Văn hóa – Di sản

Đánh thức di sản Thủ đô: Bảo tồn, tái tạo và phát huy giá trị của nghệ thuật truyền thống:Bài 3: Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Dô - vàng son còn mãi

Kiên Hải 09/07/2023 20:56

Trong nhiều di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội thì hát Dô (xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội) có nét đặc sắc không thua kém gì ca trù Lỗ Khê, chèo tàu Tân Hội. Hát Dô gắn liền với việc thờ thánh Tản Viên Sơn, ngày càng được quan tâm và lan tỏa trong cộng đồng.

Từ sự tích hát Dô 36 năm tổ chức một lần…

Về xã Liệp Tuyết tìm hiểu về hát Dô, chúng tôi được chính quyền địa phương giới thiệu gặp nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan – “báu vật sống” về hát Dô của địa phương cũng là Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết.

Theo nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan, sự ra đời của hát Dô không ai biết thời gian cụ thể nhưng gắn với truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Xưa kia, Tản Viên Sơn Thánh về Lạp Hạ (Liệp Tuyết ngày nay), ngài thấy vùng đất này dân cư thưa thớt, người dân chưa biết cày cấy, trong khi đó trồng trọt mất mùa thường xuyên. Thấy vậy, ngài ở lại làng, tìm trâu tốt, giống lúa giống cây tốt và dạy người dân cấy cày, trồng trọt.

z4557179381062_2d2805d0525043914c190af6888f225e.jpg
Người dân trình diễn hát Dô tại Lễ hội hát Dô diễn ra ở đền Khánh Xuân. (Ảnh tư liệu do nhân vật cung cấp).

Xong xuôi mọi việc, Tản Viên Sơn Thánh rời làng, hẹn mùa lúa chín sẽ quay trở lại. Mỏi mòn chờ đợi, đến 36 năm sau người dân mới thấy ngài trở về. Lúc này dân làng đã biết làm ăn, mùa màng tốt tươi, thóc chất đầy nhà. Trở về làng, Tản Viên Sơn Thánh thấy dân làng đã có cuộc sống ấm no, sung túc, ngài lại vào nhà dân chọn trai chưa vợ, gái chưa chồng để dạy hát Dô. Người dân mở hội linh đình. Sau đó, ngài lại ra đi và không còn trở lại. Từ đó người dân lập đền thờ Tản Viên Sơn Thánh ở khoảng đất đầu làng, đặt tên đền Khánh Xuân (còn gọi là Xuân Ca Công).

Ngày mồng Mười đến Rằm tháng Giêng, dân làng tổ chức Lễ hội hát Dô tại đền để ca ngợi công đức của ngài. Hội hát Dô khép lại, người dân cất khăn, váy áo, quạt, túi đeo và cả sách hát vào tráp. Đến 36 năm sau, hội hát Dô tổ chức trở lại thì người dân mới lấy các đồ đã cất trước kia ra thực hành, trình diễn tiếp. Hội hát Dô tại Liệp Tuyết diễn ra lần cuối cùng vào năm 1926, sau đó bị “ách tắc” bởi chiến tranh cùng nhiều nguyên nhân khách quan quan khác.

do-4.jpg
Thành viên Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết biểu diễn tại Lễ hội Chùa Thầy 2023.

Thể hiện một tác phẩm hát Dô cho chúng tôi nghe, nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan cho biết, hát Dô có 3 kiểu hát gồm hát thờ (hát trong đền), hát chúc, hát múa bỏ bộ (hát ngoài sân đền). Hát chúc gồm 36 làn điệu phải trên một tiếng mới xong một bài. Hát thờ chỉ hát trong đền và không được đem đi đâu, còn hát múa bỏ bộ thì ngắn chỉ vài phút là xong thường là hát đối đáp, giao lưu thể hiện nét đẹp sinh hoạt hàng ngày, tình làng nghĩa xóm, tình nghĩa vợ chồng...

Điểm đặc sắc và độc đáo của hát Dô là không có nhạc, chỉ có phách và quạt để làm đạo cụ. Tuy mộc mạc, giản dị như vậy nhưng hát Dô vẫn truyền tải đến người nghe những giai điệu ngọt ngào, đầm ấm và thanh thoát của quê hương xứ Đoài. Theo tục lệ xưa, người tham gia hát Dô phải thuộc dòng dõi con nhà gia giáo, phải là những cô gái chưa chồng, trai chưa vợ và không vướng tang. Nội dung diễn xướng hát Dô phản ánh nhận thức của người dân lao động về thiên nhiên, mơ ước một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tiết mục Trúc trúc mai mai do các thành viên Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết biểu diễn tại Tượng đài Lý Thái Tổ - quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. (Video do NVCC).

Cùng tồn tại song song với lời ca là các động tác múa phụ hoạ của các “con” (còn gọi là bạn nàng, chỉ một vai nữ) được kết hợp nhuần nhuyễn trong lúc diễn. Một canh hát Dô gồm có “cái” (một vai nam) xướng và “con” hoạ lại. Khi hát “bạn nàng” vừa hát vừa múa theo nội dung từng đoạn như: hái hoa, múa quạt, bắn cung, hái chè, dệt cửi. Hát Dô mang những đặc điểm chung của các thể loại dân ca liên quan trực tiếp đến văn hóa sản xuất nông nghiệp, truyền thống thờ các vị thần và ca ngợi công lao của một trong tứ bất tử của Việt Nam, cũng như những bài ca về lao động, về cuộc sống bình dị của nhân dân.

…đến nỗ lực khôi phục, lan tỏa hát Dô

Những làn điệu độc đáo của hát Dô dần rơi vào quên lãng, đứng trước nguy cơ bị “chôn vùi” trong một thời gian dài gần 70 năm. Người còn lưu giữ các bản nhạc, làn điệu hát Dô cổ đã ở tuổi xưa nay hiếm hoặc đã mất. Năm 1989, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ), Trung tâm Văn hóa huyện Quốc Oai và chính quyền xã Liệp Tuyết triển khai sưu tầm, thu thập, phục hồi di sản hát Dô. Người được phân công trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này không ai khác là Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Liệp Tuyết Nguyễn Thị Lan – nghệ nhân nhân dân bây giờ.

hat-do6.jpg
Bản chép tay các bài hát Dô do 1 số cụ cao niên truyền lại cho Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan thực hiện năm 1989.

Năm 1989, nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan tình cờ được một cụ cao niên truyền dạy hát Dô. Được cụ cao niên hát cho nghe những bản hát cổ, bà Lan lấy giấy bút ra ghi lại. Chép 3 ngày 3 đêm thì xong những bản hát Dô mà cụ cao niên còn nhớ. “Con nhớ phải bảo quản và giữ gìn cẩn thận vì đây là di sản của ông cha để lại. Sau đó không lâu thì cụ ra đi thanh thản” - nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan chia sẻ.

Cùng với quá trình thu thập, sưu tầm làn điệu, nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan đã đi vận động các cháu thanh thiếu niên cùng các gia đình cho phép các cháu tham gia học hát. Dù mọi người xì xào bàn tán “bị ma làm” và “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” nhưng nghệ nhân Nguyễn Thị Lan quyết không bỏ cuộc.

hat-do.jpg
Hơn 1.000 bạn trẻ ở Liệp Tuyết đã được truyền dạy hát Dô.

Kết quả đến năm 1999, Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết được thành lập, với với 30 thành viên từ tuổi trung niên trở lên, do nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan làm Chủ nhiệm. Các thành viên dù tuổi đã cao nhưng nỗ lực hết sức truyền dạy cho con cháu, góp phần làm sống lại làn điệu hát Dô của quê hương. Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan cho biết, đến nay có khoảng 60% người dân trên địa bàn hiểu về ý nghĩa, biết về một số làn điệu hát Dô. Câu lạc bộ hát Dô xã cũng đã được trẻ hóa, hiện nay gồm 30 em nhỏ tuổi từ 11 đến 16 tham gia sinh hoạt tại Câu lạc bộ.

“Chúng tôi cũng tổ chức nhiều lớp truyền dạy và đến nay đã đào tạo được hơn 1.000 em thanh thiếu nhi biết hát Dô. Các em sáng đi học, chiều ra bãi trồng ngô, nhưng tối về lại í ới gọi nhau tập hát. Ngoài ra, Câu lạc bộ hát Dô đã được mời tham gia biểu diễn ở tại các chương trình nghệ thuật, trong đó năm 2008, cá nhân tôi từng được mời sang Malaysia giới thiệu về nghệ thuật hát Dô.

Trong nước, Câu lạc bộ hát Dô cũng biểu diễn Lễ hội chùa Thầy, Nhà hát Lớn Hà Nội, khu vực tượng đài Lý Thái Tổ; biểu diễn phục vụ du khách tại khách sạn La Thành, Dewoo hay một số tỉnh, thành khác như Thanh Hóa, Bắc Ninh...”, nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lan giọng tự hào.

hat-do-3.jpg
Các bạn trẻ trong Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết có tuổi đời từ 11 đến 16.

Theo người đứng đầu Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết, thời gian qua TP. Hà Nội cùng Sở Văn hóa – Thể thao; Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Quốc Oai, chính quyền địa phương đã quan tâm, có những hành động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị hát Dô. Chính vì thế, từ nguy cơ bị “chôn vùi”, đến nay hát Dô đã, đang lan tỏa, cho thấy sức sống mãnh liệt. Đầu năm 2023, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã ghi danh “Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Dô” vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, dự kiến  Lễ đón bằng ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia hát Dô vào Lễ hội đền Khánh Xuân năm 2024./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy khả năng sáng tạo và tình yêu văn học, nghệ thuật cho học sinh Thủ đô
    Chiều 12/8, tại Nhà Văn hóa xã Đông Anh (Hà Nội), Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình tổng kết Đề án Sân khấu học đường tại các trường THCS, THPT Hà Nội năm 2026, đánh dấu việc hoàn thành các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, workshop và thực hành biểu diễn dành cho giáo viên, học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố.
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Thủ tướng ban hành Chỉ thị về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027
    Nhằm tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong năm học 2026 - 2027 theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) và chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 về việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học mới.
  • Phường Láng thành lập trường liên cấp sau sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục
    Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Láng (TP Hà Nội) cho biết, đã hoàn thành sắp xếp, tổ chức lại các trường công lập thuộc phạm vi quản lý của phường. Sau sắp xếp, phường Láng còn 3 trường, trong đó thành lập Trường Liên cấp Huỳnh Thúc Kháng.
Đừng bỏ lỡ
Bài 3: Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Dô - vàng son còn mãi
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO