Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 2 Bàn về văn bản "Truyện Kiều"

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 06/09/2020 22:04

Tham vọng về một văn bản “Truyện Kiều” (các bản Nôm thường ghi “Kim Vân Kiều tân truyện”, “Kim Vân Kiều tân tập”, “Đoạn trường tân thanh”) đạt tới định hướng “chuẩn mực”, “tầm nguyên”, “hướng về nguyên tác”, “hướng tới phục nguyên”, “được đồng thuận cao” đã được đặt ra với hầu hết các nhà khảo cứu, soạn sách, in sách, kể từ các bản Nôm khắc ván, chép tay cũng như việc xác định bản trục và các bản phiên âm Quốc ngữ và việc khảo dị, khảo chứng, chú thích…

Trên đường tiếp nhận
Bìa cuốn “Kiều” nôm lưu trữ tại thư viện Anh quốc (The British Library)
Văn bản Nôm và văn bản phiên âm chữ Quốc ngữ

Vấn đề đặt ra là cần xác định, đánh giá đúng diễn biến và thực trạng tình hình nghiên cứu, xác lập văn bản “Truyện Kiều” từ trước đến nay, từ đó mới có thể định hướng xây dựng được một bản “Truyện Kiều” khả dĩ dựa trên nền tảng khoa học của bộ môn văn bản học và “được đồng thuận cao”… Thực trạng hoạt động khảo cứu và xuất bản “Truyện Kiều” từ trước đến nay cần được nhận thức, xem xét ở hai dạng thức: văn bản chữ Nôm và văn bản phiên âm chữ Quốc ngữ.

Trước hết, nói về nguồn thư tịch “Truyện Kiều” chữ Nôm cần đặc biệt chú ý tới hiện trạng không còn bản gốc, thủ bút, nguyên tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Hơn nữa, bản Nôm có niên đại sớm nhất (mặc dù bị thiếu khuyết đến 864 câu, chỉ còn 2390/3254 câu), được nhà Liễu Văn Đường khắc in năm Tự Đức thứ 19, Bính Dần (1866), cách năm Nguyễn Du qua đời đến 46 năm, ngót nửa thế kỷ, khiến cho hoạt động san khắc sau này ngày một phức tạp.

Thực tế cho thấy không phải bản Nôm có niên đại khắc in sớm nhất đã là quý nhất, giá trị nhất, gần với nguyên tác nhất. Bởi lẽ, có bản dù được khắc in sớm nhưng lại dựa vào bản gốc có niên đại muộn, dung chứa nhiều sự sai lạc, trong khi bản khắc in sau có khả năng lại dựa vào bản gốc có niên đại sớm hơn, gần nguyên tác hơn? Trên cơ sở các bản “Truyện Kiều” Nôm hiện còn, tôi cho rằng cần dứt khoát trở lại với các bản Nôm cổ, định dạng ngay trong thế kỷ XIX. Điều này cũng có nghĩa rằng giới Kiều học đã thẩm định và xác định các bản “Truyện Kiều” Nôm xuất hiện vào thế kỷ XX không mấy giá trị, chỉ là sự sao chép, san khắc, nhuận sắc, nhuận chính, tái bản từ các nguồn văn bản thế kỷ XIX mà thôi. Nhìn lại diễn tiến lịch sử và diện mạo các bản Nôm “Truyện Kiều” có thể thấy khá rõ sự phân loại theo từng hệ phái, từng dòng như “bản phường”, “bản Kinh”, “bản Tiên Điền”, “bản Liễu Văn Đường”, “bản Quan Văn Đường”, “bản Duy Minh Thị”… Trên nền tảng từng dòng văn bản này có thể chọn lọc, xác định được bản trục và hệ thống các bản khảo dị nhằm đạt tới một văn bản “Truyện Kiều” Nôm “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, “được đồng thuận cao”…

Về cơ bản, các nhà Kiều học cũng đã xác định rõ, phần lớn các bản phiên âm “Truyện Kiều” chữ Quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 thường chỉ căn cứ trên một bản Nôm, tức là phiên âm độc bản, có được bản Nôm nào thì phiên theo bản đó. Đây là hoạt động phiên dịch trong tình thế khi chưa sưu tập được nhiều bản Nôm và khoa văn bản học cũng chưa phát triển để lập trình bản trục cùng các bản khảo dị và chú giải…

Có một điều quan trọng cần ghi nhận, trong khi phiên âm theo lối “độc bản” thì các nhà Kiều học giai đoạn trước 1945 đã giải quyết được tương đối triệt để vấn đề chữ nghĩa trong từng bản “Truyện Kiều” Nôm, chưa kể đến thế hệ tiền bối này còn gắn bó, thấm đậm văn hóa Nho giáo, chữ Hán, am hiểu cả cách đọc Nôm và thi ca truyền thống. Chính nhờ thành quả của lớp cha anh đó mà thế hệ các nhà Kiều học sau này có thể kế tục phiên âm, khảo dị, chú giải “Truyện Kiều” một cách thuận lợi. Trong chừng mực nhất định, các bản phiên âm “Truyện Kiều” giai đoạn trước 1945 đã tự trở thành cổ điển, một loại thư tịch không thể thiếu được trong hoạt động nghiên cứu, phiên âm, khảo dị, chú giải “Truyện Kiều”.

Tiến bộ và hệ lụy

Do hoàn cảnh lịch sử qui định, trong khoảng thời gian 1945 - 1975 hầu như không có tiến bộ rõ rệt nào về việc công bố và khảo cứu chuyên sâu văn bản “Truyện Kiều” Nôm. Mặt khác, cũng do điều kiện kỹ thuật in còn hạn chế, hình thức ảnh ấn còn xa lạ nên ngay cả khi có được văn bản mới thì thường vẫn chỉ là những mô tả, thông tin thiếu cụ thể, chính xác. Trên cả hai miền, đóng góp lớn nhất về việc khảo cứu văn bản “Truyện Kiều” Nôm phải kể đến công trình “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh được xuất bản vào cận kề giai đoạn cuối (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974)…

Kể từ thời đất nước Đổi mới (1986) đến nay, hoạt động sưu tầm, khảo cứu, giới thiệu văn bản “Truyện Kiều” Nôm đạt được những tiến bộ vượt bậc nhưng cũng tạo nên hệ lụy “loạn Truyện Kiều”. Nhiều văn bản cổ thuộc thế kỷ XIX trước kia chỉ “nghe nói” thì nay đã được ảnh ấn trọn vẹn bên cạnh phần phiên âm, khảo dị, chú giải (các bản Liễu Văn Đường 1871, Duy Minh Thị 1872, Thịnh Mỹ Đường 1879 và Quan Văn Đường 1879…); đồng thời phát hiện, công bố thêm nhiều văn bản mới (Liễu Văn Đường 1866, Thiếu Tô Lâm 1870, chép tay ở thư viện Anh 1894…). Hoạt động  kiểm kê, tổng kết, phát hiện, bổ sung, hệ thống hóa và giới thiệu một cách tương đối đầy đủ các bản “Truyện Kiều” phiên âm (có kèm theo ảnh ấn nguyên bản Nôm) đã tạo nên sinh khí mới cho bộ môn Kiều học.

Bên cạnh việc tái bản các văn bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ trước 1945 (Bùi Khánh Diễn, Phạm Kim Chi, Nguyễn Can Mộng, Tản Đà, Lê Văn Hòe, Hồ Đắc Hàm, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim…), hoạt động xuất bản “Truyện Kiều” thời Đổi mới diễn ra chủ yếu theo ba phương cách. Đó là tầm nguyên, “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, tức là tạo lập một văn bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ mới dựa trên nhiều bản Nôm khác nhau (Vũ Văn Kính, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Nho Thìn – Nguyễn Tuấn Cường, Phạm Đức Huân, Hội Kiều học…). Phương cách thứ hai là phiên âm, chú giải chuyên biệt về từng bản “Truyện Kiều” Nôm (Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Thế Anh, Nguyễn Bá Triệu, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Khắc Bảo…). Đi theo hướng giải quyết dứt điểm từng văn bản “Truyện Kiều” Nôm, Nguyễn Tài Cẩn có ba công trình chuyên sâu: “Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872” (2002), “Tư liệu Truyện Kiều: Từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu” (2004), “Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh” (2008)… Phương cách thứ ba là đan xen cả hai cách và tạo dựng văn bản mới trên cơ sở tổ hợp các bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ (Nguyễn Khắc Bảo, Lê Quế, Mai Quốc Liên, Đỗ Minh Xuân…). Thực tế cho thấy, tùy thuộc vào nhận thức và phương cách xử lý văn bản “Truyện Kiều” Nôm cũng như cách thức ứng xử với các bản phiên âm Quốc ngữ của người đi trước sẽ dẫn đến hiệu quả và chất lượng các văn bản “Truyện Kiều” mới xuất bản gần đây.

Gắn liền với không khí “trăm hoa đua nở” trong việc xuất bản “Truyện Kiều” gần đây lại là tình trạng “loạn Truyện Kiều” và sự xuất hiện không ít nhà văn bản học “tay ngang” (còn chưa phân biệt rõ “bản gốc” - photo, “nguyên bản” - biên soạn). Xin dẫn hai hiện tượng. Thứ nhất, nhà thơ Vương Trọng nghiêm khắc góp ý: “Những năm gần đây, tác phẩm của Nguyễn Du, đặc biệt là “Truyện Kiều” được xuất bản khá rầm rộ. Ngoài việc tái bản các công trình của các học giả thời trước, nhiều soạn giả mới cũng xuất hiện và cho xuất bản “Truyện Kiều” của mình. Nếu như cách đây dăm chục năm, tìm được một quyển “Kiều” để đọc là một việc khó khăn, thì giờ đây, vào hiệu sách nào ta cũng gặp, tha hồ chọn lựa. Trước hết, đó là điều may mắn cho bạn đọc về mặt số lượng. Còn chất lượng thì sao? Công trình của một số soạn giả mới xuất hiện những năm gần đây chất lượng còn thật hạn chế, dễ làm bạn đọc hiểu sai lệch về nhiều câu, nhiều ý trong “Truyện Kiều”. Tác phẩm “So sánh dị bản Truyện Kiều” của soạn giả Lê Quế, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2006 là một quyển sách như thế” (Nguồn: “Xin đừng hiệu đính Truyện Kiều như thế”. vnca.cand.com.vn › doi-song-van-hoa, 14/7/2008)… Thứ hai, tập sách “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” cũng phải nhận sự chỉ trích mạnh mẽ từ nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Tự cho chữ của mình “hay hơn Nguyễn Du” để lấy lý do đó “sửa” hàng ngàn từ “Truyện Kiều” như Đỗ Minh Xuân đã làm là xúc phạm tiền nhân […]. Tôi có thể không ngạc nhiên mấy về hành động của ông Đỗ Minh Xuân, nhưng tôi vẫn nghi ngờ, không tin nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin lại xuất bản một cuốn sách như thế. Biết đâu đây là một hành động “mạo danh”, in chui dưới cái tên của nhà xuất bản này” (Nguồn: “Sửa hơn 1.000 đơn vị từ của Truyện Kiều: Một hành động vô đạo!” khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, 28/2/ 2015)…

Trên thực tế, sau Đào Duy Anh (1974), khoa văn bản học “Truyện Kiều” hầu như không có thêm thành tựu đột xuất nào. Trước hết, căn bản dung lượng “Truyện Kiều” (3254 câu thơ) không thay đổi. Khác chăng chủ yếu ở một số cách phiên âm khác nhau, không làm thay đổi diện mạo “Truyện Kiều”, kể cả có người muốn làm cuộc “cách mạng” mà thực chất lại làm gia tăng tình trạng nhiễu loạn văn bản “Truyện Kiều”. 

Những năm gần đây đã và rồi sẽ còn có thêm nhiều bản “Truyện Kiều” phiên âm Quốc ngữ khác nữa. Vấn đề quan trọng nhất là cần phải có cách xử lý, lựa chọn, hiệu chỉnh văn bản Nôm một cách chuẩn mực, dựa trên căn bản các phương pháp và thao tác của khoa văn bản học. Do những yêu cầu khác nhau của người đọc “Truyện Kiều” mà việc xuất bản sẽ có những cách thức ứng xử phù hợp (in văn bản phiên âm kèm theo nguyên văn một bản chữ Nôm, hoặc in văn bản phiên âm theo bản trục có bản khảo dị kèm theo ảnh ấn bản trục, hoặc chỉ in phần phiên âm phục vụ đại chúng mà không cần thêm bản chữ Nôm…).

Thay cho lời kết, xin dẫn lại đôi dòng về quan niệm văn bản, phương pháp phiên âm và định hướng nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Nói chung, chúng tôi luôn luôn cố gắng phiên âm theo sát mặt chữ, chỉ những trường hợp thật chắc sai chúng tôi mới chữa. Còn những trường hợp chúng tôi chỉ mới cảm thấy băn khoăn về mặt ý nghĩa của câu của chữ thì chúng tôi vẫn tôn trọng văn bản. Những trường hợp này, nếu xét thấy cần điều chỉnh lại thì chúng tôi xin dành quyền đó cho giới nghiên cứu sau này sẽ làm chứ chúng tôi ít khi dám tự tiện tiến hành trước... Mục đích của chúng tôi khi xuất bản cuốn sách này là phổ biến cho anh chị em trong nước biết về bản Nôm Duy Minh Thị, vì hiện chỉ còn một hai bản lưu trữ ở nước ngoài. Có bản Nôm đó trong tay thì giới nghiên cứu sẽ tự rút ra được những kết luận cần thiết” (Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.398)...

Đón đọc kỳ tới: 
Ông Đổng so sánh “Truyện Kiều” và 
“Kim Vân Kiều truyện”
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Happy Tết 2026: Điểm đến văn hóa – du lịch đặc trưng dịp xuân về của Hà Nội
    Tối 6/2, tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (phường Ba Đình, TP. Hà Nội), Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Thành phố Hà Nội đã khai mạc Chương trình Happy Tết năm 2026 với chủ đề “Tết là hạnh phúc”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Mưa xuân
    Tôi mười bảy tuổi, ở “rừng” về vội vã hít lấy, hít để cái không khí của phố xá như người ta hay gọi là “giải ngố”. Sáng mồng một, trước khi xuất hành đầu năm, mợ tôi nhìn tôi một lượt rồi bảo: “Mày chỉ cần bớt thật đi. Thật quá thành vô tâm đấy Thanh ạ!”...
  • Những cuốn sách Tết đặc sắc dành cho thiếu nhi
    Chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, NXB Kim Đồng giới thiệu tới bạn đọc nhỏ tuổi nhiều ấn phẩm sách Tết đặc sắc, phong phú về thể loại như tuyển tập thơ văn, tranh truyện, sách tương tác… Các cuốn sách không chỉ mang không khí vui tươi của ngày Tết mà còn giúp thiếu nhi hiểu thêm về phong tục đón xuân trên khắp mọi miền đất nước, từ đó nuôi dưỡng tình yêu với Tết cổ truyền của dân tộc.
  • Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội tặng quà Tết 2026 tại Sơn Tây, Tùng Thiện, Đoài Phương
    Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, chiều 6/2, tại hội trường UBND phường Sơn Tây (TP. Hà Nội), Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội (đơn vị bầu cử số 7) phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – chi nhánh Hà Tây 1 tổ chức chương trình tặng quà Tết cho các hộ gia đình, công nhân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã, phường: Sơn Tây, Tùng Thiện, Đoài Phương.
  • Phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Lan tỏa thông tin cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp tới nhân dân
    Ủy ban bầu cử phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám (TP. Hà Nội) vừa công báo thông tin về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 tới toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân trên địa bàn phường.
Đừng bỏ lỡ
  • Lễ hội du lịch chùa Hương năm 2026 hướng tới "An toàn - Thân thiện - Chất lượng"
    Lễ hội truyền thống du lịch chùa Hương năm 2026 diễn ra từ 18/2 đến hết ngày 11/5/2026 (tức từ mùng 2 tháng Giêng đến ngày 25/3 năm Bính Ngọ) với chủ đề xuyên suốt “An toàn - Thân thiện - Chất lượng”.
  • Khám phá Tết xưa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
    Sáng 6/2/2026, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình trải nghiệm văn hóa “Khám phá Tết xưa” thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên và các gia đình tại Hà Nội.
  • Chợ hoa Tết Hàng Lược - Nét đẹp của phiên chợ lâu đời nhất Hà Nội
    Đã trở thành thông lệ, từ ngày 15 đến 30 tháng Chạp âm lịch hằng năm, chợ hoa Hàng Lược (Chợ hoa truyền thống của người Hà Nội) lại họp ngay giữa lòng phố cổ. Người dân từ khắp các vùng trồng hoa mang đào, quất và nhiều chủng loại hoa Tết về, tạo nên một không gian náo nhiệt mang đậm không khí Tết của Hà Thành.
  • “Ngựa và Long Mã trong văn hóa cung đình triều Nguyễn”
    Chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức triển lãm “Ngựa và Long Mã trong văn hóa cung đình thời Nguyễn” tại không gian Viện Cơ Mật.
  • Đón Tết Bính Ngọ 2026 cùng 11 phim Pháp chiếu miễn phí trên DANET
    Tiếp nối thành công của các mùa CINE-TẾT trước, nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, BHD phối hợp với Viện Pháp tại Việt Nam tổ chức chương trình CINE-TẾT 2026, giới thiệu tới khán giả Việt Nam 11 bộ phim Pháp có phụ đề tiếng Việt, phát sóng trực tuyến miễn phí và không giới hạn trên nền tảng DANET trong thời gian từ ngày 12/2 đến 12/3/2026. Đây là hoạt động thường niên nhằm đưa điện ảnh Pháp đến gần hơn với công chúng Việt Nam thông qua hình thức xem phim trực tuyến.
  • Nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung ra mắt chùm ca khúc về quê hương, đất nước
    Chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026, nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung giới thiệu chùm 6 ca khúc tâm huyết viết về quê hương, đất nước. Các tác phẩm được đặt trong một chỉnh thể nghệ thuật có cấu trúc tư tưởng xuyên suốt, khắc họa hình ảnh đất nước từ chiều sâu văn hóa nội sinh đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới.
  • Tạp chí Người Hà Nội gặp mặt, tri ân các văn nghệ sĩ, cộng tác viên tiêu biểu nhân dịp năm mới
    Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngày 4/2, Tạp chí Người Hà Nội tổ chức gặp mặt tri ân các thế hệ cán bộ hưu trí, văn nghệ sĩ, cộng tác viên cùng những đơn vị đã luôn quan tâm, ủng hộ và đồng hành cùng Tạp chí Người Hà Nội trong thời gian qua.
  • Phim Tết “Báu vật trời cho” - Kết nối trò chơi dân gian Việt
    Loạt poster “Báu vật trời cho” được thiết kế theo tinh thần “dân gian”, lấy cảm hứng trực tiếp từ những trò chơi tuổi thơ, biến chất liệu quen thuộc thành ẩn dụ cho các xung đột gia đình, tình yêu và lựa chọn của nhân vật. Phim dự kiến chính thức ra rạp vào mùng 1 Tết 2026.
  • Không gian Tết Việt 2026 chuẩn bị diễn ra tại Công viên Thống Nhất
    Không gian Tết Việt 2026 với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trải nghiệm Tết truyền thống và quảng bá sản phẩm thương mại tiêu biểu lan tỏa giá trị Tết Việt được tổ chức tại Công viên Thống Nhất (Hà Nội) từ ngày 6 đến 13/2.
  • [Podcast] Tản văn: Xuân như ngọc
    Giời đất sang xuân mang về có nửa thiết tha, còn một nửa lòng người gửi trao vào đó. Một năm có tận 4 mùa, nhưng trời đất chỉ chọn mùa xuân để giao hòa - mắt thường nhìn vẫn thấy. Vạn vật sinh sôi, sinh khí dồi dào, người bước vào xuân chộn rộn bao điều.
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 2 Bàn về văn bản "Truyện Kiều"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO