Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam

VNHN| 11/01/2020 20:16

Kết nối mạng là một trong những hành vi được người lao động thực hiện trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, đây là một trong các thuật ngữ khá mới mẻ đối với người lao động tại Việt Nam cũng như một số quốc gia có nền kinh tế mới nổi trên thế giới. Bài viết trên cơ sở trình bày một số khái niệm, cách thức đo lường và cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm giúp cá nhân người lao động hiểu rõ để thực hiện hành vi kết nối mạng một cách hiệu quả trong quá trình làm việc.

Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam

Ảnh minh họa

I. Giới thiệu chung

Kết nối mạng lưới quan hệ dưới dạng hành vi được sử dụng như là một phương pháp tạo ra những yếu tố thuận lợi để phát triển cho sự nghiệp của các cá nhân (Wolff và Moser, 2009). Bên cạnh đó, hành vi kết nối mạng lưới quan hệ (gọi chung là hành vi kết nối mạng trong bài viết này) đóng góp vào các hoạt động của tổ chức bằng cách hỗ trợ tuyền thông trong tổ chức và tiếp cận các nguồn lực. Theo Torres, 2005, hành vi và cách thức kết nối mạng của một người có ảnh hưởng lớn đến thành công của một cá nhân hơn là khả năng, kiến thức và kinh nghiệm của họ.

Chúng ta biết, con người (bao gồm tập hợp các nhà quản lý các cấp và các nhân viên) trong tổ chức là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Chính vì vậy, mọi nhà quản lý, điều hành đều đặt mối quan tâm về con người lên hàng đầu trong chiến lược xây dựng và phát triển tổ chức. Việc thực hiện kết nối mạng trong tổ chức như thế nào là một trong những cách khai thác và phát huy tốt nhất nguồn nhân lực của tổ chức. Bên cạnh đó, việc kết nối và thực hiện hành vi kết nối mạng bên ngoài tổ chức cũng đóng vai trò rất lớn đến tổ chức. Và đặc biệt hơn, hành vi kết nối mạng của mỗi cá nhân người lao động nói chung, đội ngũ giám đốc nói riêng sẽ có tác động trực tiếp lên sự thành công trong sự nghiệp của chính bản thân họ.

Mục tiêu của bài báo là tổng kết, nghiên cứu và tổng hợp các lý thuyết về định nghĩa, cơ chế về hoạt động kết nối mạng của người lao động trong tổ chức. Bên cạnh đó, các chỉ dẫn về phương pháp tiếp cận để đo lường được thảo luận. Cuối cùng, nhóm tác giả muốn nhấn mạnh đến cơ chế hoạt động kết nối mạng và đưa ra một số gợi ý cho người lao động Việt Nam.

II. Tổng quan về hành vi kết nối mạng

1. Một số định nghĩa về kết nối mạng và hành vi kết nối mạng

"Kết nối mạng là gì" từ lâu luôn là một câu hỏi mà các nhà nghiên cứu vẫn tìm kiếm câu trả lời trong nhiều nghiên cứu của mình.

Gould và Penley (1984) đã cung cấp một trong những định nghĩa thực nghiệm đầu tiên về kết nối, trong đó mô tả kết nối mạng là thực tiễn phát triển một hệ thống hoặc “kết nối” các địa chỉ liên lạc bên trong và hoặc bên ngoài tổ chức nhằm cung cấp thông tin nghề nghiệp có liên quan và hỗ trợ cho cá nhân.

Michael và Yukl (1993) đã có một quan điểm cá nhân hơn bằng cách xác định hành vi kết nối mạng là hành vi được thiết kế để xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân không chính thức với mọi người trong và ngoài tổ chức.

Ngược lại, Orpen (1996) tin rằng, kết nối chủ yếu tập trung vào lợi ích và đề cập chủ yếu đến các kết nối bên ngoài. Theo đó, Orpen xác định kết nối mạng là quá trình xây dựng và duy trì một tập hợp các mối quan hệ hợp tác không chính thức với những người không phải là cấp trên và cấp dưới của người quản lý với mong muốn rằng các mối quan hệ như vậy sẽ giúp đỡ hoặc giúp người quản lý thực hiện tốt hơn công việc của mình.

Một số học giả xem các hành vi kết nối mạng tập trung vào mục tiêu xây dựng các mối quan hệ sẽ giúp các cá nhân tiến bộ trong sự nghiệp của họ (ví dụ: Forret và Dougherty, 2004). Trong khi một số khác lại cho rằng, định nghĩa về kết nối mạng là nỗ lực cá nhân để phát triển và duy trì mối quan hệ với những người khác có tiềm năng giúp đỡ họ trong công việc hoặc sự nghiệp của họ. Tương tự như vậy, Wolff và Moser đã xác định kết nối mạng là hành vi nhằm mục đích xây dựng, duy trì và sử dụng các mối quan hệ không chính thức có lợi (tiềm năng) trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động liên quan đến công việc của cá nhân bằng cách tự nguyện tiếp cận các nguồn lực và tối đa hóa lợi ích chung.

Như vậy, qua các khái niệm trên có thể hiểu bản chất của hành vi kết nối mạng như sau:

1) Thể hiện hành động và thái độ cụ thể của người lao động trong mối quan hệ với người khác nhằm mục đích có lợi cho sự phát triển sự nghiệp cá nhân. Điều này có nghĩa là hành vi kết nối mạng mang tính cá nhân. Hành vi kết nối mạng gắn liền với cá nhân, công việc và tổ chức.

2) Hành vi kết nối mạng được thực hiện cả bên trong và bên ngoài tổ chức của người đó. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng kết nối nội bộ có thể có giá trị hơn kết nối bên ngoài (Wolff và Moser, 2009), những lợi ích của kết nối bên ngoài có thể tạo điểm nhấn tốt hơn trong các ngành cạnh tranh với sự di chuyển lớn hơn giữa các công việc và tổ chức. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kết nối nội bộ và kết nối bên ngoài có thể mang lại những kết quả khác nhau (Wolff và Moser, 2010). Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải xem xét cả hai loại kết nối khi phát triển một lý thuyết toàn diện về kết nối trong các tổ chức.

3) Sự phân biệt các giai đoạn phát triển trong mối quan hệ kết nối mạng. Một số định nghĩa đề cập đến việc thiết lập và duy trì mối quan hệ, trong khi một số khác bao gồm việc duy trì các địa chỉ liên lạc đã được thiết lập. Điều này mang những ý nghĩa quan trọng thể hiện kết nối mạng là một quá trình tích cực và liên tục, chứ không đơn giản chỉ là gặp gỡ những người mới. Các mối quan hệ kết nối tồn tại dựa trên chất lượng và lợi ích mà nó mang lại. Một số liên kết chắc chắn sẽ mạnh hơn các liên kết khác và sẽ hữu ích trong các tình huống và thời gian khác nhau trong mối quan hệ kết nối.

4) Hành vi được thúc đẩy bởi mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, mục đích rõ ràng của việc kết nối không nhất quán trong các định nghĩa, đôi khi hành vi kết nối mạng đề cập đến việc trợ giúp trong công việc hoặc nghề nghiệp, trao đổi thông tin, lợi ích và ảnh hưởng, hoặc tiếp cận các nguồn lực và tối đa hóa lợi thế của những cá nhân có liên quan.

2. Đo lường sự kết nối mạng và hành vi kết nối mạng

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc tiến hành nghiên cứu về kết nối mạng là quyết định cách đo lường tốt nhất. Kết nối mạng thể hiện thông qua hành vi kết nối mạng, được coi là một cấu trúc phức tạp và năng động dẫn đến các sự thay đổi trong hoạt động. Thực tế cho thấy, phần lớn các nghiên cứu định lượng đo lường hành vi kết nối thông qua các hành vi, tần suất lặp lại của hành vi tại cùng thời điểm với các biến số quan tâm. Các hành vi kết nối mạng có thể được đo lường thông qua cách phân loại: Hành vi kết nối mạng bên trong và hành vi kết nối mạng bên ngoài; hoặc phân loại các loại hành vi với các nội dung cụ thể, ví dự như: duy trì liên lạc, tham gia các hoạt động chuyên nghiệp, tham gia các hoạt động cộng đồng, hay các hoạt động nội bộ trong doanh nghiệp.

Thông thường, sự đo lường hành vi kết nối mạng liên quan đến 1 yếu tố đầu ra nhất định, chẳng hạn, nếu nhà nghiên cứu quan tâm đến kết quả của hành vi kết nối mạng tương tác đến một yếu tố nhất định, ví dụ như sự thành công hay đầu ra của sự nghiệp, thì các hành vi kết nối mạng và kết quả tác động sẽ được đo lường tại một thời điểm và phân tích bằng cách sử dụng các hành vi kết nối mạng để dự đoán các yếu tố tương tác đầu ra đó.

III. Cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng

Việc phát triển nghiên cứu thực nghiệm về hành vi kết nối mạng của các cá nhân trong các tổ chức luôn dựa trên hai cơ chế tiềm năng, bao gồm: Tiếp cận thông tin và Vốn xã hội.

1. Tiếp cận thông tin

Một cơ chế có thể làm trung gian mối quan hệ giữa kết nối mạng và kết quả đầu ra nhất định là tiếp cận thông tin. Các hành vi kết nối chuyên nghiệp và phát triển tốt hơn sẽ cho phép các cá nhân truy cập vào một phạm vi thông tin rộng hơn. Điều này sẽ giúp họ có được thông tin liên quan mới về việc làm, sự phát triển trong tổ chức và sự hiểu biết toàn diện hơn về các tình huống phát sinh trong hoạt động làm việc để hỗ trợ hoạt động trong sự nghiệp của họ.

Hỗ trợ khái niệm này, Seidel et al (2000) nhận thấy rằng, các mạng lưới quan hệ xã hội có xu hướng giúp cho người lao động kết quả đàm phán tiền lương tốt hơn cho người lao động. Các thông tin sẽ được chia sẻ giữa các cá nhân, giúp cho họ có kết nối mạng xã hội tốt hơn, có khả năng thương lượng mức lương cao hơn. Thông tin này đặc biệt hữu ích khi các nhân viên có thể tham khảo từ các đồng nghiệp có ảnh hưởng và uy tín. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nên chú ý cách mà một cá nhân tương tác với kết nối mạng với người khác. Qua nghiên cứu của Judge và Bretz (1994), các nhà nghiên cứu khác nhận thấy rằng, hành vi kết nối mạng có thể hình thành một cách rất đơn giản bởi vì cá nhân sẽ thân thiện với những người có ảnh hưởng đến sự nghiệp của chính họ. Những người có hành vi kết nối mạng đặc biệt, có thể đạt được thành công trong sự nghiệp thông qua việc biết và tiếp xúc với "đúng" người.

Bằng cách tiếp cận thông tin hạn chế, các cá nhân có quan hệ tốt có thể hiểu sâu hơn về cách thức và các thủ tục hướng dẫn các quyết định tuyển dụng và đề bạt, thăng tiến và điều chỉnh hành vi của họ cho phù hợp với 1 tổ chức nhất định. Những người có hành vi kết nối mạng đặc biệt, có thể đạt được thành công trong sự nghiệp thông qua việc biết và tiếp xúc với "đúng" người, giúp họ thăng tiến hơn trong tương lai.

2. Vốn xã hội

Một cơ chế thứ hai là nền tảng cho hoạt động kết nối mạng chính là vốn xã hội. Vốn xã hội được định nghĩa là sự thiện chí có sẵn cho các cá nhân hoặc các nhóm (Adler và Kwon, 2002). Mặc dù các khái niệm về vốn xã hội và kết nối mạng đã được xem xét cùng nhau, các nhà nghiên cứu vẫn còn trao đổi về các cách thức vốn xã hội liên quan đến kết nối mạng và hành vi kết nối mạng.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, vốn xã hội đề cập đến một mức độ phân tích khác nhau (Wolff và Moser, 2009). Theo quan điểm này, hành vi kết nối mạng và sự kết nối mạng là một cấu trúc ở cấp độ cá nhân, trong khi vốn xã hội đang hoạt động ở mức cao hơn. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu khác lập luận rằng, hành vi kết nối mạng và sự kết nối mạng nên thuộc về nguồn vốn xã hội (ví dụ như Forret và Dougherty, 2001) theo nghĩa các hành vi kết nối mạng có thể giúp xây dựng vốn xã hội. Vốn xã hội ở cấp độ cá nhân được xem như là cấu trúc của các kết nối mạng liên lạc cá nhân và vận hành một cơ chế kết nối mạng.

Hành vi kết nối mạng có thể được hiểu như là một kết nối riêng lẻ, trong đó, cá nhân đang xây dựng và nuôi dưỡng một cấu trúc hỗ trợ và cá nhân có thể không tham gia tiếp sự kết nối mạng này sau khi đạt được mục đích. Ví dụ: nhân viên tận dụng thời gian để tìm hiểu và phát triển mối quan hệ với đồng nghiệp, sau đó họ được đề bạt, họ có thể sẽ dựa vị trí công việc mới sau khi được đề bạt để biết thông tin hoặc tìm kiếm các đặc quyền khác trong tương lai.

Tóm lại, kết nối mạng có thể dựa trên cơ chế tiếp cận thông tin hoặc vốn xã hội để giải thích cơ chế vận hành của hành vi kết nối mạng giữa các cá nhân với nhau trong tổ chức hay với các yếu tố bên ngoài tổ chức, nhằm tìm kiếm những nguồn tài nguyên có lợi cho sự phát triển cá nhân nhất định.

IV. Một số gợi ý cho người lao động

Trên cơ sở phân tích định nghĩa và cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng nói chung, nhóm tác giả xin đề xuất một số gợi ý nhằm giúp cá nhân người lao động thực hiện hành vi kết nối mạng đạt hiệu quả. Cụ thể:

Một là, mỗi cá nhân người lao động cần xác định chính xác những đối tượng và mục tiêu để thực hiện hành vi kết nối mạng. Trong quá trình làm việc, học tập, mỗi cá nhân người lao động đôi khi chưa xác định đúng đối tượng nên mục tiêu cũng không thể thực hiện được. Do đó, việc xác định cụ thể, chính xác đối tượng, mục tiêu đề ra mới có thể thực hiện và cho kết quả.

Hai là, cần xây dựng và thực hiện cách thức và hoạt động kết nối mạng phù hợp. Mỗi cá nhân thường có những cách thức kết nối mạng khác nhau, ví dụ như duy trì liên lạc bằng cách trao đổi điện thoại với đối tác, hay gửi tặng các món quà… hoặc đăng kí tham gia những câu lạc bộ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các cá nhân cần xây dựng và thực hiện cách thức hoạt động phù hợp về mặt thời gian và nguồn lực tài chính.

Ba là, cần phải xác định các nguyên tắc cá nhân trong việc thực hiện hành vi kết nối mạng. Với cá nhân, cần thực hiện các nguyên tắc trong giao tiếp phù hợp, ví dụ với việc gấp, hãy trao đổi chậm rãi, hay cẩn thận khi trao đổi về những việc mà mình không biết rõ. Với tổ chức, cần thực hiện theo quy định khi tham gia tổ chức, ví dụ như tham gia các câu lạc bộ, các hoạt động chuyên nghiệp (hội thảo).

Bốn là, cần xây dựng hành vi kết nối mạng có tầm chiến lược nhằm kết nối trong mỗi thời kỳ hoạt động và phát triển sự nghiệp cụ thể. Tại mỗi thời điểm cụ thể, trạng thái hoạt động và nguồn lực của mỗi cá nhân sẽ khác nhau, đặc biệt là trong quá trình phát triển sự nghiệp cụ thể hay tìm kiếm thông tin để thay đổi công việc. Chính vì vậy, việc xác định và thực hiện hành vi kết nối mạng cần phải thực hiện phù hợp cho mỗi giai đoạn này.

ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH -  Đại học Điện lực và PGS. TS. TRẦN XUÂN CẦU Nguyên trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế quốc dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Adler, P.S. and Kwon, S.-W. (2002). "Social capital: Prospects for a new concept", Academy of Management Review, Vol. 27 No. 1, pp. 17 - 40.

2. Forret, M.L. and Dougherty, T.W. (2001). "Correlates of networking behavior for managerial and professional employees", Group & Organization Management, Vol. 26 No. 3, pp. 283 - 311.

3. Forret, M.L. and Dougherty, T.W. (2004). "Networking behaviors and career outcomes: Differences for men and women?", Journal of Organizational Behavior, Vol. 25 No. 3, pp. 419 - 437.

4. Gould, S. and Penley, L.E. (1984), "Career strategies and salary progression: A study of their relationships in a municipal bureaucracy", Organizational Behavior and Human Performance, Vol. 34 No. 2, pp. 244 - 265.

5. Judge, T.A. and Bretz, R.D. (1994), "Political influence behavior and career success", Journal of Management, Vol. 20 No. 1, pp. 43 - 65.

6. Michael, J. and Yukl, G. (1993), "Managerial level and subunit function as determinants of networking behavior in organizations", Group & Organization Management, Vol. 18 No. 3, pp. 328 - 351.

7. Orpen, C. (1996). "Dependency as a moderator of the effects of networking behavior on managerial career success", The Journal of Psychology, Vol. 30 No. 3, pp. 245 - 248.

8. Seidel, M. D. L., Polzer, J. T., & Stewart, K. J. (2000). Friends in high places: The effects of social networks on discrimination in salary negotiations, Administrative Science Quarterly, 45, 1 - 24.

9. Torres, N.L. (2005), "It’s who you know", Entrepreneur, Vol. 33, pp. 128 - 132.

10. Wolff, H.-G. and Moser, K. (2009). "Effects of networking on career success: A longitudinal study", Journal of Applied Psychology, Vol. 94 No. 1, pp. 196 - 206.

https://vietnamhoinhap.vn/article/hanh-vi-ket-noi-mang-luoi-va-co-che-hoat-dong-mot-so-goi-y-cho-nguoi-lao-dong-lam-viec-tai-viet-nam---n-26069

(0) Bình luận
  • Lễ tôn vinh “Thương hiệu Vàng Chất lượng Quốc tế 2026”
    Ngày 24/05/2025, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế – Văn phòng Chính phủ (11 Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội), Diễn đàn “Phát triển Kinh tế, Đổi mới sáng tạo, Chống hàng giả và Phát triển thương hiệu uy tín bền vững năm 2026” kết hợp Lễ Biểu dương “Thương hiệu Vàng Chất lượng Quốc tế 2026” – Lần thứ VII đã được tổ chức long trọng với sự tham dự của đông đảo lãnh đạo, chuyên gia, doanh nhân và đại diện cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước.
  • Xây dựng văn hóa liêm chính từ nền tảng đạo đức và trách nhiệm xã hội
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 51-KH/BTGDVTU ngày 19/5/2026 về tuyên truyền, giáo dục, thực hành liêm chính trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Kế hoạch thể hiện quyết tâm xây dựng nền hành chính liêm chính, văn hóa ứng xử chuẩn mực và môi trường xã hội trong sạch, góp phần tạo dựng nền tảng phát triển Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc.
  • Phường Yên Nghĩa trao Huy hiệu Đảng dịp 19/5 tới các đảng viên lão thành
    Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), Đảng bộ phường Yên Nghĩa (TP. Hà Nội) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 19/5 cho các đảng viên lão thành đang sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc Đảng bộ phường.
  • Quyết định nhiều nội dung về kinh tế - xã hội để đất nước phát triển nhanh, bền vững
    Trong trong công tác lập pháp, tại kỳ họp thứ nhất vừa qua, Quốc hội khóa XVI đã xem xét, thông qua nhiều nội dung về kinh tế - xã hội cùng các nội dung quan trọng khác, từ đó kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
  • Dấu ấn Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI (Bài 2): Hoàn thiện thể chế, tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” để phát triển đất nước
    Việc Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua 9 Luật và 5 Nghị quyết quy phạm pháp luật tại kỳ họp thứ nhất đã kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các chính sách được ban hành mang đậm tinh thần đổi mới và hành động quyết liệt để tập trung hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực, tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình phát triển của đất nước.
  • Phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Tổ chức Hội nghị ký kết Chương trình phối hợp công tác Tuyên giáo, Dân vận giai đoạn 2026 - 2030
    Ban Xây dựng Đảng - Đảng ủy phường đã tổ chức Hội nghị ký kết Chương trình phối hợp công tác tuyên giáo, dân vận với Đảng ủy UBND phường, Công an phường và Ban Chỉ huy Quân sự phường giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời triển khai Kế hoạch phối hợp công tác năm 2026.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Rối nước viễn du thời đại số
    Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.
  • Điện ảnh Hà Nội và sứ mệnh nâng tầm giá trị văn hóa
    Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định rõ vai trò của văn hóa trong tiến trình phát triển đất nước và đặt ra yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thích ứng với bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Với vị thế trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, Hà Nội đứng trước những đòi hỏi cụ thể trong việc hiện thực hóa các định hướng này, đặc biệt đối với đội ngũ văn nghệ sĩ. Trong đó, điện ảnh được nhìn nhận như một lĩnh vực giàu tiềm năng, có khả năng lan tỏa giá trị, phản ánh đời sống và góp phần định hình hình ảnh quốc gia. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sáng tạo nghệ thuật vượt qua tính phong trào, trở thành động lực thực chất nâng tầm văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
  • Xuất bản thời chuyển đổi số: “Đòn bẩy” phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam
    Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành xuất bản là nhân tố quan trọng của hệ sinh thái tri thức - sáng tạo - văn hóa, tạo ra những sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, từ đó góp phần bồi đắp và nâng cao dân trí, gia tăng sự phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
  • Hà Nội quy hoạch gần 1.000 ha đất phát triển nhà ở xã hội
    Hà Nội đang đẩy mạnh triển khai phát triển nhà ở nhằm hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm an sinh nhà ở cho người thu nhập thấp, công nhân lao động và các đối tượng chính sách, đồng thời tạo thêm nguồn cung cho thị trường bất động sản Thủ đô.
  • Phường Nghĩa Đô tổ chức nhiều hoạt động hè cho thiếu nhi năm 2026
    Thực hiện Kế hoạch của UBND Thành phố Hà Nội về “Tháng hành động vì trẻ em năm 2026”, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về việc tổ chức hoạt động hè cho học sinh năm 2026, UBND phường Nghĩa Đô (TP. Hà Nội) sẽ tổ chức các hoạt động hè cho thiếu nhi nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em...
Đừng bỏ lỡ
  • Khai mạc Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển: Cánh cửa kỳ diệu mở ra thế giới tuổi thơ
    Ngày 1/6, tại Hà Nội, Viện Phim Việt Nam (Bộ VHTTDL) phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam tổ chức lễ khai mạc Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển nhằm mang đến cho khán giả nhỏ tuổi những tác phẩm điện ảnh đặc sắc của hai quốc gia nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6.
  • Việt Nam giành giải Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026
    Tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026, đại diện cho Việt Nam, tiết mục xà đơn trên đùi “Thiên thần đến từ Thiên hà” do NSND Tống Toàn Thắng đạo diễn, với sự tham gia biểu diễn của 5 nghệ sĩ: Thu Hường, Hồng Yến, Cẩm Ly, Lệ Phương và Thảo Vân, đã xuất sắc giành Vương miện Bạc.
  • 950 năm Quốc Tử Giám: Từ di sản quốc học đến khát vọng hiền tài trong kỷ nguyên phát triển mới
    Hướng tới kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch tổ chức Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề “950 năm Quốc Tử Giám - Di sản Quốc học và khát vọng hiền tài trong kỷ nguyên phát triển mới”. Sự kiện không chỉ góp phần làm sáng rõ giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục của Quốc Tử Giám mà còn mở ra những luận cứ khoa học quan trọng nhằm phát huy truyền thống hiếu học, trọng dụng hiền tài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô, đất nước
  • [Podcast] Âm nhạc cuối tuần - Số 15
    Hà Nội đã và đang mở rộng thêm nhiều không gian văn hóa công cộng để đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng. Từ phố đi bộ hồ Gươm đến những sân khấu ngoài trời, âm nhạc không đã hiện diện tự nhiên trong đời sống thường nhật. Minh chứng là chương trình “Âm nhạc cuối tuần” diễn ra tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ chiều Chủ nhật hàng tuần, đã góp phần bồi đắp diện mạo Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”.
  • Tuần phim chào mừng quốc tế Thiếu nhi mang đến loạt tác phẩm điện ảnh giàu giá trị nhân văn
    Ngày 29/5, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chính thức công bố tổ chức Tuần phim chào mừng Ngày quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm 2026, diễn ra từ ngày 31/5 đến 7/6 trên toàn quốc, mang đến loạt tác phẩm điện ảnh giàu giá trị nhân văn và giáo dục cho khán giả nhỏ tuổi bước vào kỳ nghỉ hè.
  • Công bố Bản đồ Mạng lưới các không gian văn hóa sáng tạo Hà Nội
    Chiều 29/5, tại Bảo tàng Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức chương trình công bố Bản đồ Mạng lưới các không gian văn hóa sáng tạo Hà Nội. Chương trình được tổ chức nhằm tăng cường kết nối hệ sinh thái sáng tạo của Thủ đô, thúc đẩy hoạt động của các không gian văn hóa sáng tạo trên địa bàn thành phố, đồng thời triển khai các hoạt động hướng tới Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội năm 2026.
  • Cẩm nang thiết thực cho người làm sách tranh
    Crabit Kidbooks phối hợp cùng NXB Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang sáng tác sách tranh - Lộ trình thực tiễn: từ sáng tác đến xuất bản” - một trong những tài liệu nhập môn quan trọng cho hành trình làm sách chuyên nghiệp được cộng đồng sáng tác sách tranh (picture book) quốc tế đánh giá cao.
  • Liên hoan phim ngắn TP. Hồ Chí Minh 2026 đưa ứng dụng AI vào đào tạo phim trẻ
    Liên hoan phim ngắn TP.HCM lần thứ hai, năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 6 đến 8/6 tại TP.HCM với chủ đề “Khơi nguồn sáng tạo trẻ, kiến tạo Thành phố điện ảnh”.
  • Lễ hội kỷ niệm 598 năm ngày Vua Lê Thái Tổ đăng quang tại Hà Nội
    Lễ hội kỷ niệm 598 năm ngày Vua Lê Thái Tổ đăng quang (1428 - 2026) sẽ diễn ra trong hai ngày cuối tuần này, thứ Bảy và Chủ nhật ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2026 tức ngày 14 và 15 tháng Tư năm Bính Ngọ theo âm lịch, tại khu vực Tượng đài Vua Lê Thái Tổ và đình Nam Hương, số 75 Hàng Trống, phường Hoàn Kiếm.
  • Nhiều phim hoạt hình gắn liền với tuổi thơ sẽ được chiếu miễn phí tại Hà Nội từ ngày 1-5/6
    Nhân dịp Tết Quốc tế Thiếu nhi 1/6, một món quà mùa hè đầy ý nghĩa và hấp dẫn đang chờ đón các bạn nhỏ tại Thủ đô. Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển sẽ chính thức diễn ra từ ngày 1/6 đến ngày 5/6 tại Viện Phim Việt Nam (Hà Nội).
Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO