Bế Kiến Quốc nhìn từ những góc phố, những số nhà Hà Nội

Trần Quốc Toàn| 11/08/2022 08:37

Lời tòa soạn: Nhà thơ Bế Kiến Quốc (1949 - 2002) nguyên Tổng biên tập Báo Người Hà Nội (nay là Tạp chí Người Hà Nội) là người đầy tâm huyết, trách nhiệm cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, với rất nhiều dự định xây dựng và đổi mới Người Hà Nội trên hành trình bước vào thế kỷ XXI. Kỷ niệm 20 năm nhà thơ Bế Kiến Quốc về với miền mây trắng, Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết sâu lắng của nhà văn Trần Quốc Toàn cùng chùm thơ tài hoa của ông.

Bế Kiến Quốc  nhìn từ những góc phố,  những số nhà Hà Nội
Tranh của Nguyễn Tân Quảng
 1. Đọc thơ Bế Kiến Quốc, bài tôi thích nhất cũng là bài Hà Nội nhất của Quốc - “Điện thoại đường dài”. Một Hà Nội  “trong” “mềm mại” “khẽ khàng”, một Hà Nội - lịch lãm, từng trải, mã thượng, như cách ứng xử của hai người yêu nhau trong bài thơ. Nói theo Nguyễn Du, theo ca dao thì có “nết đất” có “tính trời” có nền nã, hào hoa Tràng An trong hai nhân vật thơ ca này. Ít bài thơ được bắt đầu bằng liên từ, chữ “và” nối đời chung ở hai đầu đất nước với thương nhớ riêng của hai người tình: “Và thương nhớ được truyền vào giọng nói/ Anh có em đôi lần qua điện thoại/ Em rất trong rất mềm mại khẽ khàng/ Như nắng vàng buông ngân trong không gian”.
“Giọng nói” hình tượng thính giác, không chỉ thắt buộc hai người yêu nhau, giọng nói còn cởi mở, chỉ dẫn đôi bạn tình hướng tới cõi đẹp kia, nơi nắng vàng ngân nga như hát. Để rồi chính giọng nói con người tạo ra thứ thời tiết thơ ca luân chuyển non sông về một mối, gần gũi “bền chặt” tới mức hai người tình có thể trao nhau bốn mùa thiên nhiên: “Đất nước chúng mình dài, Bắc Nam nghìn dặm đất/ Đường điện thoại mỏng manh thành sợi tơ bền chặt/ Anh đoán chừng thu đã tới ngoài kia/ Qua giọng em mát rượi cả trưa hè”.
Bài thơ mở bằng liên từ đã rất lạ, lại đóng bằng số từ: “Cho tới lúc một đầu dây đã cúp/ Anh đứng đó với niềm xa ngút/ Nghe nhớ thương trải dài trên núi sông/ Gọi thầm em: Năm - bốn - bốn - ba - không...”
Những số đếm tưởng như được tạo ra để tu từ theo lối giảm thiểu, triệt tiêu xa cách chàng Nam nàng Bắc thì hóa ra là số điện thoại thật của tòa soạn Báo Văn nghệ số 17 Trần Quốc Toản, Hà Nội!
2. Vào năm 1974 khi Quốc đã là một nhà thơ thành danh, được Thủ tướng mời cơm, với đôi mắt buồn, những ngón tay yếu đuối và mái tóc kiểu Êxênhin, nhà thơ trẻ trai của chúng ta lọt mắt xanh liên tài của thi sĩ Xuân Diệu. Anh được Xuân Diệu mời tới 24 Cột Cờ để truyền nghề. Bài học thơ ca ngày một tha thiết hơn để rồi sau đêm thơ khăng khít tay đôi ấy, Bế Kiến Quốc khoe với tôi bài thơ 4 khổ Xuân Diệu viết tặng Quốc trích dưới đây viết về Quốc với chi chít dấu môi hôn:
Buổi chiều hôm ấy đáng muôn hôn
Hôn gió hôn mây với cả hồn
Hôn cái khúc đường, hôn cả bóng
Hàng cây xanh biếc dưới hoàng hôn
Dun dủi làm sao thế, hỡi em
Chiều nay em khoác áo muôn duyên
Em đi đôi dép xinh đơn giản
Em thật hồn nhiên, rất tự nhiên...
Tôi vẫn nhớ manh “áo muôn duyên” màu hạt dẻ Quốc mặc, hàng ximili, may kiểu blouson thắt eo, áo quần cùng một thứ vải. Nhớ cả đôi dép xinh đơn giản, thứ dép nhựa Tiền Phong đã được ông vá dép nhựa ngã tư chợ Hôm, gần 32 Trần Nhân Tông - phố nhà Quốc, điểm xuyết một đôi lần bằng bút lửa. Nhà 32 Quốc ở suốt thời sinh viên và những năm còn độc thân nằm trên tầng hai, thoáng đãng, rộng rãi có ban công nhìn xuống đường. Bác Dầu của Quốc mở nhóm trẻ tư nhân. Vợ chồng Tố Uyên - Lưu Quang Vũ gửi bé Kít - Lưu Minh Vũ ở đây, vì cặp vợ chồng nghệ sĩ ở khu tập thể Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội số 96A phố Huế, ngay trước cửa chợ Hôm, gầm rạp Đại Nam.
Bế Kiến Quốc  nhìn từ những góc phố,  những số nhà Hà Nội
3. Ngày 27/1/2019 nhạc sĩ Trần Tiến kể trên một tờ báo:
“Bài hát “Tùy hứng lý qua cầu” là một kỷ niệm. Ngày gặp nhà thơ trẻ hiền lành Bế Kiến Quốc ở tòa soạn Báo Văn nghệ ngoài Hà Nội, anh chép tặng tôi bài thơ “Điệu lý qua cầu” anh mới viết, thật dễ thương. “Bằng lòng đi em, nhưng má anh đã mất”. Lời thơ dịu dàng, mà buồn ngơ ngẩn. Nhưng chỉ khi xuống miền Tây, được nghe trẻ con hát đồng dao “Bằng lòng đi em, anh về quê rước má lên liền” tôi mới hiểu, anh cũng tùy hứng điệu dân ca “Lý qua cầu” của đồng bằng Cửu Long một cách rất riêng. Câu kết thật đẹp: “Mỗi khi nhớ em, buồn muốn khóc/ Mình anh ca điệu lý qua cầu”. Tôi đã dùng duy nhất câu thơ này, để kết thúc bài hát của tôi. Tôi hàm ơn anh vô cùng. Tuy vậy, đêm qua nhậu, có người nhắc: “Sao không đề tên Bế Kiến Quốc là đồng tác giả bài hát”. Ừ nhỉ. Tôi thật có lỗi, nhất là anh đã không còn ở với chúng ta. Nhưng biết nói sao đây. Đề tên anh vào đâu, khi lâu rồi không ai mời tôi in tập nhạc cả. Nhạc in không bán được vì có mấy người đọc được nhạc, kể cả ca sĩ nổi tiếng. Mọi người đều nghe và hát theo Google - Youtube […] Tôi sẽ tìm cách tạ lỗi với các anh Bế Kiến Quốc, Lưu Quang Vũ… Chắc phải tự bỏ tiền ra in nhạc, để công bố với mọi người”.
Về tùy hứng này người viết bài có tham gia công việc hậu đài. Có lần Quốc vào Nam công tác đang ở TP. Hồ Chí Minh, tôi từ Đồng Tháp lên tìm thì đã sập tối. Biết Quốc ở ngay trụ sở Báo Văn nghệ 43 Đồng Khởi, dẫu tối vẫn tìm đến. Quốc có trong nhà 43 mà không được gặp! Là vì, theo nội quy cơ quan, buổi tối không ai được ở lại. Quốc xin ở lại để sử dụng cái máy chữ, cho nên phải đồng ý để được ở hẳn trong ấy, khóa cửa ngoài, ngoại bất nhập, nội bất xuất. Vậy là chúng tôi, “anh đứng trong cửa sắt/ em đứng ngoài cửa sắt...” mà đọc thơ mới viết cho nhau nghe. Bài chép dưới đây là bài Quốc đã trao tay qua cửa sắt đêm ấy: “Bằng lòng đi em… Nhưng má anh đã mất/ Mịt mù xa Nam Bắc khó đưa dâu/ Bằng lòng đi em… Nữa mai rồi cách mặt/ Chuyện tâm tình muốn nói dễ chi đâu!/ Bằng lòng đi em… Dẫu chỉ nhờ câu hát/ Có chiếc xuồng ba lá của riêng  nhau/ Bằng lòng đi em… Mỗi khi buồn đến khóc/Một mình anh ca điệu lý qua cầu…” (Cao Lãnh 16/7/1984, Điệu lý qua cầu, lấy từ di cảo “Lời nói”, tập thơ tình chưa xuất bản). 
Chắc ai cũng nhận ra trong bài thơ trên những câu chúng ta đã nghe đến thuộc lòng qua ca từ “Tùy hứng lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến, những câu khởi nhịp “bằng lòng đi em” và những câu đẩy dòng nhạc lên cao trào “mỗi khi buồn đến khóc/ một mình anh ca điệu lý qua cầu”. Đã có lần tôi viết về sự đồng điệu giữa thơ và nhạc, viết như một người yêu thơ cám ơn người đã tìm cho tứ thơ mình yêu một vóc dáng mới, đời sống mới - Quốc là vậy, “Bằng lòng đi em… mỗi khi buồn đến khóc/ Một mình anh ca điệu lý qua cầu”, muốn khóc nhưng vì người nghe chúng ta mà hát lên như thế. Nhạc sĩ Trần Tiến là người nhận ra hơi oán bị nuốt đi kia, ông đã đưa thơ Bế Kiến Quốc vào “Tùy hứng lý qua cầu” của mình và nước mắt đã vỡ thành lời ca...
4. Tùy hứng thơ nhạc này cũng có nhịp, có vần ở nhà tôi 25 phố Hàng Thùng vì cây bút trẻ Thu Nguyệt, người Cao Lãnh có ở đó vài ngày với các anh chị, các em, các cháu tôi khi cô ra Hà Nội chờ thi vào trường viết văn Nguyễn Du trên Quảng Bá. Mà Thu Nguyệt chính là vai “em” trong bài thơ “…mỗi khi buồn đến khóc kia”. Nhà thơ 2 lần “nhỏ xíu” (anh thấy em nhỏ xíu/ nhỏ xíu anh thương) kể: “Đối với tôi, anh Quốc là một người anh, một người thầy, một người bạn thơ vô cùng thiêng liêng. Tôi may mắn được gặp anh vào năm 1984, trong trại sáng tác văn học Đồng Tháp lần thứ Nhất. Năm ấy, tôi là một con bé nhà quê, sinh viên trường sư phạm, mới tập tễnh bước vào lĩnh vực văn chương, tôi đã được anh tận tình chỉ bảo. Anh đã dạy tôi từ cách đọc và hiểu thế nào là một bài thơ hay đến những kỹ thuật sơ đẳng nhất của một người sáng tác. Anh đã mất rất nhiều ngày và đêm thức trắng để chép và viết bằng tay (anh từ Hà Nội đi công tác vào Nam nên không có máy đánh chữ) một quyển sổ những bài thơ hay của Việt Nam và thế giới từ xưa đến nay, và gần trăm trang “giáo án” về phương pháp sáng tác để tặng cho tôi. Xúc động nhất là những “bài học vỡ lòng” về phương pháp sáng tác mà anh tự nghĩ ra, đúc kết kinh nghiệm xưa nay của mình để cung cấp cho tôi kiến thức, chỉ vẽ cho tôi cách làm thơ như thế nào. Tôi còn nhớ rất rõ những trang viết ấy có nhiều chữ bị nhòe vì mồ hôi của bàn tay anh. Tôi còn được anh giao giữ bản thảo tập thơ “Lời nói”. Kể từ ngày 2/8/2006 tập thơ này sẽ thuộc bản quyền sở hữu của gia đình nhà thơ Bế Kiến Quốc”.
Khúc tùy hứng đã có hậu, đã “châu vế hợp phố”. Hạt châu đã sáng hơn nhờ ứng xử đẹp của đồng tác giả Trần Tiến! Ông viết thư cho vợ Bế Kiến Quốc, nhà thơ Đỗ Bạch Mai: “Chào chị Bạch Mai… xin chị cho một số giấy tờ liên quan đến thủ tục cần thiết, để tôi gửi ngay lên Trung tâm bản quyền Âm nhạc (bản photo CMND của chị, giấy kết hôn và số tài khoản ngân hàng...) để truy lĩnh phần bản quyền gia đình đáng được hưởng từ lâu”.
5. Nếu tính bằng Hà Nội mới, mở mãi lên phía Tây có núi Ba Vì thì sự gắn bó với Hà Nội của Bế Kiến Quốc sâu đậm hơn, nhiều từng trải hơn. Năm 1970, Quốc từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội về khởi nghiệp văn từ phòng sáng tác, Sở Văn hóa Hà Tây, cùng phòng với những tên tuổi đã lừng danh - nhà thơ Trần Lê Văn, Hoàng Tố Nguyên, Vân Long. Từ phòng sáng tác, Quốc lên Sơn Tây tìm người viết kiểu tay súng tay bút, tay liềm tay bút… để gầy dựng phong trào văn học địa phương. Anh gặp tôi, tay phấn tay bút đang dạy học. Chúng tôi thành bạn. 
Từ đấy mỗi khi lên Sơn Tây, Bế Kiến Quốc “sát cánh” trong phòng văn mái tranh vách đất của tôi, rộng vài mét vuông, thuộc khu tập thể giáo viên, dưới một tán bàng cổ thụ, cách thành cổ đá ong Sơn Tây chỉ một mặt đường nhựa.“Toàn - Quốc” chung một giường cá nhân.
Một đêm thao thức vì… chật, tôi nhường giấc ngon, ngồi đọc thơ Quốc trong sổ tay của anh đang mở trên mặt bàn kê liền bên giường. Tôi chép lén vào sổ tay của mình bài “Hoa huệ trắng bức tường cũng trắng/ Sao bóng hoa trên tường lại đen…” để rồi ít ngày sau đem khoe với những người bạn còn đang học văn khoa sư phạm, thi phẩm giấu ngăn kéo, thi phẩm ngoài luồng, chưa thể in trong thời chiến vì buồn quá! Bài thơ chép lén đã lan tỏa theo lối truyền tay, truyện miệng, để nó được tam sao, tứ sao hình thành phiên bản mang tên tác giả nước ngoài, như là cách ngụy trang để bài thơ có thể được phổ biến. Và khi hòa bình lập lại, thơ tình, kể cả thất tình được công khai, thì “Hoa huệ trắng…” có tới 2 bản in khác nhau, một có tên tác giả thật, tác giả “chính chủ” Bế Kiến Quốc. Bản kia có tên tác giả ảo, tác giả cậy nhờ Henrich Hainơ!
Những khác biệt giữa nguyên bản và phiên bản kiểu này đã từng có trong văn học Việt Nam. “Hỡi cô tát nước bên đàng…” của Bàng Bá Lân, “…Em ơi chua ngọt đã từng/ Non xanh nước biếc xin đừng quên nhau” của Á Nam Trần Tuấn Khải, chẳng có lúc đã thành ca dao, sáng tác tập thể! Cả Bàng Bá Lân, Trần Tuấn Khải, Bế Kiến Quốc đều đã từng là cư dân Hà Nội.
(0) Bình luận
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • “Phan Thuận An với Huế”: Kết tinh một đời nghiên cứu về mảnh đất cố đô
    Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng Tri Thức Trẻ Books vừa ra mắt bạn đọc bộ sách “Phan Thuận An với Huế”. Đây không chỉ là một công trình khảo cứu công phu có giá trị học thuật mà còn là kết tinh của tình yêu bền bỉ mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã dành cho vùng đất cố đô.
  • Ra mắt Tủ sách Giải thưởng Văn học Kim Đồng
    Nhân kỷ niệm Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt Tủ sách Giải thưởng Văn học Kim Đồng, quy tụ 11 tác phẩm xuất sắc đoạt giải trong lần tổ chức đầu tiên (2023-2025). Đây là dấu mốc quan trọng trong nỗ lực phát hiện, bồi dưỡng và lan tỏa các giá trị văn học dành cho thiếu nhi.
  • Nhìn lại ngày 30/4 qua những ký ức đa chiều và góc nhìn lịch sử
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, NXB Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt bạn đọc cuốn sách “30.4.1975: Sài Gòn không còn trận tuyến - Những ký ức về một ngày trọng đại”. Đây là ấn phẩm tập hợp tư liệu, hồi ức và ghi chép lịch sử được tuyển chọn từ Tạp chí Xưa & Nay. Qua lăng kính đa chiều của những người trong cuộc, cuốn sách tái hiện sinh động thời khắc đất nước liền một dải, đồng thời gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của hòa bình và thống nhất tới thế hệ hôm nay.
  • Nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong ra mắt sách ảnh về nghị lực của học sinh khiếm thị
    Sách gồm 100 tác phẩm được chọn lọc từ hàng nghìn bức ảnh ghi lại đời sống, học tập của học sinh Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu trong năm học 2024-2025. Đây là thành quả của hơn 15 năm tác giả gắn bó với môi trường giáo dục đặc biệt này.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • TP Huế: Phát triển kinh tế đêm gắn với văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực cung đình
    TP Huế định hướng phát triển kinh tế đêm gắn với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực, hàng lưu niệm, chú trọng phát huy giá trị ẩm thực cung đình, văn hóa áo dài và các sản phẩm đặc trưng.
  • Ninh Bình khai mạc mùa du lịch biển năm 2026
    Vừa qua, tại Khu du lịch biển Thịnh Long, xã Hải Thịnh, tỉnh Ninh Bình tổ chức chương trình khai mạc mùa du lịch biển năm 2026, với chủ đề “Ninh Bình-Từ non thiêng đến biển rộng”.
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bế Kiến Quốc nhìn từ những góc phố, những số nhà Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO