Thi sĩ Tản Đà và bài thơ Thề non nước

Trần Hành| 19/09/2017 09:28

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ, nay thuộc Thành phố Hà Nội. Bút danh Tản Đà được nhà thơ ghép chữ từ địa danh núi Tản, sông Đà, quê hương ông. Tản Đã được sinh trưởng trong một gia đình quan lại phong kiến, bố là Nguyễn Danh Kế làm quan đến chức Án sát, mẹ là một đào hát hay và làm thơ giỏi. Là thi sĩ nổi danh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ông như cái gạch nối giữa hai thế kỷ, hai nền văn học.

Thi sĩ Tản Đà và bài thơ Thề non nước
Thi sĩ Tản Đà

Cuộc đời riêng của Tản Đà khá lận đận và có nhiều nỗi buồn, đau. Từ khi người anh cả Nguyễn Tài Tích là phó bảng và đốc học mất, gia cảnh nhà ông trở nên túng thiếu. Thời kỳ ở Hà Đông ông lại bị viên Tổng đốc thù ghét, phải chuyển ra Hà Nội, mở lớp dạy học kiêm cả xem lý số Hà Lạc nên cuộc sống trở nên nghèo đói, không đủ ăn, không có tiền trả thuê nhà, bị chủ nhà tịch thu đồ đạc đuổi đi. Tết đến, ông phải kêu lên: “Ôi! Trời! Ôi đất! Ôi! là Tết!/ Tháng cận năm cùng, gạo cũng hết” (Than Tết). Cái buồn  hơn nữa là ba lần ông bị hỏng thi hai lần thi Hương năm 1909 và 1912, một lần thi Hậu bổ). Một lần hỏng thi đã đủ buồn như nhà thơ Tú Xương thổ lộ: “Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”. Thế mà Tản Đà hỏng những ba lần! Cái buồn tích tụ trở thành nỗi đau và chán đời khi người yêu Đỗ Thị thấy ông hỏng thi, ruồng bỏ và đi lấy chồng khác. Thực tế quá phũ phàng và cay đắng cộng với nỗi đau mất nước và sau này là sự thất bại trong nghề báo đã ảnh hưởng không nhỏ đến các sáng tác của ông.

Để tìm sự thanh thản Tản Đà đã rủ bạn là Bạch Thái Bưởi lên chùa chơi, làm thơ rồi ông đi du ngoạn khá nhiều nơi ở các tỉnh miền Trung, vào cả Nam Bộ. Ở Huế, ông đã tìm gặp nhà chí sĩ Phan Bội Châu.Tháng hai năm 1928, từ Sài Gòn trở về Bắc, ông ghé thăm mộ anh hùng Nguyễn Huệ ở Phú Phong làm náo động các quan lại ở đây.  Các buổi du ngoạn cũng giúp ông nhập thế một cách tích cực.

Thi sĩ Tản Đà và bài thơ Thề non nước

Xuất thân là một nhà nho, Tản Đà đọc khá nhiều sách về tân thư, sách Âu Tây dịch sang tiếng Trung Quốc và chữ Hán, đọc các báo chí mới của Trung Quốc. Ông viết báo, làm chủ bút báo, viết sách, làm thơ, những mong góp ý, xây đời. Nghề viết đã trở thành phương tiện kiếm sống chủ yếu, ông viết khỏe với một khối lượng sáng tác lớn, viết truyện ngắn, tiểu thuyết: Giấc mộng con I (1917), Thề non nước (1920), Trần ai tri kỷ (1924), Giấc mộng  lớn (1928) Giấc mộng con II (1932)..., viết sách giáo khoa, Lên  sáu, Lên tám..., dịch thuật: Đại học, Đường thi..., viết tuồng chèo..., các tập thơ Khối tình con I và II  lần lượt ra đời.

Văn ông viết rất hay, rất sắc  sảo, giàu trí tưởng tượng, ông chưa đi ra nước ngoài nhưng tả những cảnh đẹp nước ngoài rất sống động như chính mình đã tới. Đông Dương tạp chí đã mở riêng một mục “Tản Đà văn tập” chuyên đăng tải văn của ông mà bạn đọc rất ưa thích, cảm thấy một sự mới lạ. Các nhà văn có tiếng như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Triệu Luật... cũng tự nhận mình chịu ảnh hưởng của Tản Đà.

Về thơ, sáng tác của ông cũng đa dạng về thể loại và đề tài: Đường luật, ca trù, thơ lục bát, thơ tự do... Ông có thơ buồn, thơ say, thơ tình, thơ thế sự... và đặc biệt thơ ngông thể hiện một phong cách phóng khoáng, giàu trí tưởng tượng để giãi bày tâm sự, ước mơ (Hầu giời, Còn chơi...). Với bài thơ “Tống biệt” ông đã thổi một làn gió mới, cách tân vào thi ca, ông nói rõ ý định này trong bài “Thơ mới”: “Nếu không phá cách điệu luật/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ”. Hoài Thanh trong buổi họp hội Tao đàn, trước đông đảo các thi nhân những năm 1930 của thế kỷ trước, đã đọc bản “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”, trong đó nói: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa... Có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại” *. Như vậy ta đủ thấy cái vị trí, uy tín của Tản Đà. 

“Sáng tác của Tản Đà vừa “đậm chất trữ tình, vừa hài hước, vừa đại chúng, vừa có ý vị hiện thực, lại vừa bàng bạc một màu sắc lãng mạn**,  có những bài còn bàng bạc một tình yêu đối với non sông đất nước. Ta hãy thưởng thức bài thơ “Thề non nước”* dưới đây, một trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà, một tuyệt bút!

Bài thơ có 22 câu, là một bài thơ tình, theo thể lục bát, vịnh một bức tranh sơn thủy có ba chữ nôm “Thề non nước” giữa khách làng chơi và cô đào hát Vân Anh, chủ nhân bức tranh, một gia bảo của nhà cô, muốn nhờ khách đề bài thơ. Thế rồi hai người cùng làm.

Sáu câu đầu là của khách: 
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ lời “nguyện nước thề non”
Nước đi chưa lại non còn đứng không


Bức tranh trông thì không có nước, “nước đi, đi mãi không về cùng non”, chỉ có một rặng núi nên khách bảo phải lấy non là chính, non ở đây có ẩn ý là một cô gái. Dưới rặng núi là một ngàn dâu được khách giải thích  là hiện tượng của tang thương nên lại phải coi như có sông, có nước, chỉ có điều “nước đi chưa lại” mà thôi. Những điệp từ “nước non” nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, cứ như những sợi tơ tình vấn vương, nước vẫn nhớ lời “Nguyện nước thề non”.

Khách đã tạo ra một tình huống chia ly có hội ngộ làm đầu câu chuyện.

Mười câu tiếp theo là của cô đào Vân Anh. Cô biết chữ Hán, giỏi cả thơ chữ Hán và chữ quốc âm:

Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời Tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa


Tản Đà đã dùng những hình ảnh rất đắt, để nói về cuộc chia ly và nỗi buồn của non (cô gái). Cặp từ “những... cùng” (những ngóng cùng trông) cho thấy cuộc chia ly khá dài. Một loạt hình ảnh khá tập trung để diễn tả nỗi buồn dẫn đến thân nàng tiều tụy: “Suối tuôn dòng lệ” (có bản ghi suối khô), nàng đã khóc nhiều, “xương mai”, vóc dáng đã gầy mà gầy lắm (một nắm), cũng là vịnh cảnh trên núi có cây mai già. Làn tóc trước đây đẹp, mềm mại như mây vờn (tóc mây) nay đã “đầy tuyết sương”, bạc trắng, cũng là vịnh cảnh sương tuyết đọng trên núi của bức tranh. Rồi những cái gì là “vẻ ngọc”, “nét vàng” của người con gái cũng “phôi pha” nốt. Thật là buồn! Trời cũng phải chiếu bóng tà dương xuống “Trời Tây chiếu bóng tà dương” (có bản ghi là ngả bóng...) và đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều). Ở đây ta cũng thấy nghệ thuật vừa vịnh cảnh, vừa tả người tài tình của tác giả.

Sự đối lập giữa hoàn cảnh cô đơn, tiều tụy của non với sự trung thành lời thề, dù ở mức độ nào cũng không lay chuyển được lời thề sắt son của non (cô  gái):


Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa


Điệp từ “còn” láy lại đến ba lần trong một câu lại nhấn mạnh sự sắt son đó.

Khách lại nối sáu câu tiếp theo nhắc lai lời thề như một sự cam kết và động viên của nước:  “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn” rồi “Bảo cho non chớ có buồn làm chi”, rằng “non thì cứ vui”.


Cô đào Vân Anh kết thúc bài thơ bằng hai câu ngắn gọn nhưng súc tích:


Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề


Mỗi từ non và nước ở câu cuối bài, được nhắc lại hai lần thành: “non non nước nước” đặt liền kề sát nhau thành một cặp trong một dòng để cùng nhau: “không nguôi lời thề”.


Toàn bài thơ có 22 câu lục bát với nhiều biện pháp tu từ được sử dụng: ẩn dụ, nhân hóa và đặc biệt điệp từ “non nước” được nhắc  nhiều lần trong bài, bốn câu đầu, câu trên, câu dưới đều có cặp từ này khiến bài thơ, đọc lên nghe âm vang xoắn xuýt, quấn quýt lấy nhau, vừa êm dịu, vừa mặn mà trữ tình.


Tác giả đã khéo thổi hồn vào bức tranh tĩnh lặng trở thành câu chuyện tình sinh động, giàu tính nhân văn.


“Thề non nước” là một bài thơ đa nghĩa. Với nghệ thuật ẩn dụ và nhân hóa, nó không chỉ nói lên mối tình nam nữ thủy chung son sắt mà còn bàng bạc một tình cảm yêu nước thầm kín, thiết tha lúc đất nước còn chưa được độc lập, tự do. Vì vậy, bài thơ đã có tác dụng khích lệ lòng yêu Tổ quốc của dân tộc. Đó là cái biệt tài của tác giả. 


Tản Đà là nhà văn, nhà thơ có tài năng, đã đóng góp to lớn vào nền văn học đầu thế kỷ 20. Là một cây bút phóng khoáng, ông nổi lên như “một hiện tượng  đột xuất”,  “vừa độc đáo”, “vừa dồi dào năng lực sáng tạo”** trong lúc nền văn học của dân tộc còn đang ở giai đoạn đầu của sự cách tân. 


--------------------

* Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh, Hoài Chân NXB Văn học Hà Nội - 1988 - Cung chiêu anh hồn Tản Đà. Bài thơ “ Thề non nước” chép theo cuốn Thi nhân Việt Nam.

** Từ điển Văn học (bộ mới) - mục Tản Đà
(0) Bình luận
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thị Mai
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thị Mai.
  • Chùm thơ của tác giả Dương Văn Lượng
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Dương Văn Lượng.
  • Mưa chùa Trăm Gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Mưa chùa Trăm Gian của tác giả Phạm Đình Ân.
  • Hồi sinh sông Tô Lịch
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Hồi sinh sông Tô Lịch của tác giả Bằng Việt.
  • Tặng mùa Em mười tám
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Tặng mùa Em mười tám của tác giả Giang Đăng.
  • Sông Hồng
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Sông Hồng của tác giả Nguyễn Linh Khiếu.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Khi văn học được “đánh thức” bằng sân khấu hóa học đường
    Khi văn học rời trang sách để bước lên sân khấu, những giá trị nghệ thuật không còn xa cách mà trở thành trải nghiệm sống động, giàu cảm xúc đối với học sinh. Những nhân vật, tình huống và thông điệp từng được tiếp nhận qua con chữ nay được tái hiện bằng hình thể, âm thanh và ánh sáng, giúp người học không chỉ “hiểu” mà còn “cảm” sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm.
  • Tư duy kinh tế trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
    “Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ tư duy kinh tế đối với phát triển văn hóa: đó là việc áp dụng các quy luật, nguyên tắc kinh tế để tối ưu hóa và tăng cường nguồn lực cho văn hóa, giúp văn hóa không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước mà có thể tạo ra giá trị góp phần phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước” - PGS.TS Nguyễn Thành Nam, Trưởng khoa Xuất bản - Phát hành, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ.
  • Đa dạng chuỗi hoạt động với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”
    Từ ngày 3 đến 31/5/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 5 với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”, hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chương trình do Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức, với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật mang đậm bản sắc, góp phần tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng 54 dân tộc và thu hút du khách đến với Ngôi nhà chung.
  • Hà Nội quyết liệt tháo gỡ “điểm nghẽn”, tăng tốc các dự án trọng điểm
    Sau cuộc kiểm tra thực địa một số dự án trọng điểm trên địa bàn Thành phố, đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng yêu cầu các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư và đơn vị liên quan tập trung xử lý dứt điểm những tồn tại, vướng mắc kéo dài; đẩy nhanh tiến độ thi công gắn với bảo đảm chất lượng công trình, hiệu quả đầu tư và quyền lợi chính đáng của Nhân dân.
  • Hướng tới Đại hội XI của MTTQ Việt Nam: Dấu ấn khối đại đoàn kết toàn dân tộc
    Dự thảo Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 nhấn mạnh, thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường, phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân… Qua đó khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều dấu ấn nổi bật.
Đừng bỏ lỡ
  • [Infographic] Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc Thành phố Hà Nội năm 2026
    Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 320/KH-SVHTT về tổ chức Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc Thành phố Hà Nội năm 2026, với chủ đề “Sách và Ước mơ vươn xa”. Cuộc thi nhằm tạo sân chơi bổ ích dành cho các em học sinh, quảng bá Thủ đô ngàn năm văn hiến..., khẳng định vị trí, vai trò to lớn của Văn hóa đọc góp phần nâng cao dân trí, phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách, hình thành lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập.
  • Xã Phù Đổng: Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
    Thông tin từ UBND xã Phù Đổng (TP. Hà Nội), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Phù Đổng vừa khánh thành công trình tu bổ, tôn tạo đình Hạ Thôn. Đây là sự kiện quan trọng của địa phương nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đặc biệt cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình Hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.
  • Ra mắt tập truyện "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" của nhà văn Ajdar Ibrahimov
    Sáng 5/5, tại Viện Phim Việt Nam (523 Kim Mã, Giảng Võ), diễn ra buổi giới thiệu tập truyện ngắn “Những gì tôi thấy ở Việt Nam” của Ajdar Ibrahimov - đạo diễn, biên kịch, nhà văn nổi bật của Azerbaijan và là một trong những người đặt nền móng cho điện ảnh cách mạng Việt Nam.
  • Xây dựng Huế trở thành trung tâm sáng tạo văn học nghệ thuật đặc sắc, hình mẫu “Đô thị di sản"
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm việc với UBND TP Huế về tình hình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản.
  • Hà Nội – một trong 10 thành phố rực rỡ sắc màu nhất thế giới
    Theo công bố mới từ JustCover (thuộc Tập đoàn Zurich Insurance Group – Thụy Sỹ), Hà Nội đã vinh dự lọt top 10 thành phố rực rỡ sắc màu nhất thế giới, xếp ở vị trí thứ 8.
  • Phim truyền hình "Tận hiến" chính thức lên sóng VTV3
    Phim truyền hình "Tận hiến" vừa lên sóng hai tập mở màn, Hứa Vĩ Văn đã thuyết phục người xem trong lần đầu hóa thân vai diễn tình báo. Đây là Bộ phim chính luận do Điện ảnh Công an nhân dân sản xuất, tôn vinh những chiến sĩ tình báo đã hy sinh thầm lặng cho mục tiêu chính nghĩa chung của hai dân tộc Việt - Lào, đó là độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình.
  • Từ 08-10/5 sẽ diễn ra trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề tại Hoàng Thành Thăng Long
    Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo Thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” diễn ra tại Hoàng Thành Thăng Long từ ngày 08-10/5/2026”.
  • Âm nhạc cuối tuần: Nhịp cầu kết nối truyền thống, sáng tạo và tinh thần hội nhập
    Chiều ngày 3/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác (vườn hoa Lý Thái Tổ) đã mang đến cho công chúng Thủ đô một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, nơi những giai điệu jazz phóng khoáng hòa quyện cùng tinh thần về một Hà Nội hào hoa thanh lịch.
  • “Cùng em tìm về giọt nước đầu nguồn”: Khúc tri ân từ mạch nguồn lịch sử và văn hóa
    Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ trở về nước (1941-2026), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung giới thiệu MV “Cùng em tìm về giọt nước đầu nguồn” như một lời tri ân quá khứ, đồng thời mở ra nhịp cầu kết nối văn hóa vùng cao với tâm hồn người trẻ đương đại. Tác phẩm do hai nghệ sĩ trẻ: Nguyễn Hoàng Yến và rapper Trung Hiếu thể hiện.
  • Điểm hẹn âm nhạc giữa lòng Hà Nội vào ngày 3/5
    Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 – 1/5, khi nhịp sống tạm chậm lại, nhu cầu tìm kiếm những không gian thư giãn, giải trí lành mạnh của người dân và du khách tại Thủ đô tăng lên rõ rệt. Giữa nhiều lựa chọn, “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục là một điểm hẹn lý tưởng, mang đến một không gian văn hóa nhẹ nhàng nhưng không kém phần hấp dẫn.
Thi sĩ Tản Đà và bài thơ Thề non nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO