hề gây cho ta cảm giác khô khan, bởi đó là thứ tư tưởng đầy sức nặng thuyết phục, chính xác và có sức khám phá. Trước mắt ta, hình ảnh của một cuộc duyệt binh vốn là một hành động có tính hình thức bỗng mang một chiều sâu tâm hồn thăm thẳm, nó khiến ta cảm động đến rơi nước mắt khi nghe tác giả đóng lại bài thơ bằng hai câu dưới dạng mệnh lệnh thức sang sảng như tiếng kèn đồng trước giờ xuất quân hùng tráng: “Này nghe: Mười lăm năm hùng vĩ tiến trên đường/ Gió núi mưa ngàn những đêm hành quân”.
Chính Hữu là một vị tướng cầm đạo quân chữ nghĩa tài ba. Ông biết nguyên lý: Quân không cần nhiều, chỉ cần tinh nhuệ và được điều khiển bởi người tài giỏi. Chỉ trong một bài như bài thơ này, ta thấy ông cùng lúc đã làm được hai việc: Vừa tiết kiệm từ ngữ đến cùng, quyết không cho một con chữ vô bổ lọt vào; vừa sắp đặt các con chữ vào những đội hình tối ưu - lúc chi tiết tỉ mỉ, lúc ôm trùm và bay bổng, lúc thiết tha tình cảm hay khi suy tư triết lý. Tất cả đều bật lên từ những nội lực to lớn; và do vậy, mạch thơ đi dài ngắn, mạnh nhẹ, đẩy đưa muôn hình vạn trạng như là để thách thức người đọc, người nghe về khả năng cảm thụ thơ của họ đã đạt đến cấp độ nào. Quả thật, có thể coi Chính Hữu là một trong những nhà thơ có những cách tân thành công nhất của thơ ca sau cách mạng. Trong khát vọng đổi mới thơ ca hôm nay, tấm gương của ông rất đáng cho chúng ta suy ngẫm
(0) Bình luận
  • Cây bút nữ với đề tài chiến tranh
    Trong lịch sử văn học, khi đề cập đến đề tài chiến tranh, phần lớn những gương mặt được ghi dấu trên văn đàn thường là nam giới.
  • Dòng chảy hiện sinh trong thơ hiện đại Việt Nam
    Trong triết học phương Tây hiện đại, chủ nghĩa hiện sinh nổi bật như một cuộc đối thoại sâu sắc với thân phận con người, đặt ra những câu hỏi day dứt về sự tồn tại và mối quan hệ giữa cái hữu hạn - cái vô cùng.
  • Tổ quốc trong sáng tác của các cây bút trẻ
    Trong trái tim mỗi người con nước Việt, bóng hình đẹp đẽ và thiêng liêng, kiêu hùng và nhân hậu chính là Tổ quốc. Tổ quốc rạng ngời trên trang viết của bao thế hệ đi trước, rồi được kế thừa bởi thế hệ trẻ hôm nay. Mỗi tác giả có một cách thể hiện khác nhau về đề tài Tổ quốc, mỗi tác phẩm là một nét vẽ riêng về dáng hình Việt Nam, góp phần hình thành nên diện mạo chung của đất nước tráng lệ và linh thiêng trong văn chương nghệ thuật. Tiếp nối sự thành công và dấu ấn sâu đậm mà những cây bút thời kỳ trước ma
  • “Ngày về” - lời ru giàu cảm xúc về làng quê Việt Nam
    “Ngày về” được mở đầu bằng hình ảnh quen thuộc, dễ nhận thấy nhất của làng quê Việt Nam với những giá trị truyền thống thiêng liêng: “Cây đa, bến nước, sân đình/ Con đường gạch lát nối tình xóm thôn”.
  • “Bay qua Hồ Gươm” - trò chuyện cùng Hà Nội, về Hà Nội
    “Mơ là bồ câu trắng/ Bay qua Hồ Gươm xanh”, tác giả Huỳnh Mai Liên đã bật lên khao khát muốn được trở thành cánh chim nhẹ nhàng và tự do khám phá bầu trời Hà Nội ở cuối bài thơ Bay qua Hồ Gươm (cũng là tên tập thơ). Dường như cũng từ giấc mơ này, nhà thơ đã viết ra những vần thơ kể chuyện dẫn lối người đọc ngắm nhìn Hà Nội từ cao đến thấp, từ xa đến gần.
  • Thơ truyền thống trong thời đại số
    Thơ truyền thống là loại thơ viết theo đúng niêm luật, thường bó buộc trong các thể loại: Lục bát, Đường luật (Nhất, tam ngũ bất luận), song thất lục bát, thơ (bốn, năm, sáu, bẩy, tám) chữ… phải có vần điệu, cấu tứ rõ ràng và ngôn từ là phương tiện để nhà thơ biểu đạt, giãi bày tình cảm, tư tưởng tinh thần của tác giả. Trong thời đại số, thơ truyền thống vẫn được nhiều tác giả tiếp nối nhưng theo một hình thức mới, nội dung mới và nhà thơ không bị giới hạn bởi bất kỳ khuôn phép nào.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Lễ phát động Ngày Tôn vinh tiếng Việt và Cuộc thi Tìm kiếm Sứ giả tiếng Việt
    Ngày 29/3, tại Hà Nội, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao tổ chức Lễ Phát động Ngày Tôn vinh tiếng Việt và Cuộc thi Tìm kiếm Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài năm 2025.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Thiền đào
    Chàng vẫn âm thầm dõi theo những bài viết của nàng và không bỏ sót bất kỳ phóng sự nào về nàng. Đôi mắt nàng khi bảy tuổi hay của bây giờ vẫn vậy. Xoáy xiết, ám ảnh. Nhấn chàng xuống đỉnh vực. Vẫy vùng. Ngộp thở. Toàn thân không trọng lượng. Đôi vực sâu đồng tử đã xoáy chàng đến một nơi quen thuộc. Là dinh đào, khi ấy chàng đang ở tuổi mười ba.
  • Tủ sách Văn hóa Việt của Chibooks sắp có thêm 2 tác phẩm mới
    Công ty Cổ phần Văn hóa Chi (Chibooks) vừa ký kết hợp đồng xuất bản sách với tác giả Đỗ Quang Tuấn Hoàng về việc xuất bản 2 tác phẩm “Việt Nam – Ăn mặc thong dong” và “Ngàn năm trà Việt”. Sách dự kiến sẽ ra mắt độc giả vào tháng 4/2025. Ngoài ấn bản tiếng Việt, sách cũng sẽ được dịch sang tiếng Trung nhằm quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.
  • Khai mạc Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm Ất Tỵ - 2025
    Tối 29/3 (tức mùng 1/3 năm Ất Tỵ), tại Quảng trường Hùng Vương, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Ban Tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2025 đã long trọng khai mạc sự kiện Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm Ất Tỵ - 2025.
  • Đầu tháng 4 sẽ diễn ra lễ hội Then Kin Pang 2025
    Lễ hội Then Kin Pang 2025 được tỉnh Lai Châu tổ chức với quy mô cấp tỉnh, nhằm tôn vinh tín ngưỡng Then và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội còn góp phần kích cầu du lịch, thu hút du khách đến với Lai Châu.
Đừng bỏ lỡ
Sức mạnh chiến thắng của cuộc trường chinh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO