Trên đường tiếp nhận ''Truyện Kiều'': Kỳ 1 Từ ''Truyện Kiều'' tìm đọc ''Kim Vân Kiều truyện''

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 27/08/2020 10:03

LTS: Kỷ niệm 255 năm ngày sinh (1765 - 2020) và tưởng niệm 200 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du (1820 - 2020), báo Người Hà Nội trân trọng giới thiệu chuyên đề “Trên đường tiếp nhận Truyện Kiều” của PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học). Chuyên đề gồm 6 nội dung, hy vọng sẽ góp thêm những tư liệu mới cũng như góc nhìn thú vị về “Truyện Kiều” - một kiệt tác của nền văn học dân tộc.

Trên đường tiếp nhận
Đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều. Ảnh: IT

Nỗi niềm canh cánh…

Tôi quê ở xứ rừng Mai Sưu, phía Tây Yên Tử, thế mà từ nhỏ đã được nghe các bác và mẹ tôi bàn luận về “Truyện Kiều”. Nhớ mãi bác tôi dẫn giải câu thơ: “Sẵn Quan Âm các vườn ta,/ Có cây trăm thước có hoa bốn mùa”, thì “cây trăm thước” đây không phải là cây thật, cũng không phải mượn ý trong kinh Phật “Bồ đề bách xích thụ” (Bồ đề cao trăm thước) mà ý nói khói cây hương trong chùa tỏa cao trăm thước. Chẳng biết có đúng không nhưng tôi chưa đọc thấy cách giải thích nào như thế…

Năm 1983 thuộc thiên kỷ trước, tôi về công tác ở Viện Văn học. Từ bấy giờ mới có dịp đọc hết cả “Truyện Kiều” và dần dà đọc các công trình nghiên cứu. Lại đến cuối tháng 11/ 1989 mới được theo dự Hội thảo khoa học “Qui hoạch, giữ gìn, tôn tạo và phát huy khu di tích Nguyễn Du” tại thành phố Vinh, khi ấy còn thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. Lại nhớ lần ấy có các cụ Huy Cận, Đỗ Văn Hỷ, Trần Lê Văn, Phạm Tú Châu… Xe chạy từ 6 giờ sáng mà sẩm tối mới tới Vinh. Nhớ lắm. Ca sĩ trẻ Hồng Năm ríu rít bên nhà thơ Huy Cận. Khi lên ngâm thơ trích đoạn “Truyện Kiều” mới thấu rõ thần thái nghệ sĩ, một Hồng Năm khác hẳn: “Cỏ non xanh tận chân trời…”.

Đọc “Truyện Kiều”, chẳng hiểu sao tôi cứ canh cánh muốn tìm xem bản gốc tiểu thuyết chương hồi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) mà Nguyễn Du dựa vào vốn như thế nào. Mãi rồi tôi cũng biết được “Kim Vân Kiều truyện” đã từng có bản dịch của Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung (1925. Tái bản, 1928 - 1929 và 2006), bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm (1971. Tái bản, 1991, 1999). Riêng bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh đã được dịch và in rôneo từ 1962, lưu trữ trong kho tư liệu dịch ở thư viện Viện Văn học. Nghe nói ngày ấy đã có ý định xuất bản, nhất là dịp kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (1765 - 1965) ở cả trong nước và tầm Hội đồng hòa bình thế giới, thế nhưng có ai đó lại chỉ đạo không nên in, cho rằng in ra thì “Truyện Kiều” mình thất thế lắm. 

Lại nói sau chuyến dự hội thảo về Nguyễn Du ở Vinh (1989), tôi mượn bản in rôneo “Kim Vân Kiều truyện” do hai bậc túc nho Nguyễn Khắc Hanh và Nguyễn Đức Vân dịch, thấy thú quá mới thuê đánh máy lại toàn bộ, có thêm các chú giải tên người, địa danh, câu chữ, nghĩ rằng sớm muộn thế nào cũng tìm cách in được. Nhân đọc tham luận “Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch” của bậc thầy Phạm Tú Châu (đại khái nói rằng nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (Trung Quốc) đã hiểu sai khi so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều” bởi đã dựa theo bản dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Trung (1959) vướng nhiều chi tiết sai lệch của Hoàng Dật Cầu), tôi càng nung nấu viết bài nghiên cứu so sánh theo hướng của mình. Đại thể, tôi nhấn mạnh rằng những sự kiện, chi tiết được coi là "rườm rà" thực chất lại là đặc điểm và thế mạnh riêng của “Kim Vân Kiều truyện”. Những sự kiện, chi tiết đó chính là thuộc tính, yêu cầu và sức mạnh của lối văn xuôi tự sự vốn thiên về tả thực, được trình bày theo tuyến tính biên niên sử của tiểu thuyết chương hồi. Thử hỏi nếu lại lược bỏ đi những sự kiện, chi tiết cụ thể thì thử hỏi thiên tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” này còn lại những gì? Dẫn giải như thế để thấy rõ hơn tính hợp lý của những chi tiết, sự kiện được thể hiện trong “Kim Vân Kiều truyện” và nó chỉ được coi là "rườm rà", “dài dòng” khi đặt trong tương quan với “Truyện Kiều” và nhìn từ đặc trưng nghệ thuật “Truyện Kiều”. Trên thực tế, nếu sự so sánh chỉ coi trọng tư duy văn xuôi tự sự, coi trọng tuyến cốt truyện, sự kiện, nhân vật, chi tiết và "Nguyễn Du đã in dấu ý thức chủ quan của mình cho một số nhân vật, làm tổn hại sự hoàn chỉnh và thống nhất về tính cách của những nhân vật ấy ở mức độ nhất định" thì tất yếu sẽ dẫn đến cách nhìn đơn giản hóa “Truyện Kiều” như nhà nghiên cứu Đổng Văn Thành (1986). Ngược lại, nếu bình điểm, qui chiếu “Truyện Kiều” bằng thước đo nội dung trữ tình và từ đặc trưng nghệ thuật thể loại truyện thơ thì lại thật khó xác định đúng mức giá trị tự thân của tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện”. Trên tinh thần chung, tôi nhấn mạnh giá trị kiệt tác “Truyện Kiều” nhưng xác định khi so sánh thì cần nhận rõ đặc điểm, ý nghĩa riêng biệt của mỗi tác phẩm chứ không nhằm so đo hơn kém. 

Lại nói về tập bản thảo “Kim Vân Kiều truyện”, sau này tôi chỉnh lý nhan đề thành “Truyện Kim Vân Kiều” cho được Việt hóa (!), thêm lời giới thiệu và đưa in ở Nhà xuất bản Hải Phòng (1994. Tái bản 1999). Trong lời giới thiệu, sau những dẫn giải về nhân vật, cốt truyện từ các sách “Minh sử liệt truyện”, “Minh sử kỷ bản mạt”, “Trù Hải đồ biên”, “Kiến chỉ biên đến hý khúc Thu hổ khâu” của Vương Lung, “Hổ phách thi” của Diệp Trĩ Phỉ, hý kịch “Song Thúy viên” của Hạ Bỉnh Hoành, trải qua “Vương Thúy Kiều sự tích” của Mao Khôn, “Vương Thúy Kiều truyện” của Dư Hoài rồi hoàn chỉnh ở “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (1521 - 1593)…

Cần công bằng khi so sánh

Vấn đề đặt ra ở đây là khi so sánh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du với “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân trên tất cả mọi phương diện như về cốt truyện, hệ thống nhân vật, nội dung xã hội, màu sắc triết lý, các phân đoạn và thứ tự biến động của các chi tiết, tình tiết... đều thấy sự khác biệt là không đáng kể. Quả thực, ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có giản lược tên một số nhân vật phụ. Chẳng hạn nói về nhà họ Chung chỉ nêu:

“Họ Chung có kẻ lại già,/ Cũng trong nha dịch lại là từ tâm” thì trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân có giới thiệu rõ người đó là Chung Sự, có con trai là Chung Cần, con gái là Tô Nương. Song sự khác biệt đó không làm thay đổi cốt truyện, cũng không phải là dấu hiệu sự khác biệt trong lý tưởng thẩm mỹ giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân. 

Chính vì lẽ đó mà cách giải thích việc Nguyễn Du không mô tả chi tiết sự kiện Tú Bà truyền dạy “bảy chữ tám nghề” cho nàng Kiều, hay đoạn trừng phạt bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Ưng, Khuyển một cách tàn khốc là bởi thi hào đã lược bỏ đi những đoạn miêu tả có tính chất tự nhiên chủ nghĩa và có hại đối với mỹ cảm của người đọc... rõ ràng chưa thật thuyết phục, chưa tính đến đặc trưng về mặt thể loại khi so sánh giữa hai tác phẩm thuộc về hai phương thức thể hiện khác biệt nhau. Đương nhiên trong cách nhìn của người hiện đại và nhìn theo một hướng nhất định thì sự mô tả những chi tiết cụ thể đó thường bị quy là thiếu mỹ cảm song nếu xét trên phương diện tư duy nghệ thuật thì chúng lại hết sức có ý nghĩa, nhất là khi đặt chúng trong tương quan với nền văn học dưới thời phong kiến vốn hết sức kiêng kỵ những đề tài “thấp”, trần trụi, bản năng và hướng về cái cao thượng, sùng bái những biểu tượng, điển cố, lối diễn đạt từ chương thanh nhã… Ở đây, khả năng thẩm thấu qua tấm màng lọc mỹ học Nho giáo, khả năng tái tạo hiện thực, phản ánh đời sống trần tục, hướng về đời thường là ưu thế của tác phẩm văn xuôi tự sự cần được lưu ý khi xem xét “Kim Vân Kiều truyện”. Điều quan trọng hơn, chính vì “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc về thể tài văn xuôi tự sự thiên về mô tả sự kiện, nó có điều kiện đi sâu miêu tả thực tại, khắc họa chân dung nhân vật một cách cụ thể, chi tiết hơn qua việc phối hợp các hình thức đối thoại - kể chuyện - phân tích tâm lý một cách tương đối tự do, linh động. Còn đối với “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được thể hiện bằng văn vần, toàn bộ câu chuyện được tái hiện bằng ngôn ngữ thơ, vừa thông qua cảm xúc chuyển dịch của chủ quan nhà thơ trên cơ sở một tác phẩm cũ, vừa liên kết, xây dựng văn bản mới với nguồn mạch cảm hứng trữ tình có nhiều thay đổi, đồng thời lại vừa phải tuân theo quy luật vần điệu, nhạc tính, hình ảnh và thể cách của thể thơ lục bát. Chính sự khác biệt này đã góp phần quy định việc Nguyễn Du lược bỏ những chi tiết dài dòng và tái hiện toàn bộ nội dung đó theo hướng chọn lọc, bay bổng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, phù hợp với đặc trưng tư duy của thơ ca.

Ngay dưới thời trung đại, “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân đã được dịch và lưu truyền ở Mãn Châu, Nhật Bản, Việt Nam theo nhiều phương thức khác nhau. Từ thực tế tiếp cận “Truyện Kiều”, tôi cho rằng một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã không chú ý đầy đủ tới văn bản nguồn gốc, còn những ý kiến kiểu Đổng Văn Thành lại chỉ so sánh trên phương diện nội dung và các tín hiệu nghệ thuật chung nhất. Những ý kiến này  không chú ý tới sự khác biệt đặc trưng thể loại, không chú ý đầy đủ tới tâm lý tiếp nhận của dân tộc Việt Nam đối với ngôn ngữ “Truyện Kiều” và hồn thơ tiếng Việt, với thể thơ lục bát truyền thống. Đồng thời không lý giải được thực tế vì sao “Truyện Kiều” lại phổ biến tới khắp mọi miền quê, vừa là lời ru vừa trở thành một loại kinh sách để có thể bói Kiều, tập Kiều, lảy Kiều và thực sự là một kiệt tác.

Đón đọc kỳ tới: 
Bàn về văn bản “Truyện Kiều”
(0) Bình luận
  • “Nhịp sống mới" của Thủ đô được kể qua ống kính nhiếp ảnh
    Nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2026), Hội Nhiếp ảnh nghệ thuật Hà Nội khai mạc Triển lãm Ảnh nghệ thuật Hà Nội lần thứ 56 năm 2026 tại Không gian vườn hoa Hàng Trống (số 42 phố Nhà Chung, Hà Nội).
  • Trưng bày “Tâm son, chí thép”: Lan tỏa các giá trị cao đẹp về lực lượng Công an nhân dân Việt Nam
    Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2026), Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tổ chức trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (phường Cửa Nam, TP Hà Nội).
  • Xiaomi 17T và công thức cận flagship dành cho người thích camera Leica
    Xiaomi 17T là một trong những mẫu máy đáng chú ý của Xiaomi T Series khi tập trung vào camera Leica, màn hình đẹp, pin lớn và hiệu năng mạnh trong tầm giá cận flagship. Với người dùng muốn một chiếc điện thoại phục vụ tốt chụp ảnh, giải trí, học tập và làm việc, Xiaomi 17T mang đến nhiều điểm đáng cân nhắc.
  • Chụp ảnh cưới ‘All In One' tại Mimosa Wedding
    Trong bối cảnh ngành dịch vụ cưới ngày càng phát triển, vô hình trung nỗi lo của khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhiều hơn. Thực tế này đang thúc đẩy một làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của các cặp đôi sang mô hình dịch vụ trọn gói (All in one). Bên cạnh yếu tố tiện lợi, thế hệ trẻ hiện nay cũng khắt khe hơn về mặt thẩm mỹ, họ hướng tới sự cá nhân hóa, cảm xúc chân thực và từ chối các khuôn mẫu rập khuôn có sẵn khi tìm kiếm dịch vụ chụp ảnh cưới đẹp ở Hà Nội.
  • Triển lãm "Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử": Không gian nghệ thuật tôn vinh đạo học Việt Nam
    Hướng tới kỷ niệm 950 năm ra đời Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076 - 2026), chiều 27/5, triển lãm nghệ thuật “Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử” đã khai mạc tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
  • "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" giới thiệu 20 tác phẩm hội hoạ của vua Hàm Nghi tại Hà Nội
    Từ 24/4 đến 10/5, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Triển lãm "Trời, Non, Nước - Allusive Panorama" – do Art Nation giới thiệu, quy tụ các tác phẩm hội họa tiêu biểu của vua Hàm Nghi.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội trên hành trình trở thành trung tâm du lịch vươn tầm khu vực
    Hà Nội đang bứt phá để trở thành trung tâm du lịch hàng đầu cả nước và vươn tầm khu vực theo hướng thông minh, xanh, bền vững. Thủ đô hướng tới mục tiêu đón hơn 50 triệu lượt khách mỗi năm, mang về nguồn thu hàng trăm nghìn tỷ đồng và bổ sung ít nhất 10.000 phòng khách sạn cao cấp để đáp ứng nhu cầu tăng cao.
  • Định vị thương hiệu di sản văn hóa Hà Nội từ mô hình kinh tế đêm
    Trong bối cảnh cạnh tranh đô thị ngày càng gia tăng, kinh tế đêm trở thành một động lực tăng trưởng mới tại nhiều quốc gia và thành phố lớn. Đối với Hà Nội, phát triển kinh tế đêm không chỉ mở rộng không gian và thời gian hoạt động kinh tế mà còn tạo điều kiện khai thác chiều sâu văn hóa, gia tăng trải nghiệm du lịch và xây dựng bản sắc đô thị. Từ các sản phẩm du lịch đêm gắn với di sản đến định hướng phát triển sáng tạo, Hà Nội đang từng bước hướng tới thương hiệu “thành phố trải nghiệm văn hóa về đêm”, q
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • Phát động cuộc thi sáng tác bài hát "Đông Hòa Hiệp - miền nhớ, miền thương"
    Cuộc thi khuyến khích các nhạc sĩ, soạn giả cùng đội ngũ tác giả chuyên và không chuyên sáng tạo nên những tác phẩm mới mang đậm bản sắc Nam Bộ, giàu giá trị tư tưởng nghệ thuật, qua đó góp phần bảo tồn và phát huy chất liệu dân ca, hò, lý, đờn ca tài tử và vọng cổ - cải lương trong đời sống đương đại.
  • Xã Đoài Phương cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Thực hiện Quyết định số 2512/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và Kế hoạch số 331/KH-UBND của UBND thành phố về thực hiện quy hoạch; UBND xã Đoài Phương (Hà Nội) tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư đối với Quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 và 1/5000 (đối với khu vực xây dựng) tại địa phương.
Đừng bỏ lỡ
Trên đường tiếp nhận ''Truyện Kiều'': Kỳ 1 Từ ''Truyện Kiều'' tìm đọc ''Kim Vân Kiều truyện''
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO