Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 2 Bàn về văn bản "Truyện Kiều"

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 06/09/2020 22:04

Tham vọng về một văn bản “Truyện Kiều” (các bản Nôm thường ghi “Kim Vân Kiều tân truyện”, “Kim Vân Kiều tân tập”, “Đoạn trường tân thanh”) đạt tới định hướng “chuẩn mực”, “tầm nguyên”, “hướng về nguyên tác”, “hướng tới phục nguyên”, “được đồng thuận cao” đã được đặt ra với hầu hết các nhà khảo cứu, soạn sách, in sách, kể từ các bản Nôm khắc ván, chép tay cũng như việc xác định bản trục và các bản phiên âm Quốc ngữ và việc khảo dị, khảo chứng, chú thích…

Trên đường tiếp nhận
Bìa cuốn “Kiều” nôm lưu trữ tại thư viện Anh quốc (The British Library)
Văn bản Nôm và văn bản phiên âm chữ Quốc ngữ

Vấn đề đặt ra là cần xác định, đánh giá đúng diễn biến và thực trạng tình hình nghiên cứu, xác lập văn bản “Truyện Kiều” từ trước đến nay, từ đó mới có thể định hướng xây dựng được một bản “Truyện Kiều” khả dĩ dựa trên nền tảng khoa học của bộ môn văn bản học và “được đồng thuận cao”… Thực trạng hoạt động khảo cứu và xuất bản “Truyện Kiều” từ trước đến nay cần được nhận thức, xem xét ở hai dạng thức: văn bản chữ Nôm và văn bản phiên âm chữ Quốc ngữ.

Trước hết, nói về nguồn thư tịch “Truyện Kiều” chữ Nôm cần đặc biệt chú ý tới hiện trạng không còn bản gốc, thủ bút, nguyên tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Hơn nữa, bản Nôm có niên đại sớm nhất (mặc dù bị thiếu khuyết đến 864 câu, chỉ còn 2390/3254 câu), được nhà Liễu Văn Đường khắc in năm Tự Đức thứ 19, Bính Dần (1866), cách năm Nguyễn Du qua đời đến 46 năm, ngót nửa thế kỷ, khiến cho hoạt động san khắc sau này ngày một phức tạp.

Thực tế cho thấy không phải bản Nôm có niên đại khắc in sớm nhất đã là quý nhất, giá trị nhất, gần với nguyên tác nhất. Bởi lẽ, có bản dù được khắc in sớm nhưng lại dựa vào bản gốc có niên đại muộn, dung chứa nhiều sự sai lạc, trong khi bản khắc in sau có khả năng lại dựa vào bản gốc có niên đại sớm hơn, gần nguyên tác hơn? Trên cơ sở các bản “Truyện Kiều” Nôm hiện còn, tôi cho rằng cần dứt khoát trở lại với các bản Nôm cổ, định dạng ngay trong thế kỷ XIX. Điều này cũng có nghĩa rằng giới Kiều học đã thẩm định và xác định các bản “Truyện Kiều” Nôm xuất hiện vào thế kỷ XX không mấy giá trị, chỉ là sự sao chép, san khắc, nhuận sắc, nhuận chính, tái bản từ các nguồn văn bản thế kỷ XIX mà thôi. Nhìn lại diễn tiến lịch sử và diện mạo các bản Nôm “Truyện Kiều” có thể thấy khá rõ sự phân loại theo từng hệ phái, từng dòng như “bản phường”, “bản Kinh”, “bản Tiên Điền”, “bản Liễu Văn Đường”, “bản Quan Văn Đường”, “bản Duy Minh Thị”… Trên nền tảng từng dòng văn bản này có thể chọn lọc, xác định được bản trục và hệ thống các bản khảo dị nhằm đạt tới một văn bản “Truyện Kiều” Nôm “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, “được đồng thuận cao”…

Về cơ bản, các nhà Kiều học cũng đã xác định rõ, phần lớn các bản phiên âm “Truyện Kiều” chữ Quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 thường chỉ căn cứ trên một bản Nôm, tức là phiên âm độc bản, có được bản Nôm nào thì phiên theo bản đó. Đây là hoạt động phiên dịch trong tình thế khi chưa sưu tập được nhiều bản Nôm và khoa văn bản học cũng chưa phát triển để lập trình bản trục cùng các bản khảo dị và chú giải…

Có một điều quan trọng cần ghi nhận, trong khi phiên âm theo lối “độc bản” thì các nhà Kiều học giai đoạn trước 1945 đã giải quyết được tương đối triệt để vấn đề chữ nghĩa trong từng bản “Truyện Kiều” Nôm, chưa kể đến thế hệ tiền bối này còn gắn bó, thấm đậm văn hóa Nho giáo, chữ Hán, am hiểu cả cách đọc Nôm và thi ca truyền thống. Chính nhờ thành quả của lớp cha anh đó mà thế hệ các nhà Kiều học sau này có thể kế tục phiên âm, khảo dị, chú giải “Truyện Kiều” một cách thuận lợi. Trong chừng mực nhất định, các bản phiên âm “Truyện Kiều” giai đoạn trước 1945 đã tự trở thành cổ điển, một loại thư tịch không thể thiếu được trong hoạt động nghiên cứu, phiên âm, khảo dị, chú giải “Truyện Kiều”.

Tiến bộ và hệ lụy

Do hoàn cảnh lịch sử qui định, trong khoảng thời gian 1945 - 1975 hầu như không có tiến bộ rõ rệt nào về việc công bố và khảo cứu chuyên sâu văn bản “Truyện Kiều” Nôm. Mặt khác, cũng do điều kiện kỹ thuật in còn hạn chế, hình thức ảnh ấn còn xa lạ nên ngay cả khi có được văn bản mới thì thường vẫn chỉ là những mô tả, thông tin thiếu cụ thể, chính xác. Trên cả hai miền, đóng góp lớn nhất về việc khảo cứu văn bản “Truyện Kiều” Nôm phải kể đến công trình “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh được xuất bản vào cận kề giai đoạn cuối (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974)…

Kể từ thời đất nước Đổi mới (1986) đến nay, hoạt động sưu tầm, khảo cứu, giới thiệu văn bản “Truyện Kiều” Nôm đạt được những tiến bộ vượt bậc nhưng cũng tạo nên hệ lụy “loạn Truyện Kiều”. Nhiều văn bản cổ thuộc thế kỷ XIX trước kia chỉ “nghe nói” thì nay đã được ảnh ấn trọn vẹn bên cạnh phần phiên âm, khảo dị, chú giải (các bản Liễu Văn Đường 1871, Duy Minh Thị 1872, Thịnh Mỹ Đường 1879 và Quan Văn Đường 1879…); đồng thời phát hiện, công bố thêm nhiều văn bản mới (Liễu Văn Đường 1866, Thiếu Tô Lâm 1870, chép tay ở thư viện Anh 1894…). Hoạt động  kiểm kê, tổng kết, phát hiện, bổ sung, hệ thống hóa và giới thiệu một cách tương đối đầy đủ các bản “Truyện Kiều” phiên âm (có kèm theo ảnh ấn nguyên bản Nôm) đã tạo nên sinh khí mới cho bộ môn Kiều học.

Bên cạnh việc tái bản các văn bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ trước 1945 (Bùi Khánh Diễn, Phạm Kim Chi, Nguyễn Can Mộng, Tản Đà, Lê Văn Hòe, Hồ Đắc Hàm, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim…), hoạt động xuất bản “Truyện Kiều” thời Đổi mới diễn ra chủ yếu theo ba phương cách. Đó là tầm nguyên, “hướng về nguyên tác”, “phục nguyên”, tức là tạo lập một văn bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ mới dựa trên nhiều bản Nôm khác nhau (Vũ Văn Kính, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Nho Thìn – Nguyễn Tuấn Cường, Phạm Đức Huân, Hội Kiều học…). Phương cách thứ hai là phiên âm, chú giải chuyên biệt về từng bản “Truyện Kiều” Nôm (Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Thế Anh, Nguyễn Bá Triệu, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Khắc Bảo…). Đi theo hướng giải quyết dứt điểm từng văn bản “Truyện Kiều” Nôm, Nguyễn Tài Cẩn có ba công trình chuyên sâu: “Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872” (2002), “Tư liệu Truyện Kiều: Từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu” (2004), “Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh” (2008)… Phương cách thứ ba là đan xen cả hai cách và tạo dựng văn bản mới trên cơ sở tổ hợp các bản “Truyện Kiều” Quốc ngữ (Nguyễn Khắc Bảo, Lê Quế, Mai Quốc Liên, Đỗ Minh Xuân…). Thực tế cho thấy, tùy thuộc vào nhận thức và phương cách xử lý văn bản “Truyện Kiều” Nôm cũng như cách thức ứng xử với các bản phiên âm Quốc ngữ của người đi trước sẽ dẫn đến hiệu quả và chất lượng các văn bản “Truyện Kiều” mới xuất bản gần đây.

Gắn liền với không khí “trăm hoa đua nở” trong việc xuất bản “Truyện Kiều” gần đây lại là tình trạng “loạn Truyện Kiều” và sự xuất hiện không ít nhà văn bản học “tay ngang” (còn chưa phân biệt rõ “bản gốc” - photo, “nguyên bản” - biên soạn). Xin dẫn hai hiện tượng. Thứ nhất, nhà thơ Vương Trọng nghiêm khắc góp ý: “Những năm gần đây, tác phẩm của Nguyễn Du, đặc biệt là “Truyện Kiều” được xuất bản khá rầm rộ. Ngoài việc tái bản các công trình của các học giả thời trước, nhiều soạn giả mới cũng xuất hiện và cho xuất bản “Truyện Kiều” của mình. Nếu như cách đây dăm chục năm, tìm được một quyển “Kiều” để đọc là một việc khó khăn, thì giờ đây, vào hiệu sách nào ta cũng gặp, tha hồ chọn lựa. Trước hết, đó là điều may mắn cho bạn đọc về mặt số lượng. Còn chất lượng thì sao? Công trình của một số soạn giả mới xuất hiện những năm gần đây chất lượng còn thật hạn chế, dễ làm bạn đọc hiểu sai lệch về nhiều câu, nhiều ý trong “Truyện Kiều”. Tác phẩm “So sánh dị bản Truyện Kiều” của soạn giả Lê Quế, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2006 là một quyển sách như thế” (Nguồn: “Xin đừng hiệu đính Truyện Kiều như thế”. vnca.cand.com.vn › doi-song-van-hoa, 14/7/2008)… Thứ hai, tập sách “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” cũng phải nhận sự chỉ trích mạnh mẽ từ nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Tự cho chữ của mình “hay hơn Nguyễn Du” để lấy lý do đó “sửa” hàng ngàn từ “Truyện Kiều” như Đỗ Minh Xuân đã làm là xúc phạm tiền nhân […]. Tôi có thể không ngạc nhiên mấy về hành động của ông Đỗ Minh Xuân, nhưng tôi vẫn nghi ngờ, không tin nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin lại xuất bản một cuốn sách như thế. Biết đâu đây là một hành động “mạo danh”, in chui dưới cái tên của nhà xuất bản này” (Nguồn: “Sửa hơn 1.000 đơn vị từ của Truyện Kiều: Một hành động vô đạo!” khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, 28/2/ 2015)…

Trên thực tế, sau Đào Duy Anh (1974), khoa văn bản học “Truyện Kiều” hầu như không có thêm thành tựu đột xuất nào. Trước hết, căn bản dung lượng “Truyện Kiều” (3254 câu thơ) không thay đổi. Khác chăng chủ yếu ở một số cách phiên âm khác nhau, không làm thay đổi diện mạo “Truyện Kiều”, kể cả có người muốn làm cuộc “cách mạng” mà thực chất lại làm gia tăng tình trạng nhiễu loạn văn bản “Truyện Kiều”. 

Những năm gần đây đã và rồi sẽ còn có thêm nhiều bản “Truyện Kiều” phiên âm Quốc ngữ khác nữa. Vấn đề quan trọng nhất là cần phải có cách xử lý, lựa chọn, hiệu chỉnh văn bản Nôm một cách chuẩn mực, dựa trên căn bản các phương pháp và thao tác của khoa văn bản học. Do những yêu cầu khác nhau của người đọc “Truyện Kiều” mà việc xuất bản sẽ có những cách thức ứng xử phù hợp (in văn bản phiên âm kèm theo nguyên văn một bản chữ Nôm, hoặc in văn bản phiên âm theo bản trục có bản khảo dị kèm theo ảnh ấn bản trục, hoặc chỉ in phần phiên âm phục vụ đại chúng mà không cần thêm bản chữ Nôm…).

Thay cho lời kết, xin dẫn lại đôi dòng về quan niệm văn bản, phương pháp phiên âm và định hướng nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Nói chung, chúng tôi luôn luôn cố gắng phiên âm theo sát mặt chữ, chỉ những trường hợp thật chắc sai chúng tôi mới chữa. Còn những trường hợp chúng tôi chỉ mới cảm thấy băn khoăn về mặt ý nghĩa của câu của chữ thì chúng tôi vẫn tôn trọng văn bản. Những trường hợp này, nếu xét thấy cần điều chỉnh lại thì chúng tôi xin dành quyền đó cho giới nghiên cứu sau này sẽ làm chứ chúng tôi ít khi dám tự tiện tiến hành trước... Mục đích của chúng tôi khi xuất bản cuốn sách này là phổ biến cho anh chị em trong nước biết về bản Nôm Duy Minh Thị, vì hiện chỉ còn một hai bản lưu trữ ở nước ngoài. Có bản Nôm đó trong tay thì giới nghiên cứu sẽ tự rút ra được những kết luận cần thiết” (Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.398)...

Đón đọc kỳ tới: 
Ông Đổng so sánh “Truyện Kiều” và 
“Kim Vân Kiều truyện”
(0) Bình luận
  • Xiaomi 17T và công thức cận flagship dành cho người thích camera Leica
    Xiaomi 17T là một trong những mẫu máy đáng chú ý của Xiaomi T Series khi tập trung vào camera Leica, màn hình đẹp, pin lớn và hiệu năng mạnh trong tầm giá cận flagship. Với người dùng muốn một chiếc điện thoại phục vụ tốt chụp ảnh, giải trí, học tập và làm việc, Xiaomi 17T mang đến nhiều điểm đáng cân nhắc.
  • Chụp ảnh cưới ‘All In One' tại Mimosa Wedding
    Trong bối cảnh ngành dịch vụ cưới ngày càng phát triển, vô hình trung nỗi lo của khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhiều hơn. Thực tế này đang thúc đẩy một làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của các cặp đôi sang mô hình dịch vụ trọn gói (All in one). Bên cạnh yếu tố tiện lợi, thế hệ trẻ hiện nay cũng khắt khe hơn về mặt thẩm mỹ, họ hướng tới sự cá nhân hóa, cảm xúc chân thực và từ chối các khuôn mẫu rập khuôn có sẵn khi tìm kiếm dịch vụ chụp ảnh cưới đẹp ở Hà Nội.
  • Triển lãm "Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử": Không gian nghệ thuật tôn vinh đạo học Việt Nam
    Hướng tới kỷ niệm 950 năm ra đời Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076 - 2026), chiều 27/5, triển lãm nghệ thuật “Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử” đã khai mạc tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
  • "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" giới thiệu 20 tác phẩm hội hoạ của vua Hàm Nghi tại Hà Nội
    Từ 24/4 đến 10/5, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Triển lãm "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" – do Art Nation giới thiệu, quy tụ các tác phẩm hội họa tiêu biểu của vua Hàm Nghi.
  • Triển lãm ảnh “Hà Nội trong tôi” 2025: Hà Nội trong Kỷ nguyên vươn mình
    Sáng 8/10, Báo Kinh tế & Đô thị phối hợp với Câu lạc bộ Nhiếp ảnh người cao tuổi Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc Triển lãm ảnh “Hà Nội trong tôi” lần thứ 20 - năm 2025 với chủ đề “Hà Nội trong Kỷ nguyên vươn mình”.
  • Khai mạc Triển lãm mỹ thuật của các thế hệ giảng viên Khoa Đồ hoạ - Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
    Sáng ngày 1/10/2025, tại Nhà Bảo tàng số 42 phố Yết Kiêu, Hà Nội, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ khai mạc Triển lãm mỹ thuật (Triển lãm tháng 10) của các thế hệ giảng viên Khoa Đồ hoạ - Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Triển lãm nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 100 năm thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương - Đại học Mỹ thuật Việt Nam.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chính sách mới trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến các nghệ sĩ gạo cội
    Nghị định mới của Chính phủ quy định mới về tăng cường đãi ngộ cho viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trực tiếp hoạt động hoặc phục vụ trong ngành nghệ thuật biểu diễn. Chính sách áp dụng lộ trình tăng phụ cấp ưu đãi nghề theo đặc thù chuyên môn qua hai giai đoạn, đồng thời cộng thêm phụ cấp cho nghệ sĩ gạo cội và nhân sự vùng khó khăn. Chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn tính theo buổi thực tế cũng ghi nhận mức điều chỉnh tăng mạnh kể từ giữa năm 2027.
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Cuộc đối thoại của âm nhạc quốc tế giữa lòng Hà Nội
    Những nghệ sĩ vượt hàng nghìn kilomet để đến Hà Nội, những người con Việt Nam trở về sau các chuyến lưu diễn quốc tế và các tài năng trẻ từ nhiều nền văn hóa đã cùng nhau kể một câu chuyện chung bằng ngôn ngữ của âm nhạc trong chương trình nghệ thuật đặc biệt “Crescendo - Giao hưởng kết nối”. Đó không chỉ là một đêm hòa nhạc giàu giá trị nghệ thuật mà còn là cuộc gặp gỡ của những hành trình âm nhạc đa quốc gia giữa lòng Thủ đô Hà Nội - điểm hẹn của các sự kiện âm nhạc và giao lưu văn hóa quốc tế.
  • Hà Nội quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026
    Đảng bộ, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Thủ đô khẳng định quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 11% trong năm 2026.
  • Xã Thường Tín thông tin về giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1A lên 90m
    Xã Thường Tín đã tổ chức họp dân để thông tin về việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1A lên 90m.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát động Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" lần thứ 2
    Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật toàn quốc về Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" năm 2026 được tổ chức nhằm tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị đặc sắc của nghệ thuật xiếc Việt Nam; tạo sân chơi sáng tạo cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh nghệ thuật xiếc đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
  • Dấu thời gian trên những ban công phố cổ
    Trên những phố cổ Hà Nội, các ban công cũ kỹ với lan can sắt, cửa chớp và những chậu cây xanh vẫn hiện diện như những “nhân chứng” của thời gian. Mỗi khung hình là một lát cắt ký ức, gợi nhớ về diện mạo của Hà Nội một thời.
  • Âm nhạc cuối tuần : “Bản hòa ca” của những cuộc giao lưu văn hóa
    Sau thành công của chương trình nghệ thuật đặc biệt “Crescendo - Giao hưởng kết nối” trong khuôn khổ Liên hoan Âm nhạc Quốc tế Crescendo - Hà Nội 2026 diễn ra vào tối 4/7, chiều 5/7, Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục chào đón đông đảo công chúng đến với chương trình “Âm nhạc cuối tuần”. Hai chương trình mang màu sắc khác nhau nhưng đều góp phần khẳng định vai trò ngày càng rõ nét của không gian di sản này như một điểm hẹn văn hóa mở, nơi âm nhạc kết nối cộng đồng, lan tỏa bản sắc Hà Nội và mở rộng cánh cửa giao lưu với thế giới.
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • “Crescendo - Giao hưởng kết nối”: Đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống
    Tối 4/7, tại Nhà Bát Giác - không gian mở bên hồ Hoàn Kiếm, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Crescendo - Giao hưởng kết nối”. Chương trình khẳng định cam kết phát triển văn hóa Thủ đô theo định hướng “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo - Hội nhập - Kết nối”, đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống.
  • Ra mắt sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”
    Chiều 4/7, tại VNU Bookstore (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty Cổ phần Xuất bản và Giáo dục Quảng Văn tổ chức ra mắt cuốn sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”. Thông qua hành trình của một chú voi nhỏ, cuốn sách gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
  • Lễ hội Áo dài Du lịch Hà Nội 2026: Mang "hơi thở đương đại" vào lòng phố cổ
    Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và chương trình xúc tiến du lịch trọng điểm của Thủ đô, Lễ hội Áo dài Du lịch Hà Nội năm 2026 chính thức được khởi động. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch thường niên quy mô lớn, mang sứ mệnh tôn vinh, bảo tồn giá trị tà áo dài truyền thống, đồng thời mở ra những chương mới cho sự phát triển của du lịch Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung trong lòng bạn bè quốc tế.
  • Hơn 100 nghệ sĩ sẽ tham gia biểu diễn tại đại nhạc kịch "Đất nước thiên hùng ca"
    Với sự hội tụ của nhiều loại hình nghệ thuật, công nghệ trình diễn đỉnh cao và nội dung đặc biệt ý nghĩa, “Đất nước thiên hùng ca” tái hiện 4.000 năm lịch sử sống động trong 75 phút với những trải nghiệm đa giác quan lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Show sẽ công diễn chính thức từ ngày 10/7/2026 tại Vinpearl Theatre (Ocean City, Hà Nội).
  • Kể câu chuyện “Áo dài Huế - Dòng chảy di sản và hội nhập” bên dòng sông Hương
    Các nhà thiết kế nổi tiếng cùng nghệ sĩ, diễn viên và người mẫu trình diễn “Áo dài Huế - Dòng chảy di sản và hội nhập” bên dòng sông Hương, mở màn cho Tuần lễ Áo dài Huế 2026.
  • Công nhận khu du lịch cấp thành phố đối với Khu du lịch Hồ Tây và vùng phụ cận
    Khu du lịch Hồ Tây và vùng phụ cận sở hữu cảnh quan thiên nhiên khoáng đạt với mặt nước hồ mênh mông, kết hợp hài hòa với hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa tâm linh lâu đời như chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ và các làng nghề truyền thống đặc sắc...
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 2 Bàn về văn bản "Truyện Kiều"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO