Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 3 Ông Đổng so sánh "Truyện Kiều" và "Kim Vân Kiều truyện"

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 15/09/2020 21:58

Quá trình tìm hiểu kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã đạt nhiều thành tựu, trong đó hướng nghiên cứu so sánh đã có lịch sử lâu dài và ngày càng trở nên quan trọng. Điển hình như vấn đề nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân không chỉ là mối quan tâm của giới nghiên cứu mà còn thu hút cả dư luận xã hội - đặc biệt với việc viết sách giáo khoa và định hướng nhận thức, cảm thụ, giảng dạy trong nhà trường. Đồng thời, vấn đề này tiếp tục được nâng cấp thành đối tượng tìm hiểu, khảo sát chuyên sâu và mở rộng thành các cuộc tranh luận có ý nghĩa khu vực và quốc tế.

Trên đường tiếp nhận
Phương hướng nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện” vẫn tiếp tục là một đề tài hấp dẫn ở phía trước. Ảnh tư liệu.

Trên đường tiếp nhận

Đã qua trên ba mươi năm kể từ ngày ông Đổng Văn Thành viết “So sánh “Truyện Kim Vân Kiều” Trung Quốc và Việt Nam” in trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” (1986 - 1987) và bản dịch này cũng đã được công bố rộng rãi ở Việt Nam. Trước vấn đề khoa học “nhạy cảm” này, học giới chúng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh học thuật, đủ năng lực và trình độ để thảo luận một cách công khai, dân chủ với Đổng tiên sinh qua các bài trao đổi của những học giả Phạm Tú Châu (1989, 1997), Hoàng Văn Lâu (1998), Nguyễn Khắc Phi (1999)… Ở đây, chúng tôi tập trung nhấn mạnh những hạn chế trong việc so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện” của ông Đổng trên hai phương diện chính: “Cần một quan điểm so sánh văn học đúng hướng” và “Cần đọc hiểu ngôn ngữ nghệ thuật “Truyện Kiều””…

Chủ quan định giá...

Đáng chú ý là sau khi xuất hiện loạt bài của nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (Trung Quốc) đã khiến nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam lên tiếng tranh luận mạnh mẽ; đồng thời tiến hành so sánh bản dịch ra Trung văn với nguyên tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và chỉ rõ những bất cập trong thao tác nghiên cứu của ông Đổng. Ngược trở lại, vượt qua cách suy luận một chiều, cực đoan nhà thơ Trần Mạnh Hảo muốn coi tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” chỉ là “bộ xương”, “hình nhân bằng đất sét”, đến nay chúng ta đã hội đủ điều kiện tri thức khoa học và sự bình tĩnh để nâng cấp trình độ nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều truyện” lên một tầm cao mới. Định hướng chung là cần thiết coi trọng khảo sát văn bản trên tinh thần khoa học, từng bước tiếp cận đúng những cống hiến đích thực, những phương diện khác nhau cộng hưởng làm nên thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du. Đồng thời chủ động đặt tương quan văn học này trong cội nguồn dòng chảy truyện thơ Nôm và trong quỹ đạo văn học truyền thống dân tộc; đi sâu lý giải chân giá trị và đặc trưng mỗi kiểu loại tác phẩm cũng như mối quan hệ ảnh hưởng - giao lưu văn hóa, đặt trong quá trình phát triển tư duy văn học ở phạm vi khu vực và có tính chất toàn thế giới. Đó cũng là mặt bằng, định hướng và triển vọng của tình hình nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều truyện” hiện nay.

Khi đặt vấn đề so sánh “Truyện Kiều” (tác phẩm sinh sau) so với cốt truyện nguồn “Kim Vân Kiều truyện”, bất cứ nhà nghiên cứu nào khác đều cần xác định mục đích của việc so sánh (chỉ ra vị thế và tương quan giữa hai tác phẩm; nhấn mạnh vai trò và kiểu thức “người môi giới” văn học, xét đoán các chuyển động về tư duy nghệ thuật và khả năng sáng tạo ở tác phẩm thứ phát…). Tiếc rằng, ông Đổng lại không đi sâu khai thác các nội dung trên mà chủ yếu nhằm chứng minh, định giá sự hơn - kém giữa hai tác phẩm một cách chủ quan, cơ giới.

Thực tế lịch sử tiếp nhận hai tác phẩm ở hai nước đã diễn ra theo những vectơ khác biệt, thậm chí có phần ngược chiều nhau. Đúng như Đổng tiên sinh đã cảm nhận với cách đặt nhan đề ở mục I - “Hai tác phẩm cùng tên có số phận khác nhau” và ghi nhận “Truyện Kiều” là “một truyện thơ nổi tiếng thế giới”, “viên ngọc sáng của văn học phương Đông”, được yêu thích và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Cùng với đó, ông Đổng thừa nhận: “Truyện Kim Vân Kiều” của Nguyễn Du đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Tiệp và nhiều tiếng nước khác, trở thành một tác phẩm văn học phương Đông có ảnh hưởng trên thế giới”. Trong khi đó nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” ở ngay nơi sinh lại bị lãng quên, xem thường: “Ngoảnh đầu nhìn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Trung Quốc, số phận của nó cũng như số phận Vương Thúy Kiều – nhân vật chính trong truyện, bấy lâu nay đã bị đối xử rất không công bằng (…). Cuốn sách hầu như bị sổ toẹt, từ đó tiếng xấu lan xa trong ngoài nước”...

Quan sát và nhìn ra hiện tượng số phận “Truyện Kim Vân Kiều” ở hai nước nhưng ông Đổng lại chủ ý lược quy toàn bộ giá trị và mức độ phổ biến của tác phẩm ở Việt Nam về cốt truyện và nhân vật theo bản nguồn “hình tượng Vương Thúy Kiều của Trung Quốc được dân chúng Việt Nam đồng tình và yêu mến sâu sắc”... Điều này cũng có nghĩa rằng ông Đổng chưa quan tâm, chưa đi sâu lý giải thực chất vấn đề về khả năng Việt hóa, sáng tạo, chuyển hóa, phái sinh, tái sinh, phát triển, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức nghệ thuật từ “Kim Vân Kiều truyện” đến “Truyện Kiều” và phổ văn hóa “Truyện Kiều” ở Việt Nam. Mặt khác, trên thực tế chỉ có giới nghiên cứu mới quan tâm, còn tuyệt đại nhân dân Việt Nam không hề biết đến “hình tượng Vương Thúy Kiều của Trung Quốc” và họ yêu mến Thúy Kiều chỉ bởi đã đọc, hiểu và yêu thích một “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

Khi đặt vấn đề trong phần II- “So sánh nhân vật và cốt truyện”, ông Đổng lại chỉ căn cứ vào đoạn tóm tắt tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc, 1983) và ý kiến học giả Hoàng Dật Cầu trong lời giới thiệu bản dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Trung (1959) để đi đến kết luận hầu như là thúc vào cánh cửa đã mở sẵn: “Sau khi đối chiếu qua lại như trên chúng tôi có được một kết luận rõ ràng, dễ thấy, đó là nhân vật chính cùng tình tiết cốt truyện ở hai bộ “Truyện Kiều” của Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn giống nhau, kể cả kết cấu tự sự cũng không có chút thay đổi”… Sự khác biệt quan trọng ở đây là, trong khi ông Đổng mới dừng lại ở việc so sánh một cách cơ giới vấn đề kết cấu, cốt truyện, nhân vật thì hầu hết các nhà nghiên cứu Việt Nam và giới Kiều học còn mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nữa thuộc về tâm lý sáng tạo, nội dung và nghệ thuật kiệt tác “Truyện Kiều”. Trên thực tế, rất tiếc rằng ông lại chưa tiếp xúc được với khối lượng khổng lồ tài liệu tiếng Việt nghiên cứu “Truyện Kiều”, càng chưa nói đến việc đọc, cảm thụ “Truyện Kiều” tiếng Việt. Đặt trong tương quan chung, đúng như ông Đổng xác nhận về một nghịch lý, tác phẩm “Truyện Kiều” sinh sau đến 160 năm lại có sức sống và lan tỏa khắp bốn phương, góp phần thức tỉnh và hồi sinh ngược trở lại bản gốc. Thực tế nói trên cho thấy đã diễn ra hai quá trình so sánh: lấy “Truyện Kiều” để so sánh với nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” và lấy “Kim Vân Kiều truyện” để so sánh với bản dịch Trung văn “Truyện Kiều” (đáng lẽ phải là “Truyện Kiều” tiếng Việt)… Đây là thách thức không phải chỉ bởi thiên kiến tình cảm mà căn bản bởi những nguyên tắc khoa học của bộ môn so sánh văn học đặt ra, cần được coi trọng và tuân thủ.

Không phải là “sự may mắn...”

Những thiên kiến, định kiến và cả hạn chế trong việc tiếp nhận “Truyện Kiều” đã khiến ông Đổng không đánh giá đúng khả năng lan tỏa và giá trị của tác phẩm này khi so sánh với “Kim Vân Kiều truyện”. Đặt trong tương quan chung, lịch sử tiếp nhận “Truyện Kiều” cho thấy đây là giá trị đích thực chứ không phải chỉ đơn giản là “sự may mắn của Nguyễn Du”. Rồi ngay cả khi ông Đổng nhiệt thành kêu gọi: “Tiểu thuyết “Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân cần được đánh giá lại, ảnh hưởng quan trọng của nó trong lịch sử văn học Trung Quốc, lịch sử văn học thế giới cần được thừa nhận và đánh giá công bằng” thì số phận tác phẩm vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Thêm nữa, “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân được dịch in khá sớm ở Việt Nam (1925) nhưng trước sau vẫn chỉ được xếp loại “thường thường bậc trung”, vậy thôi... Thêm nữa, việc dịch tác phẩm văn xuôi thường vẫn thông thuận hơn thơ ca, vậy mà “Truyện Kiều” vẫn được dịch nhiều và ngày càng tỏa sáng trên văn đàn thế giới, trong khi tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” vẫn không có được sự chú ý cần thiết.

Không chỉ sai lầm từ xuất phát điểm của mục đích nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện”, ông Đổng Văn Thành còn gặp một hạn chế không thể vượt qua là chỉ tiếp xúc với “Truyện Kiều” bản dịch tiếng Trung mà không đọc được bản tiếng Việt. Như nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu đã chỉ ra trong bài “Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch” về những điểm bất cập (1989), kể từ hiểu sai đến chuyển tải sai ý thơ trong bản in của Hoàng Dật Cầu (1959) và khoảng cách tất yếu của tất cả các bản dịch so với nguyên tác. Ở đây chưa bàn đến niềm kính trọng và sự biết ơn to lớn của Phạm Tú Châu và mọi người Việt Nam nói chung trước việc Hoàng Dật Cầu dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Trung mà chỉ giới hạn ở thực tế chất lượng bản dịch, và quan trọng hơn, cái cách mà người đi sau đã dựa vào bản dịch này để thực hành các thao tác so sánh. Đương nhiên việc dịch, đặc biệt với dịch thơ, chỉ có thể chuyển tải được ý thơ, tứ thơ mà không thể dịch được cái thần của chữ, nét vi diệu của nghĩa ẩn trong chữ, và càng không thể chuyển tải được những tình điệu sắc thái tu từ, âm điệu, nhịp điệu, tiết tấu, âm hưởng câu thơ. 

Nói như thế để thấy rằng ông Đổng, cũng như những người đọc “Truyện Kiều” gián tiếp qua bản dịch, chỉ có thể nắm bắt được tương đối một phần nghĩa lý nào đó mà không thể hiểu được đầy đủ tác phẩm gốc và sẽ dẫn đến những so sánh đơn giản, cơ giới, phiến diện, một chiều. Chính vì lẽ đó mà việc ông Đổng mở rộng khảo sát, so sánh, phân tích và nhận diện những sai dị khi đối sánh bản dịch “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện” hầu như chỉ có ý nghĩa cho việc nhuận sắc, đính chính bản dịch chứ không soi sáng được thực chất giá trị thi phẩm. 

Xét về tổng thể, ai cũng biết rằng toàn bộ “Truyện Kiều” là sự rút gọn và biến đổi ít nhiều cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện”. Từ thực tế tiếp cận “Truyện Kiều” nói trên tôi cho rằng một số các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa chú ý đầy đủ tới văn bản nguồn gốc, còn những ý kiến kiểu Đổng Văn Thành lại chỉ so sánh trên phương diện nội dung và các tín hiệu nghệ thuật chung nhất mà không chú ý tới sự chuyển đổi loại hình và khác biệt đặc trưng thể loại, không chú ý đầy đủ tới tâm lý tiếp nhận của dân tộc Việt Nam đối với ngôn ngữ “Truyện Kiều” và hồn thơ tiếng Việt. Vấn đề cốt yếu nhất, có thể nói thay vì so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện”, ông Đổng lại đi so sánh bản dịch Trung văn “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện”, khiến cho sự sai lầm càng đi xa hơn. Nhìn rộng ra, phương hướng nghiên cứu so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện” vẫn tiếp tục là một đề tài hấp dẫn ở phía trước.
Đón đọc kỳ tới: 
Những ngả đường tiếp nhận “Truyện Kiều”
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Xây dựng văn hóa liêm chính từ nền tảng đạo đức và trách nhiệm xã hội
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 51-KH/BTGDVTU ngày 19/5/2026 về tuyên truyền, giáo dục, thực hành liêm chính trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Kế hoạch thể hiện quyết tâm xây dựng nền hành chính liêm chính, văn hóa ứng xử chuẩn mực và môi trường xã hội trong sạch, góp phần tạo dựng nền tảng phát triển Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc.
  • Khơi dậy tinh thần cách mạng từ tấm gương đồng chí Hồ Tùng Mậu
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 32-HD/BTGDVTU ngày 19/5/2026 về tuyên truyền kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Hồ Tùng Mậu (15/6/1896 - 15/6/2026). Hoạt động kỷ niệm nhằm tôn vinh, tri ân những cống hiến to lớn của người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng; đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy tinh thần cống hiến, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới.
  • “Chìa khóa” mở ra diện mạo, sức vóc Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Với tầm nhìn đến năm 2085 là “thành phố Thịnh vượng - Hài hòa - Văn hiến - Bản sắc, đô thị kết nối toàn cầu đặt nền tảng trên giá trị nghìn năm...”, Quy hoạch Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã đưa ra những giải pháp chiến lược, toàn diện. Trong đó, việc tổ chức không gian với cấu trúc “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm” mang tính đột phá là “chìa khóa” mở ra diện mạo, sức vóc của Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới.
  • Phường Phú Thượng: Đưa Luật Thủ đô năm 2026 vào cuộc sống
    Sáng ngày 21/5, UBND phường Phú Thượng tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Thủ đô năm 2026. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng nhằm kịp thời đưa các cơ chế, chính sách đặc thù mới của Luật vào cuộc sống, tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho địa phương ngay từ cơ sở.
  • Hà Nội thử nghiệm Trung tâm điều hành thông minh phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Thành ủy
    Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 72-KH/TU ngày 14/5/2026 về triển khai thử nghiệm Hệ thống Trung tâm điều hành thông minh (IOC) phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội. Việc triển khai thử nghiệm được xác định là bước đi quan trọng nhằm từng bước hình thành phương thức điều hành dựa trên dữ liệu, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong toàn hệ thống chính trị Thành phố.
Đừng bỏ lỡ
  • Biểu diễn nghệ thuật truyền thống vào chiều thứ Bảy hằng tuần tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
    Từ nay đến quý IV năm 2026, Nhà hát Ca Múa Nhạc Thăng Long sẽ tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống định kỳ vào chiều thứ Bảy hằng tuần tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi chương trình có thời lượng khoảng 75 phút với nội dung “Nhạc cụ dân tộc truyền thống và các ca khúc dân ca Việt Nam”.
  • Hà Nội tổ chức Liên hoan nhạc Jazz quốc tế 2026: Định vị thương hiệu Thủ đô Sáng tạo
    Thực hiện Kế hoạch số 192/KH-UBND của UBND thành phố Hà Nội, “Liên hoan nhạc Jazz quốc tế Hà Nội” sẽ chính thức được tổ chức từ ngày 17/9 đến ngày 19/9/2026. Đây là sự kiện văn hóa quy mô lớn, quy tụ từ 5 đến 8 ban nhạc Jazz quốc tế cùng 3 đến 5 ban nhạc tiêu biểu trong nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp văn hóa Thủ đô.
  • Xã Thanh Oai tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng quảng bá văn hóa, con người
    Thiết thực chào mừng kỷ niệm ngày thành lập chính quyền xã (1/7/2025 – 1/7/2026), UBND xã Thanh Oai (TP. Hà Nội) tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) xã nhằm phục vụ hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá và các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hoạt động liên kết, hợp tác phát triển của địa phương.
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Triển lãm “Ngày hội non sông - Lá phiếu của niềm tin và trách nhiệm” nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế tổ chức triển lãm “Ngày hội non sông - Lá phiếu của niềm tin và trách nhiệm” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế.
  • Hà Nội sắc màu trong mùa hoa tháng 5
    Mỗi mùa hè đến, Hà Nội như khoác lên tấm áo mới rực rỡ sắc hoa. Từ sắc tím dịu dàng, đầy lãng mạn của bằng lăng, đến sắc đỏ rực cháy của phượng vĩ, rồi những chùm muồng hoàng yến vàng óng bừng lên giữa bầu trời trong xanh. Tất cả đan cài, hòa quyện tạo nên bức tranh thiên nhiên sống động, làm bừng sáng từng góc phố, mang theo cảm giác dịu mát và ngọt ngào trong những ngày hè oi ả.
  • Hà Nội thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 1857-QĐ/TU ngày 13/5/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối triển khai các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hát Môn lan tỏa tinh thần học và làm theo Bác từ những điều giản dị
    Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), cuộc thi “Tôi kể về tôi trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” lần thứ nhất, năm 2025-2026 do Đảng bộ xã Hát Môn tổ chức đã trở thành hoạt động chính trị, tư tưởng có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc. Không chỉ tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc thi còn góp phần đưa việc học và làm theo Bác đi vào chiều sâu bằng những việc làm cụ thể, gần gũi trong đời sống hằng ngày.
  • Những bản tình ca vang lên giữa không gian văn hóa hồ Gươm
    Vào mỗi cuối tuần, khu vực hồ Hoàn Kiếm luôn đón lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dạo phố. Giữa nhịp chuyển động ấy, những chương trình nghệ thuật ngoài trời đang dần “bồi đắp” thêm diện mạo cho không gian công cộng của Thủ đô, nơi công chúng không chỉ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí mà còn có cơ hội tiếp cận nghệ thuật theo cách gần gũi hơn.
  • Chính phủ phê duyệt chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Hà Nội quản lý
    Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 11/5/2026 về việc chuyển giao quyền quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Quyết định được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành và đề nghị của các bộ ngành liên quan.
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 3 Ông Đổng so sánh "Truyện Kiều" và "Kim Vân Kiều truyện"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO