Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến

Bùi Việt Thắng| 31/05/2017 10:24

Ở ta, hiện tượng nhà thơ viết phê bình nay đã không còn hiếm. Không kể lớp tiền nhiệm như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Hoàng Minh Châu,… lớp sau có Vũ Quần Phương, Nguyễn Vũ Tiềm, Mã Giang Lân, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha, Lê Thành Nghị, Đỗ Trung Lai, Khuất Bình Nguyên, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Hữu Quý, Inrasara,... Nhưng hăng hái và sục sôi hơn cả với thơ ca thì Nguyễn Việt Chiến, nếu có thể nói, là số hiếm.

 Năm 2015, Nguyễn Việt Chiến ra mắt liền hai tập thơ ở Nhà xuất bản Phụ nữ “Tổ quốc nhìn từ biển”, “Hoa hồng không vỡ” và một “cẩm nang thơ” (tiểu luận phê bình, tuyển chọn giới thiệu) – “Thơ Việt Nam tìm tòi & cách tân” (1975-2015) do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành (tái bản 2016). Tôi có cái cảm giác Nguyễn Việt Chiến lúc nào trong người cũng sục sôi như có lửa. Cầm cuốn sách anh tặng dày 1.100 trang - có thể coi là một kỷ lục - quả thực là “tâm phục khẩu phục”, mới có cái cảm giác nhà thơ như anh là một “phu chữ” quả cũng không sai. Lao động nghệ thuật như thế trước hết cần được ghi nhận và đánh giá đúng mức.

Nhưng độc giả rồi sẽ hỏi: “Có gì đáng quan tâm trong tập sách dày đến cả hơn nghìn trang?”. Có đấy, xin thưa, rất nhiều chuyện để nói. Trước hết là công phu làm sách. Trong độ dày 1.100 trang có hơn 70 trang do chính tác giả viết gồm 7 tiểu luận về thơ Việt Nam đương đại 1975 - 2015 với một tựa đề lớn: Thơ Việt Nam 40 năm cách tân (Làm quen một cách đọc thơ mới, Lý giải sao đây khi thơ mỗi ngày một ít người đọc, Thơ Việt Nam sau 1975 - Nền và đỉnh, Đổi mới thơ để tồn tại, Những nẻo đường thi ca cách tân, Các thế hệ đổi mới của nền thơ đương đại, Xuất hiện một thế hệ thi ca hậu chiến).

Còn lại hơn 1.000 trang dành cho việc giới thiệu và tuyển chọn thơ của 69 tác giả được Nguyễn Việt Chiến coi là đã có công góp vào tìm tòi và cách tân thơ Việt Nam giai đoạn 1975 - 2015 (mỗi tác giả có phần bình ngắn gọn, chủ yếu là tuyển chọn một số tác phẩm thơ tiêu biểu). Tuy nhiên, việc tuyển thơ như điều kiện bây giờ không quá khó khăn về tư liệu. Internet có thể là một trợ thủ đắc lực cho người làm sách. Cuốn sách này nếu được đưa vào các trường học phổ thông và đại học sẽ rất thiết thực với cả người dạy và người học văn với ý nghĩa là một bộ sưu tập (collection) bổ ích.

Tha thiết với tiến trình thơ ca dân tộc thời hậu chiến

  Cuốn sách của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến
Theo dõi sự vận động của thơ Việt Nam sau 1975, độc giả đã được đọc một số công trình có tầm khái quát của Mã Giang Lân (Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại), Vũ Tuấn Anh (Nửa thế kỷ thơ Việt Nam), Phạm Quốc Ca (Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000), Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990), Nguyễn Đăng Điệp (Thơ Việt Nam hiện đại - Tiến trình và hiện tượng), Lưu Khánh Thơ (Thơ và một số gương mặt thơ hiện đại Việt Nam),…Vì đã có cái “nền” tri thức tối thiểu nhưng rất căn bản về thơ Việt Nam hiện đại như thế nên khi tiếp nhận các tiểu luận của Nguyễn Việt Chiến, độc giả dường như không tri nhận thêm được điều gì thật mới mẻ có tính phát hiện trong việc cắt nghĩa hiện trạng thơ sau 1975, đặc biệt là sau Đổi mới (1986). Có chăng cần ghi nhận là một tình cảm tha thiết với  tiến trình thơ ca dân tộc thời hậu chiến, có chăng là cách viết run bật cảm xúc trong đánh giá, bình luận thơ ca đương đại từ góc nhìn của một nhà thơ nhiều thân phận và thành tựu.

Nếu cần ghi điểm cho Nguyễn Việt Chiến ở phần công việc này là ở chỗ anh đã chú tâm theo dõi thơ Việt Nam sau 1975 với tâm thế của người trong cuộc, nói theo cách của Hữu Thỉnh là “làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”. Thật công bằng mà nói thì trong số 7 tiểu luận đã nêu ở trên có 3 tiểu luận tương đối đầy đặn trong nhận định thơ: “Những nẻo đường thi ca cách tân” (10 trang), “Các thế hệ đổi mới của nền thơ đương đại” (16 trang) và “Xuất hiện một thế hệ thi ca hậu chiến” (16 trang). Ba tiểu luận này, theo ý chúng tôi, là “đứng” được trong đó người viết vừa kết hợp “điểm danh” và “cho điểm” từng tác giả cũng như cả thế hệ. Nhân cuộc hội thảo “Thế hệ nhà văn sau 1975” do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức hồi cuối tháng 4 năm 2016, có ý kiến cho rằng trong văn chương không nên quá chú trọng vào “thế hệ” mà nên chú trọng vào những “cá nhân” sáng tạo!? Tôi nghĩ đây là một ý kiến đáng quan tâm.

Lối bình luận hùng hồn của Nguyễn Việt Chiến đôi khi dẫn dụ người đọc, kiểu như: “Thơ mới khó đọc hơn thơ cũ, không chỉ vì năng lượng tư tưởng của thơ cách tân có nhiều dạng thức mới, mà bởi sự chối bỏ vần điệu của thơ tự do khiến cho nhiều độc giả quen thưởng thức thơ có vần điệu thấy khó vào, khó hiểu” (Đề từ), “Nhưng không lẽ, cái khó khăn lớn nhất của việc mở đường, khai phá miền đất mới cho thi ca đã được các nhà thơ làm rồi, còn việc giới thiệu, cổ vũ, luận bàn về cái mới ấy, chúng ta lại cứ e dè, xét nét, ngẫm ngợi mãi sao” (tr. 5). Lối viết hùng hồn như thế dễ “gây hấn” cảm xúc của văn giới. Cũng tốt thôi, tôi nghĩ, đôi khi cũng cần có người gây hấn như thế cho “xôm trò”, cho có không khí trên một mặt bằng văn chương vốn lâu nay được xem là bình lặng, hiền lành quá, nhất là trong lĩnh vực phê bình.

Tha thiết với tiến trình thơ ca dân tộc thời hậu chiến

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến (thứ Tư từ trái qua) được trao Giải thưởng VHNT Thủ đô 2016

Có chuyện để nói đấy, tôi nói thế là có bằng chứng hẳn hoi. Là người nhiệt huyết với nền thơ dân tộc, là người đã cầm bút viết những “vần thơ lửa cháy” như “Tổ quốc nhìn từ biển”, nên anh đem theo cái “lửa cháy” ấy vào phê bình thơ. Phê bình là khen chê hợp lý hợp tình. Nguyễn Việt Chiến, theo tôi, có lối phê bình thơ thường “kê cao” đối tượng lên quá cái mức thực vốn có của nó. Chẳng hạn viết về Trần Dần với những lời “có cánh” như sau: “Xin mở đầu phần các nhà thơ cách tân và tìm tòi bằng cố thi sĩ Trần Dần, tôi cho rằng, ông là nhà cách tân vĩ đại nhất của thơ đương đại Việt Nam trong hơn ba mươi năm qua. Có thể nói ông là người có công đầu trong việc “chôn” thơ tiền chiến và cả thứ thơ bắt chước thơ tiền chiến 1930 - 1945, để sáng tạo, để mở ra một thời đại mới cho thi ca…” (tr. 74 - 75).

Tôi và nhiều người yêu văn chương khác có đọc thơ Trần Dần, thấy có những điều lạ, khác người. Nhưng để xếp vào bảng danh dự là “nhà cách tân vĩ đại nhất” thì có lẽ còn phải xem xét, bàn luận nhiều hơn nữa. Bởi vì nếu quả thực Trần Dần là một “nhà cách tân vĩ đại nhất” thì có nghĩa là cùng với ông và sau ông thơ ca Việt Nam sẽ phải rẽ theo hướng khác, theo hướng của “người bẻ ghi”. Và sẽ có một “hội chứng Trần Dần” đối với các thế hệ sau. Nhưng là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học hiện đại Việt Nam bốn mươi năm nay tôi chưa nhìn thấy hiện thực thơ ca ấy.

Nhiều người đồng ý với quan niệm cho rằng cái khác lạ không đồng nghĩa với cái mới. Còn một cá nhân mà mở ra được một thời đại mới cho thơ ca thì trong lịch sử văn chương thế giới cũng chỉ đếm đầu ngón tay. Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1941) khi viết tiểu luận Một thời đại trong thi ca  là nhằm để gắn với thành tựu của cả một thế hệ (trong tác phẩm để đời này ông tôn vinh 45 nhà thơ mới). Những tài năng thơ tầm cỡ thế kỷ như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử còn chưa được gọi là những người “mở ra một thời đại mới cho thi ca”. Một thế hệ may ra. Nhưng lại có độc giả cảm thông, chia sẻ với lối viết có chiều “hưng cảm” này của Nguyễn Việt Chiến. Vì tác giả là nhà thơ!?

Tha thiết với tiến trình thơ ca dân tộc thời hậu chiến

Bằng chứng nhận Giải thưởng cho tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến

Có chuyện để nói đấy. Mà có lẽ như thế mới vui còn hơn khi một cuốn sách không đem lại cho công chúng một niềm hưng phấn nào cả. Tôi nhớ không thật chính xác, ai đó nói, đại ý “Một ý kiến đưa ra nếu tất cả biểu đồng tình thì chưa hẳn là một ý kiến hay. Một ý kiến đưa ra nếu tất cả đều phản đối, thì chưa hẳn là ý kiến tồi. Một ý kiến đưa ra nếu chia đôi dư luận thì hãy chú ý, đáng quan tâm”. Cái phần sẽ gây ra những ý kiến trái chiều nhất có lẽ ở phần tuyển chọn và giới thiệu 69 tác giả được coi là có đóng góp vào tìm tòi và đổi mới thơ ca hậu chiến.

Theo tôi có 5 nhóm tác giả tiêu biểu, trong đó nhóm 4 và 5, theo cách đề xuất của Nguyễn Việt Chiến, dễ gây tranh luận và khó đi tới thống nhất trong đánh giá. Không sao nếu tác giả có ý gây men như thế. Nhóm thứ nhất gồm những tác giả được xác định là “thế hệ chống Mỹ” tiếp tục đổi mới trong hành trình thơ hậu chiến như Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Trúc Thông, Thi Hoàng, Ngô Thế Oanh, Bằng Việt, Trần Nhuận Minh, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng tạo, Nguyễn Thụy Kha, Phùng Khắc Bắc, Ý Nhi, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa,... Nhóm thứ hai gồm những tác giả sáng tác từ sau 1975, được coi là thế hệ chủ công hiện nay trên thi đàn như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Việt Chiến, Mai Văn Phấn, Y Phương, Nguyễn Khắc Thạch, Inrasara, Trần Anh Thái, Vi Thùy Linh,… Nhóm thứ ba gồm các nhà thơ ít nhiều có “dính” đến Nhân văn – Giai phẩm về sau được “chiêu tuyết” như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Hữu Loan, Phùng Quán, Phùng Cung. Ba nhóm này như cách lựa chọn của tác giả sách về cơ bản là đúng. Nhưng sao đông đảo quá (đến những 58 người), đã thật chặt chẽ trong tuyển chọn? Đáng bàn hơn là nhóm bốn gồm những tác giả như Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Du Tử Lê.

Những nhà thơ này rõ ràng có vị trí và thành tựu trong nền thơ dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa trước 1975, đã đành. Thậm chí tôi thấy họ cũng đã được đánh giá đúng và công bằng trong công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và thú vị của Nguyễn Bá Thành - “Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 - 1975” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016). Người ta hay nói đến chữ “thời” của mỗi người, thậm chí của một thế hệ. Có chăng sự đóng góp thực sự của những nhà thơ có tiếng tăm này cho công cuộc đổi mới thơ ca Việt Nam thời hậu chiến? Tôi chưa được tác giả thuyết phục, còn người khác thế nào chưa rõ. Nhóm thứ năm gồm những tên tuổi còn ít người biết đến như Tấn Phong, Đỗ Doãn Phương, Lãng Thanh, Đào Quốc Minh, Lê Anh Phong, Nguyễn Phúc Lộc Thành.

Nhóm này dẫu đã có tác phẩm trình làng, dẫu có người được giải thưởng, nhưng cái vị thế của họ giữa làng thơ, nhất là trong bối cảnh đổi mới thơ ca, đã thực sự là những điển hình “tận hiến” cho thơ ca? Tôi nghĩ là còn non, còn “chín ép”. Cũng trong phần tuyển chọn và giới thiệu, đáng tiếc còn bỏ sót một số tác giả có nhiều đóng góp cho thơ ca đổi mới như Thạch Quỳ, Mai Quỳnh Nam, Đoàn Thị Lam Luyến, Đặng Huy Giang, Trương Đăng Dung, Văn Cầm Hải, Tuyết Nga, Phan Huyền Thư,… Dẫu cho tác giả có lời trần tình về việc mình có thể chưa kịp đưa vào sách một số gương mặt thơ xứng đáng vì nhiều lý do khách quan và chủ quan. Thôi thì đành lòng vậy cầm lòng vậy. Dẫu còn những trồi sụt như đã chỉ ra ở trên, tuy nhiên “Thơ Việt Nam tìm tòi & cách tân” (1975 - 2015) Nguyễn Việt Chiến tuyển chọn và giới thiệu, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2016 - Giải thưởng Văn, học Nghệ thuật Thủ đô 2016, theo tôi, vẫn là một cuốn sách đáng đọc vì nó gợi cho văn giới một cảm hứng đối thoại tích cực. 
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Tiếp tục tinh gọn bộ máy: Hà Nội kiến tạo động lực phát triển trong giai đoạn mới
    Thành phố Hà Nội vừa thành lập, tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố Hà Nội. Nhìn từ thực tiễn, đây không đơn thuần là việc giảm số lượng cơ quan mà khẳng định quyết tâm chính trị, bước đi chiến lược của Hà Nội để kiến tạo bộ máy quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Điều chưa biết về làng cổ Bình Vọng cận kề thành Thăng
    Làng cổ này ngày xưa rất nổi tiếng nhưng thời nay ít người biết đến, đó là làng cổ Bình Vọng, cận kề với kinh thành Thăng Long. Thượng tá Công an Trần Đình Hưng là anh trai làng Bình Vọng, về thăm quê hương đúng vào ngày làng có việc: ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO