Kênh đào ở Nam bộ từ thời Nguyễn đến thời thuộc Pháp

KTĐT| 27/03/2022 09:05

Từ đầu thế kỷ XVII, các thế hệ lưu dân người Việt, với sự tham gia của người Hoa, người Khơ Me đã nạo vét, cải tạo mạng lưới sông ngòi tự nhiên và đào mới nhiều kênh rạch để khai phá và khai thác vùng châu thổ Nam bộ.

Đây cũng là nền tảng cho sự phát triển tiếp theo của hệ thống thủy lợi - giao thông này dưới thời thuộc Pháp và cho đến tận ngày nay.

Những dòng kênh mở nước thời Nguyễn

Khi người Việt đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để khai thác hệ thống sông ngòi chằng chịt ở đây hiệu quả hơn, họ đã ra sức nạo vét, khai rạch, đào kênh để dẫn nước vào các cánh đồng, đồng thời tạo những con đường thủy thuận tiện hơn cho việc di chuyển, buôn bán.

Kênh Vĩnh Tế năm 1929. Ảnh tư liệu
Kênh Vĩnh Tế năm 1929. Ảnh tư liệu

Ngay từ đầu thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, người Việt đã bắt tay đào kênh. Lúc đầu là do người dân tự đào, tiếp đến có sự tổ chức thực hiện của gia tộc Mạc Cửu (1652 - 1735). Sau khi thành lập (1802), nhà Nguyễn đã rất nỗ lực dồn rất nhiều công của để hình thành hệ thống kênh đào lớn.

Trong hệ thống đó, có thể kể đến một số kênh đào mang tính chiến lược, ảnh hưởng đến phát triển của một vùng rộng lớn. Ở Miền Tây là hệ thống các con kênh Bảo Định, Thoại Hà, Vĩnh Tế… Ở Miền Đông là hệ thống các con kênh phụ trợ cho giao thông thủy đến trung tâm Gia Định/Sài Gòn.

Kênh Bảo Định nối liền rạch Vũng Gù và sông Mỹ Tho được Nguyễn Cửu Vân khởi đào từ năm 1705 khi đem quân vào bảo vệ vùng đất mới bình định này. Vì bị bùn bồi lấp, ngày càng khó thông thương nên năm 1819, vua Gia Long ra lệnh cho Nguyễn Văn Phong, trấn thủ trấn Định Tường chỉ huy đào vét con kênh này. Công trình bắt đầu đào từ 23/2/1819 đến 28/5/1819 thì hoàn thành. Vua Gia Long đặt cho tên cho con kênh là Bảo Định Giang.

Kênh Thoại Hà còn gọi là kênh Rạch Giá - Long Xuyên, do Trấn thủ Vĩnh Thanh là Thoại Ngọc Hầu (1762 - 1829) chỉ huy đào năm 1818, rộng 51m, dài hơn 30km, từ rạch Long Xuyên, đi qua núi Sập, hợp với sông Kiên của Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nối dòng chảy từ sông Hậu cho đến biển Tây. Kênh Thoại Hà giúp Vĩnh Thanh liên kết với các vùng, tránh phải đi vòng qua đường biển, đồng thời tháo nước của sông Hậu ra biển Rạch Giá vào mùa nước nổi, giúp cho vùng này bớt ngập lụt.

Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km, rộng 40m, nối Châu Đốc với Hà Tiên, khởi công vào cuối năm Kỷ mão (1819) đến tháng 5 năm Gíáp Thân (1824) thì hoàn thành với mục tiêu ban đầu là để củng cố vùng quốc phòng vùng Châu Đốc. Kênh này là con đường giao thông thủy, đồng thời là hệ thống tưới tiêu. Vua Gia Long đặt tên kênh Vĩnh Tế là tên của bà Châu Vĩnh Tế, vợ Thoại Ngọc Hầu - người chỉ huy đào kênh.

Ngoài ra, tại vùng đất Gia Định/Sài Gòn, nhà Nguyễn cũng cho tiến hành đào thêm một số kênh nhằm thuận lợi cho việc lưu thông lúa gạo, sản vật từ miền Tây về Gia Định. Lớn nhất là kênh Ruột Ngựa nối kênh Tàu Hủ chạy ra sông Rạch Cát để rẽ trái đi Cần Đước, Cần Giuộc hoặc rẽ phải đi Chợ Đệm, Bến Lức. Kênh dài gần 3 km, đào năm 1772, dưới đời chúa Nguyễn Phúc Thuần.

Năm 1819, vua Gia Long cho đổi đường sông cũ, đào mới kênh An Thông nối thẳng kênh Ruột Ngựa và kênh Bến Nghé, dọc hai bên bờ kênh đắp thành hai con đường bộ.

Cùng với việc nạo vét kênh cũ, đào kênh mới, nhà Nguyễn còn khuyến khích, hỗ trợ dân khai phá ruộng đồng, lập ấp để đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vựa lúa của cả nước. Con đường buôn bán lúa gạo của Gia Định được thông thương, biến nơi này thành trung tâm của Nam bộ.

Đến những kênh đào thời thuộc Pháp

Nắm rất rõ vị thế địa quân sự và kinh tế quan trọng của Nam bộ nên sau khi chiếm trọn lục tỉnh, người Pháp đã chủ trương củng cố an ninh và khai thác ngay các nguồn lợi của khu vực này. Năm 1867, họ thành lập một ủy ban thuộc Soái phủ Gài Gòn để nghiên cứu và tổ chức việc nạo vét, mở rộng hệ thống kênh rạch. Tuy nhiên, lúc này chủ yếu là nạo vét những dòng kênh nhỏ, chưa có những công trình lớn.

Năm 1875, họ tiếp tục thành lập một ủy ban thường trực về việc hoàn chỉnh hệ thống đường thủy từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây. Chưa đầy 5 năm, đến năm 1879, ngoài việc nạo vét các kênh cũ, đã đào được nhiều kênh mới như: Cột Cờ, Nước Mận, Hiến Binh, Trà Ôn, Chợ Gạo, Sét nay; Phú Túc, Xanh ta.

Từ năm 1880 - 1890, phần lớn là nạo vét, mở rộng các kênh có sẵn, như: Ba Lăng, Cái Côn, Carabelli, Bocquillon, Kế Sách, Thạnh Lợi, Bà Tích, Trà Nóc, Ông Trương, Cái Mương. Tổng cộng đã đào được 2,1 triệu mét khối đất kinh rạch, tăng được 169.000ha đất canh tác so với thời Nguyễn.

Năm 1895 - 1897, Tổng đốc Trần Bá Lộc được chính quyền thực dân cho tự đầu tư đào một con kênh lớn dài 45km, rộng 10m từ rạch Bà Tèo, bao quanh cả vùng Mỹ Tho rồi đổ ra rạch Ruộng gần Sa Đéc, gọi là kênh Tổng Đốc Lộc.
Từ 1899 - 1903, Lagrange là Tham biện Tân An điều hành đào con kênh nối sông Vàm Cỏ Tây ở đầu phía Đông và kênh Phước Xuyên, kênh Đông Tiến ở đầu phía Tây tại ngã tư Cờ Đen. Sau nhiều lần nạo vét, kênh có chiều dài 45 km, rộng 40m, sâu 4m; được đặt tên là Lagrange (tên khác là kênh Ông Lớn, kênh Cùng).

Những năm 1903 - 1904 đào 3,4 triệu mét khối trong đó có hai kênh lớn mới là Trà Ót và Saintenoy.

Những năm tiếp theo hàng loạt kênh, rạch vừa và nhỏ như: Ba Rinh, An Tập, Tiếp Nhựt, Rạch Vọp ở Sóc Trăng; Phổ Dương - Trà Long ở Cần Thơ; Ô Môn, Xà No, Trà Bồng, Tân Phước thuộc Cần Thơ - Rạch Giá - Sóc Trăng... tiếp tục được đào mới hoặc nạo vét.

Quá trình đào kênh ở Nam bộ có sự chuyển biến lớn khi Paul Doumer làm Toàn quyền Đông Dương (1897 - 1902). Ngày 8/9/1900, ông thành lập một hội đồng gồm các kỹ sư công chính, các tỉnh trưởng, đại diện các điền chủ người Pháp để hoạch định một chương trình đào kênh cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1901, thành lập Công ty đào sông và các việc công chính Đông Dương. Kế hoạch hàng năm được chi 2 triệu francs từ ngân sách Đông Dương và 240.000 francs từ ngân sách Nam Kỳ cho chương trình này. Từ chương trình này, nhiều công trình lớn được thực hiện. Kênh Xà No được đào bằng máy từ 1901 đến tháng 7/903, mặt nước rộng 60m, đáy rộng 40m, kinh phí 3,6 triệu francs nhằm khai thác vùng đất rộng hàng chục ngàn hecta ở Cần Thơ.

Từ 1904 - 1906, cải tạo mở rộng sông Mân Thít, kênh Ba Xuyên - Thạnh Lợi, đào kênh Lấp Vò, kênh Cổ Chiên đi Trà Vinh.

Từ 1906 - 1910, đào thêm một đoạn kênh ở Sài Gòn song song với kênh Tàu Hủ; đào kênh Hậu Giang - Long Mỹ; đào sâu mở rộng kênh Chợ Gạo ở Cần Thơ - Sóc Trăng; tiếp tục mở rộng kênh Saintenoy; Đào các kênh mới: Phụng Hiệp, Phổ Dương, Xẻo Von, Carabelli, Mang Cá, Ba Rinh, Lacote. Bắt đầu đào kênh Cái Lớn đi Trèm Trẹm. Vùng giữa sông Tiền - sông Hậu đào xẻ cù lao May, mở rộng kênh Cổ Chiên - Trà Vinh, đào sâu sông Mân Thít; đào các kênh Chàng Ré, Nàng Rền, Thốt Nốt - Cái Bè.

Từ 1911 - 1913, mở rộng các kênh Bassac - Long Mỹ, Ba Xuyên - Ô Môn, Sóc Trăng - Phụng Hiệp, Hậu Giang - Long Mỹ, Bạc Liêu - Cà Mau, Tiếp Nhựt, Mỏ Cày. Từ 1905 - 1913, khối lượng đào đắp là 37,5 triệu mét khối.

Ngày 23/5/1913, chương trình đào kênh những năm 1913 - 1918 được triển khai nhưng do chiến tranh thế giới thứ nhất nên công việc có nhiều thay đổi và kéo dài đến năm 1929.

Từ 1914 - 1929, đã đào được 177 triệu mét khối đất cho 1.664km kênh; bao gồm: Đào mới các kênh Ba Rinh, Sóc Trăng - Bố Thảo, Cái Lớn; cải tạo mở rộng kênh Ô Môn - Thị Đôi. Lớn nhất là đào mới kênh Rạch Giá - Hà Tiên gồm một kênh chính Rạch Giá - Hà Tiên đi song song với bờ biển dài 81km, sâu 3,5 - 3,8m, rộng 28m, được nối thông với biển bằng 4 kênh nhánh tổng cộng 81km thoát nước ra biển Tây để mở rộng khai thác trên 220.000ha của khu tứ giác Long Xuyên. Đây cũng là con đường giao thông quan trọng từ vùng Hà Tiên về Sài Gòn.

Sau năm 1930, chương trình thủy lợi ở Nam Kỳ vẫn được duy trì và gia tăng. Năm 1936, đào được 1.360km kênh chính, 2.500km kênh phụ và hàng ngàn cây số kinh nhỏ.

Với hệ thống thủy lợi dưới thời thuộc Pháp, diện tích đất canh tác ở Nam bộ được mở rộng, sản lượng lúa ngày một tăng, cơ cấu cây trồng đa dạng và phong phú hơn. Giao thông vận tải đường thủy phát triển. Thị trường hàng hóa hình thành và mở rộng. Cơ cấu xã hội biến chuyển. Đặc biệt, hệ thống thủy lợi này có hiệu quả lâu dài, là cơ sở nền tảng để tiếp tục hoàn thiện cho đến tận ngày nay.

(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày hơn 300 tài liệu về Quốc hội Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập
    Các tài liệu sách, báo được tổ chức theo ba chủ đề: “Tổng tuyển cử năm 1946 và sự ra đời của Quốc hội Việt Nam”; “Quốc hội trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Quốc hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập”.
  • Tôn vinh di sản sử học của Lê Quý Đôn qua ấn bản bìa cứng đặc biệt "Đại Việt thông sử"
    Kỷ niệm 300 năm ngày sinh nhà bác học, danh nhân văn hóa thế giới, Lê Quý Đôn (1726-2026), Nhà xuất bản Trẻ vừa ra mắt ấn bản bìa cứng đặc biệt tác phẩm "Đại Việt thông sử", thuộc bộ sách “Cảo thơm”.
  • Bí thư Thành ủy Nguyễn Duy Ngọc: Đặt quyền bầu cử của công dân ở vị trí trung tâm
    Sáng 10/3, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng đoàn kiểm tra số 01 của Ban Thường vụ Thành ủy đã chủ trì hội nghị công bố quyết định kiểm tra của Ban Thường vụ Thành ủy đối với Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Thường Tín.
  • Bài 4: Hành trình “bứt tốc” từ truyền thống đến chuyển đổi số (tiếp theo và hết)
    Nhân dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội (18/3/1966-18/3/2026), phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với TS.BS Phạm Văn Tân, Hiệu trưởng Nhà trường về hành trình đổi mới toàn diện trong công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế có chất lượng cao; việc ứng dụng chuyển đổi số, đa dạng hóa ngành nghề và nâng cao năng lực cạnh tranh cho người học trong bối cảnh thực tiễn. Đồng thời, khẳng định sức sống bền bỉ, tầm nhìn chiến lược của một cơ sở đào tạo giàu truyền thống, đang từng bước “bứt tốc” trên hành trình đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững.
  • Thủ đô Hà Nội đã sẵn sàng cho ngày hội bầu cử
    Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang đến rất gần. Tại Thủ đô Hà Nội, công tác chuẩn bị không chỉ ghi dấu ấn bởi sự chủ động, bài bản từ sớm mà còn nổi bật với bước tiến mạnh mẽ trong công cuộc chuyển đổi số.
Đừng bỏ lỡ
  • “Vương miện của Mặt Trời” - Sách tranh về cảm xúc và sự trưởng thành của trẻ nhỏ
    Crabit Kidbooks và NXB Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách tranh“Vương miện của Mặt Trời” dành cho độc giả từ 3 tuổi trở lên. Cuốn sách hướng tới các gia đình đang tìm kiếm những tác phẩm giúp trẻ nhận diện và đối diện với cảm xúc của mình, đồng thời mở ra những cuộc trò chuyện nhẹ nhàng giữa cha mẹ và con cái về hành trình trưởng thành từ bên trong.
  • Sắp diễn ra Festival Dân tộc - Tôn giáo Thủ đô lần thứ nhất
    UBND TP Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 90/KH-UBND ngày 07/3/2026 tổ chức Festival Dân tộc - Tôn giáo Thủ đô lần thứ nhất với chủ đề "Hội tụ niềm tin - Lan tỏa bản sắc - Đồng hành cùng Thủ đô vươn mình". Sự kiện hứa hẹn có nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, nhằm khẳng định vị thế của Thủ đô là trung tâm hội tụ và kết tinh văn hóa của cả nước.
  • NXB Kim Đồng “bội thu” với 8 ấn phẩm được trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII
    Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII diễn ra tối 8/3 tại Hà Nội tôn vinh 50 cuốn sách và bộ sách tiêu biểu có giá trị nổi bật về tư tưởng, học thuật, khoa học và thẩm mỹ. Trong mùa giải năm nay, NXB Kim Đồng ghi dấu ấn nổi bật khi có 8 ấn phẩm được vinh danh ở nhiều hạng mục khác nhau. Kết quả này tiếp tục khẳng định vị thế của NXB Kim Đồng trong lĩnh vực xuất bản dành cho thiếu nhi và độc giả trẻ, đồng thời cho thấy sự đầu tư ngày càng bài bản về nội dung và mỹ thuật của đơn vị.
  • Các ứng cử viên đại biểu HĐND Thành phố Hà Nội tiếp xúc cử tri tại Đơn vị bầu cử số 6
    Các ứng cử viên đại biểu HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031, Đơn vị bầu cử số 6 đã tiếp xúc cử tri, báo cáo chương trình hành động và vận động bầu cử tại phường Tây Hồ diễn ra chiều 9/3.
  • Giải thưởng Văn học 2025 vinh danh tác giả, dịch giả xuất sắc
    Sáng 10/3, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lễ trao Giải thưởng văn học năm 2025 nhằm tôn vinh những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và tư tưởng, đồng thời ghi nhận những đóng góp tích cực của các tác giả, dịch giả đối với nền văn học nước nhà.
  • Xã Đại Thanh sẵn sàng cho ngày hội bầu cử
    Những ngày này, không khí chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 tại xã Đại Thanh đang diễn ra khẩn trương, nghiêm túc, bảo đảm đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền.
  • [Infographic] Nhiều hoạt động hấp dẫn tại Lễ hội Du lịch Hà Nội 2026
    Lễ hội Du lịch Hà Nội năm 2026 với chủ đề "Hà Nội – Du lịch xanh, trải nghiệm số" là hoạt động xúc tiến du lịch thường niên, quan trọng trên địa bàn thành phố; tôn vinh giá trị di sản văn hóa, lịch sử, quảng bá điểm đến, sản phẩm, dịch vụ du lịch đặc sắc của Thủ đô; lan tỏa thông điệp điểm đến "Đến để yêu" với du khách trong nước và quốc tế.
  • Nhà hát Cải lương Hà Nội sắp công diễn vở “Vua hóa hổ”
    Ngày 21/3 tới, tại Rạp Chuông Vàng, Nhà hát Cải lương Hà Nội sẽ công diễn vở cải lương “Vua hóa hổ” – tác phẩm của cố tác giả Lưu Quang Vũ, được dàn dựng bởi NSND Kiên Triệu.
  • Bốn ấn phẩm của Nhã Nam được vinh danh tại Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII
    Tối 8/3, Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII diễn ra tại Đài Truyền hình Việt Nam với sự tham dự của đông đảo đơn vị xuất bản, tác giả, dịch giả và các nhà nghiên cứu trên cả nước. Trong tổng số 50 cuốn sách, bộ sách được trao giải năm nay, 4 ấn phẩm do Công ty CP Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam xuất bản đã được vinh danh ở nhiều hạng mục khác nhau, trải rộng trên các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, lịch sử và khoa học công nghệ.
  • Phường Giảng Võ ra mắt bản đồ số hóa thông tin bầu cử, sẵn sàng cho “Ngày hội toàn dân”
    Hướng tới cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 trên địa bàn, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Giảng Võ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Giảng Võ (TP. Hà Nội) cho biết, đã cùng các ban, ngành phường phối hợp xây dựng và vừa ra mắt “Bản đồ số hóa thông tin bầu cử phường Giảng Võ”.
Kênh đào ở Nam bộ từ thời Nguyễn đến thời thuộc Pháp
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO