Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sông Đáy có còn sông trăng hay sông lụa

Phan Ngọc Anh 13:32 02/09/2024

Hà Nội chiết tự tiếng Hán có nghĩa là trong sông, thành phố trong sông. Thành phố Hà Nội có chín con sông ngang qua. Đó là sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Đuống, sông Cầu, sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Đà, sông Nhuệ.

song-day-700.jpg
Sông Đáy

Tính trên địa bàn châu thổ Bắc Bộ, sông Đáy được xem là một trong năm con sông lớn nhất với chiều dài khoảng hai trăm năm mươi cây số (bốn con sông khác là sông Hồng, sông Đà, sông Cầu, sông Lô). Khởi nguồn từ cửa Hát Môn trên đất Phúc Thọ (Hà Nội), vốn là một phân lưu lớn nhất và đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, sông Đáy chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đi qua các tỉnh Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Khi gần đến biển, sông chuyển theo hướng Đông Bắc – Tây Nam để đi vào vịnh Bắc Bộ ở Cửa Đáy, xưa gọi là cửa Đại An, cũng có khi còn gọi là Đại Ác, nằm giữa hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Nghĩa Hưng (Nam Định). Trên suốt hành trình về với biển lớn, sông Đáy từng thăng trầm và chia sẻ ngọt bùi với biết bao bờ bãi, ruộng đồng, núi non của rất nhiều làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ. Bởi thế, từ xa xưa, sông Đáy đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào, bất tận cho văn nhân thi sĩ của nhiều đời sáng tạo và cũng chẳng biết từ khi nào nó đã đi vào trong tâm thức của biết bao người dân quê bên dọc đôi bờ mà nó từng đi qua.

Ngoại trừ sông Hồng, dòng sông mẹ, dòng sông kiến tạo, ở Hà Nội, nếu người ta xem sông Tô Lịch là dòng sông tâm linh của kinh thành Thăng Long một thủa thì sông Đáy lại được hiện lên trong vai trò của một dòng sông lịch sử, một dòng sông của thi ca. Bằng chứng cho điều vừa nói ấy vẫn đang còn hiện hữu rõ ràng trên dọc đôi bờ. Khởi đầu là nơi thượng nguồn, sông Đáy từng là chứng nhân cho một sự kiện vô cùng lớn lao của lịch sử nước nhà trong những năm đầu Công nguyên. Đó là nơi Hai Bà Trưng lập đàn, mở hội thề tụ nghĩa vào mùa xuân năm 40 và lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán. Trên bãi đá Trường Sa ở Hát Môn lời thề khởi nghĩa đền nợ nước trả thù nhà của Hai Bà Trưng cùng nghĩa quân từng vang vọng đất trời: “Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kêu oan ức lòng chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này” khiến Thái thú Tô Định kinh hồn bạt vía; phải cắt tóc, cạo râu, vứt bỏ ấn tín, trà trộn vào đám tàn quân để trốn chạy thoát thân. Và cũng tại nơi đây, ba năm sau, dòng sông lịch sử này cũng đã mở rộng vòng tay đón Hai Bà Trưng trở về với đất mẹ. Tuy đất nước độc lập không được bao lâu nhưng sự kiện giải phóng sáu mươi lăm tỉnh thành trong vòng vài tháng của Hai Bà Trưng từng làm chấn động cả trời Nam và làm thành một dấu son đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Nó thể hiện tinh thần quật cường bất khuất của người Việt và mở đầu cho thời kỳ chống ngoại xâm. Sự kiện ấy sau gần hai ngàn năm vẫn còn làm cho Tổng thống Mỹ Doland Trump hết lời thán phục, ngợi ca trong lời phát biểu tại hội nghị Thượng đỉnh lãnh đạo doanh nghiệp APEC năm 2017: “Đó là vào năm 40 sau Công Nguyên khi Hai Bà Trưng thức tỉnh tinh thần của người dân trên đất nước này. Đó cũng là lần đầu tiên người dân Việt Nam đứng lên đòi độc lập và phẩm giá của mình”.

Theo dòng chảy, sông Đáy xuôi về xứ Nam, hẳn là trong suốt trường kỳ lịch sử dòng sông còn là chứng nhân của nhiều sự kiện trọng đại của đất nước trải qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn … Nhưng thôi, tạm chưa kể đến, chỉ tính riêng trên đất Hà Nội, dòng sông ấy còn gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh xướng. Lịch sử còn ghi, khi đội tiền quân của Vương Thông bị lọt vào trận địa của quân ta ở Tốt Động, nghĩa quân Lam Sơn ở các vị trí mai phục từ nhiều hướng xông ra tấn công. Vì trời mưa, cánh đồng và đường đi ở Tốt Động vốn chiêm trũng nay càng trở nên lầy lội hơn, làm cho Minh bị sa lầy giữa đồng. Do bị tấn công bất ngờ trong điều kiện thời tiết và địa hình không có lợi nên các kỵ binh và bộ binh của giặc mất hết khả năng chiến đấu. Tiếp theo đội hậu quân của Vương Thông vừa vượt sông Đáy, chưa kịp tiến lên đã bị quân ta mai phục đánh cho tới tấp và phải chạy ngược lại. Nghĩa quân Lam Sơn vừa đuổi đánh đội hậu quân vừa cho người phá cầu Ninh Kiều để chặn đường tháo chạy. Kết quả giặc Minh hoảng loạn, dẫm đạp lên nhau mà chết. Số quân tử tại trận ước có khoảng năm vạn và số quân bị bắt sống cũng hơn một vạn. Sự kiện ấy trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi có kể: “Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm/ Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm”.

Chỉ kể vậy thôi, ý nghĩa lịch sử của dòng sông Đáy hẳn sẽ không bao giờ bị phai mờ trong tâm thức của mọi người dân Việt, nhất là người Hà Nội. Không chỉ là dòng sông của lịch sử, sông Đáy còn là con sông của muôn đời thi ca. Thời xưa, khi ngang qua dòng sông trong buổi chiều hôm, thi hào Nguyễn Du tức cảnh hạ bút và để lại một bức tranh làng quê êm ả, thanh bình: “Phù kiều tận xứ xuất bình điền/ Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền/ Cổ kính tiều quy minh nguyệt đảm/ Triều môn ngư tống tịch dương thuyền/ Mang mang viễn thuỷ tam xuân thụ/ Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên/ Cực mục hương quan tại hà xứ?/ Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên” (Thanh Quyết giang vãn diểu). Dịch nghĩa: “Hết chiếc cầu nổi là đến cánh đồng/ Trước mắt thắy rõ từng đợt núi xanh/ Dưới bóng trăng, bác tiều gánh củi về trên con đường mòn/ Lúc chiều tà, nhà chài đẩy chài ra khơi nhân khi triều lên/ Phía xa, nước sông mờ mịt lẫn bóng cây mùa xuân/ Khói bay từ mấy nóc nhà lác đác hai bên bờ sông/ Cố ráng mắt nhìn xem quê hương mình ở chỗ nào?/ Chỉ thấy vài chấm nhỏ, đó là những cánh chim hồng bay lên đám mây trắng” (Chiều ngắm cảnh sông). Sông Đáy cũng con sông có một khúc nằm giữa dãy núi Bài Thơ và dãy núi Bạt Gia để làm thành một vùng nước non sơn thủy hữu tình khiến cho Bà Chúa Thơ Nôm phải dừng bước, dạt dào cảm xúc để họa lên một bức tranh bằng thơ đầy tính hiện thực và cũng rất lãng mạng: “Hai bên thì núi giữa thì sông/ Có phải đây là Kẽm Trống không?/ Gió đập sườn non khua lắc cắc/ Sóng dồn mặt nước vỗ long bong/ Ở trong hang núi còn hơi hẹp/ Ra khỏi đầu non đã rộng thùng/ Qua cửa mình ơi nên ngoái lại/ Nào ai có biết nỗi bưng bồng” (Kẽm Trống). Và hẳn là người xứ Đoài chắc không ai mà lại chưa một lần nghe những ca từ ngọt ngào, êm ái, mượt mà như nhung như lụa trong bài hát “Dòng sông quê anh dòng sông quê em” của nhạc sĩ Đoàn Bổng. Cái ca từ ấy vốn được nhạc sĩ phổ lời từ bài thơ của Lai Vu. Lời thơ ấy có đoạn như sau: “Dòng sông Đáy quê em/ Sông trăng hay sông lụa/ Nong kén vàng như lúa/ Tròn vạnh một góc trời/ Là sông dâu, tằm ơi/ Sóng xanh như mắt trẻ/ Sao giống nhau đến thế/ Tiếng mưa như tiếng tằm ăn” (Dòng sông của anh dòng sông của em). Vẻ đẹp lãng mạn, dịu êm ấy của sông Đáy cùng những cánh đồng vàng màu lúa chín trong những đêm trăng vang tiếng sáo diều trước đó cũng đã được từng đi vào thơ Quang Dũng làm xao động và thổn thức nỗi lòng biết bao người đọc: “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng/ Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng” (Đôi mắt người Sơn Tây). Và, sau này đến những năm cuối của thế kỷ XX, khúc sông Đáy chảy qua làng Chùa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lại hiện lên để làm một nguồn cảm hứng cho ra đời nhiều truyện ngắn, trong đó có truyện “Mùa hoa cải bên sông” (sau được chuyển thể thành kịch: “Khát vọng” của Tạ Xuyên, đặc biệt là dựng thành phim: “Lời nguyền của dòng sông” của đạo diễn Khải Hưng, từng đoạt giải vàng trong liên hoan phim truyền hình quốc tế tại Bỉ năm 1993). Đặc biệt trong bài thơ “Sông Đáy”, nhờ nguồn cảm hứng về dòng sông quê, Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện sâu sắc nỗi niềm khắc khoải, khao khát được trở về với cố hương, trở về với năm tháng của tuổi thơ ngọt ngào bên mẹ: “Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả; … Sông Đáy ơi! chiều nay tôi trở lại/ Những cánh buồm cổ tích đã bay xa về một niềm tức tưởi … Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi…chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quì xuống vốc cát ấp vào mặt/ Tôi khóc/ Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng”.

Vậy đấy, sông Đáy không chỉ là con sông một thời ăm ắp nước mát, ngọt ngào phù sa lắng đọng mà còn là con sông chất chứa những giá trị lịch sử và các giá trị văn hóa. Nó vừa là dáng hình của xứ sở và là nơi lưu giữ ký ức của dân tộc, của tuổi thơ biết bao người. Với tôi, dù nhà không ở bên sông nhưng nó cũng đã trở thành một miền ký ức của tuổi thơ bởi hành trình của dòng chảy ấy nằm giữa cung đường di chuyển của tôi theo mẹ mỗi khi đi, về từ quê nội sang quê ngoại và ngược lại trong những chiều ngày thứ bảy và chiều ngày chủ nhật hàng tuần. Trong miền ký ức của tuổi thơ tôi, con sông ấy có dòng nước trong xanh uốn lượn mềm mại qua những xóm làng như nước gương trong soi bóng những hàng tre với đôi bờ cát nặng phù sa, mênh mông trong gió. Từ bên này đê Sài Sơn (Quốc Oai) đi sang bên kia đê miền Sấu Giá (Hoài Đức), hình ảnh của con đường dải đá với những rặng nhãn cổ thụ sần sùi chi chít quả khi mỗi độ thu về sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa hay lãng quên trong trí nhớ. Hồi ấy cây cầu bắc qua sông Đáy không bê tông cốt thép như bây giờ mà là cầu tre. Người ta ghép những thân tre lại với nhau để cho xe bò, xe đạp và người bộ hành đi qua. Mỗi lần nhiều người đi qua, cây cầu lại rung lên, nhìn xuống dòng sông, mặt nước trong xanh tươi mát lại sóng sáng, lặng lẽ đưa nước xuôi dòng. Thấp thoáng trên dòng trôi điểm xuyết một vài cánh bèo xuôi nước đung đưa duyên dáng trên mặt sông; vài ba chũm cá ở xa mạn cầu thi thoảng lại kẽo kẹt nâng lên hạ xuống vừa như rất nhẹ nhàng vừa như uể oải, khiến mặt nước xao động trong thoáng chốc, xóa tan cái vẻ bình lặng của dòng trôi. Cứ thế, theo mùa, dọc hai bên bờ đê khi thì xanh biếc bãi dâu, ruộng ngô, lúc lại óng ả mía vàng rung rinh trong gió. Ngày đó, bên đôi bờ sông Đáy có những bãi dâu lá xanh nhìn vút tầm mắt. Tôi nhớ, ở khu vực Sơn Đồng (Hoài Đức) có cả một xí nghiệp tơ tằm và ở Song Phương (Hoài Đức) có cả một nông trường chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm để ươm tơ cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt lụa. Cùng với những vườn trại trồng dâu của nhà nước, dọc hai bên sông cũng hình thành nên những làng chuyên trồng dâu và nuôi tằm để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp. Thế rồi, nghề trồng dâu chẳng hiểu sao lại bị mai một, xí nghiệp ươm tơ giải thể, người bên đôi bờ sông Đáy lại đổi sang nghề trồng mía. Và cũng lại có một thời mía xanh bờ bãi. Tôi lại nhớ cứ mỗi độ đông về, mỗi lần đi qua sông Đáy lại được nhìn những thân mía cao vút, vàng ươm, thẳng hàng, chạy dài theo từng luống, những lá mía như nhưng thanh gươm khua khua trong gió nhìn rất thích mắt. Thế đấy, hết nghề làm tơ, đôi bờ sông Đáy lại có nghề làm mật mía. Cuối năm, ngang qua Sấu Giá, mùi hương thơm nức, ngọt ngào của mật mía tỏa ra từ những lò nấu mật đầy quyến rũ. Cứ ngửi thấy cái hương thơm của mật quyện vào trong gió là người ta cảm thấy tết đang đến rất gần. Nhưng rồi nghề trồng mía cũng chỉ tồn tại một thời để rồi lại lùi sâu vào trong dĩ vãng. Thay cho màu xanh của dâu tằm, của ruộng mía, bãi ngô và mùi thơm của hương mật, khoảng hơn chục năm trở đây sông Đáy đỏ rực vườn cam, lúc lắc vườn ổi, trĩu trịt phật thủ, vàng ruộm bưởi đường… nhưng cũng tức ngực bởi mùi thuốc sâu… Và cái dòng nước hiền hòa trong xanh mát mẻ của tuổi thơ tôi cũng chẳng còn nữa. Thay vào đó dòng chảy bị thu hẹp lại, có chỗ giống như một con mương. Nước đen kịt, bề mặt có khi còn ngầu bọt, đóng váng dày đặc. Những cỏ dại, bèo tây thỏa sức vẫy vùng lan tỏa thay cho cua, cá, tôm, tép.... Và mỗi khi rét đến, đông về dòng chảy tắc nghẽn những phế thải của bã sắn, của bã dong riềng tuôn ra những làng nghề làm miến, làm bột. Theo đó những ngày trở trời, bên sông bốc lên một mùi nồng nàn, ngột ngạt; tỏa ra cả hàng cây số và trở thành nỗi ám ảnh cho bất kỳ ai phải đi ngang qua.

Buồn thay, thương thay, con sông thơ mộng, niềm tự hào của người Hà Nội (xứ Đoài) một thủa, từng vang bóng một thời với những ruộng ngô, đồng mía, bãi dâu… nay cứ đang chết dần, chết mòn; thậm chí có lúc còn trở thành nỗi sợ hãi cho cả miền hạ lưu và những xóm làng bên đôi bờ dòng sông đi qua bởi môi sinh của dòng chảy đang bị bức tử trở thành ô nhiễm. Nỗi niềm, nguồn cơn tức tưởi của sông Đáy từ đâu? Khách quan có thể do nguồn thủy sinh nội tại của sông còn hạn chế mà nguồn nước sông Hồng lại ngày càng bị hạ thấp không thể dẫn nước đổ vào sông Đáy. Nhưng sâu xa của những khách quan ấy hẳn là có liên quan rất nhiều đến việc khai thác cát mất kiểm soát trên dòng sông Cái đỏ ngầu phù sa; khiến cho lòng sông ngày càng bị hạ thấp, nhất là trong mùa cạn, dẫn đến nước sông Hồng khó có thể đi vào sông Đáy, lại càng làm cho lòng sông ngày càng bị bồi lắng, thu hẹp. Còn chủ quan, nguồn nước xả thải của các làng nghề, các cơ sở chăn nuôi, dọc hai bên bờ sông không qua xử lý, đổ thẳng vào sông Đáy cùng với chất thải các loại như những khối u di căn, đây đó đêm ngày vẫn đổ tràn xuống cả dòng sông. Như thế bảo sao sông không chết, sông không khỏi bốc mùi. Lắm hôm, đứng trên cầu Yên Sở (Hoài Đức), hay cầu Phùng (Đan Phượng), nơi ngày xưa tôi thường ngang qua, phóng tầm mắt nhìn ra xa, sông Đáy hiện lên có lúc thấy trơ đáy. Con sông chỉ còn là một dòng chảy rất nhỏ và nông cạn. Sông Đáy giờ đây không còn là con sông của một thời với những mỹ từ “sông trăng hay sông lụa” mà hiện lên trước mắt mọi người với dòng nước xám đen, lầm lì tưởng như muốn ngừng trôi, để mặc cho cỏ cây, hoa lá thỏa sức tung hoành; tỏa mùi khó chịu lan xa trong sự bất lực và bức xúc của không ít dân sinh dọc bên hai bờ dòng chảy.

Tôi vẫn thường nghe nói, sông Đáy được xem không chỉ là nguồn cung cấp nước phục vụ sản xuất và nhu cầu dân sinh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tiêu nước cho lưu vực hai bên sông, đặc biệt là giải thoát lũ cho sông Hồng để bảo vệ vùng Thủ đô. Bởi thế đã không ít lần thấy báo chí đề cập đến việc Trung ương và Thành phố tìm cách “hồi sinh” cho sông Đáy. Thấy vậy thì mừng lắm. Chỗ này chỗ nọ trên dòng sông cũng thấy được nạo vét, cải tạo nhưng dường như hãy còn rất chậm. Đây đó những nhà máy xử lý nước thải đổ ra từ các làng nghề cũng đã được làm nhưng vẫn còn chưa kịp, chưa đủ cho nên sự ô nhiễm môi sinh của dòng sông vẫn còn đang hiện hữu. Rồi còn nghe nói, có những làng quê dọc hai bên bờ sông được quy hoạch thành những vùng du lịch, vùng sinh thái; thậm chí còn nghe nói có cả quy hoạch đắp đập sông Hồng để dâng mực nước trong lòng sông… Vậy thì, xem ra tương lai của sông Đáy vẫn còn đó rất nhiều hy vọng. Tương lai như thế xem ra có nhiều nhưng vẫn còn xa. Ô nhiễm và sông chết hiện hữu vẫn đang là điều khó tránh, nhỡn tiền. Hy vọng và mong rằng quy hoạch, kế hoạch sớm triển khai để dòng sông thơ mộng thủa nào lại trở về thành hiện thực. Nhưng xét cho cùng những quy hoạch và kế hoạch triển khai nằm ở tầm vĩ mô còn đây đó ở phần vi mô là nằm trong ý thức của cả chính quyền và cư dân dọc bên đôi bờ sông Đáy. Chính quyền có sâu sát, có quyết liệt, không ngại ngần xử lý vi phạm xả thải; người dân phải coi trọng sự sống của dòng sông như chính sự sống của chính mình để giữ gìn và bảo vệ cho nó thì tương lai của sông Đáy mới bền vững. Nghĩ vậy và tiếp tục hy vọng!

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Ngọc Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội trong tôi
    Thời gian trôi cứ thôi thúc tôi, chỉ còn ít ngày nữa là hết hạn nộp bài cuộc thi viết "Hà Nội & Tôi", trong lòng biết bao nỗi niềm với Hà Nội... sự tri ân... sự nghĩ suy, cơ hội sẻ chia, đóng góp... không thể bỏ lỡ cơ hội này! Thế là tôi phải quyết tâm vào cuộc.
(0) Bình luận
  • Những người Hà Nội tôi gặp khi đã quen áp lực
    Khi đã đi làm vài năm, tôi không còn nhìn con người bằng ánh mắt háo hức như thời còn đi học. Những va chạm trong công việc, những áp lực về thời gian, trách nhiệm và hiệu quả khiến tôi trở nên dè dặt hơn trong cách quan sát và đánh giá người khác. Tôi quen với việc giữ khoảng cách, quen với những mối quan hệ vừa đủ, không thân quá cũng không xa quá.
  • Hà Nội - Nơi một buổi sáng khiến tôi muốn ở lại
    Tôi không sinh ra ở Hà Nội. Với tôi, Hà Nội ban đầu chỉ là cái tên xuất hiện trong sách giáo khoa, trong những bài văn mẫu với “mùa thu dịu dàng”, “hồ Gươm xanh biếc” hay “phố cổ rêu phong”. Tôi từng nghĩ, Hà Nội chắc cũng giống những thành phố khác: đông người, nhiều xe, vội vã và có phần xa cách. Nhưng rồi, chỉ trong một buổi sáng rất bình thường, Hà Nội đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ ấy.
  • Chợ Gạ quê tôi
    Chợ Gạ một tháng năm phiên/ Ngày ba ngày tám như chuyên đèo bòng/ Thuyền từ xứ Bắc xứ Đông/ Trên song đậu cạnh Bãi Non, Bãi Già... (Ca dao).
  • Mưa rơi ngõ nhỏ
    Ngõ nhỏ ấy quanh năm ẩm thấp. Những ngày nồm, tường rịn nước như mồ hôi người ốm. Hai căn nhà đối diện nhau, cửa lúc nào cũng khép hờ. Người trong ngõ quen gọi chủ nhà bên trái là Nhẫn, còn bên phải là Kiên.
  • Một khoảng trời Tết Hà Nội yên bình trong ngôi trường tôi
    Có một khoảng trời ở trường tôi giữa Hà Nội rất đỗi yên bình và xanh cao. Có một khoảng trời mà chúng tôi đã luôn nhớ, luôn thương những ngọt ngào bên lề phố xá ngày qua ngày vội vã. Nơi ấy, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội (HCCT) chúng tôi mỗi khi xuân về đều mang hơi thở ấm áp dệt nên nhiều mùa xuân của đất trời, của lòng người và của những yêu thương gắn kết. Khoảng trời nhẫn nại, dệt muôn thăm thẳm yên bình. Đã có một ngày tôi viết những dòng văn thật xinh, thật nghĩa tình bằng niềm thương và nỗi nhớ về một mùa xuân xanh sum vầy, gắn kết nơi mái trường HCCT thân yêu, đổi mới và sáng tạo cùng Hà Nội.
  • Người Hà Nội mang ký ức Kẻ Chợ đi gìn giữ hồn làng xứ Huế
    Ngô Quý Đức từng dành ba tháng đi dọc miền trung để tìm hiểu các làng nghề, trước khi anh dừng bước ở Huế trong một năm qua nhằm hồi sinh liễn làng Chuồn, một dòng tranh dân gian nổi tiếng của Huế nhưng đã thất truyền hơn một thập kỷ qua.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • [Podcast] Tản văn: Họa mi vương vấn
    Chọn cho mình một góc quán cà phê ngoài trời, tôi nhìn dọc theo Phố sách Hà Nội. Vài ba người có lẽ là khách du lịch đang thích thú chụp ảnh và lựa sách, thi thoảng so vai, sửa lại khăn choàng khi có cơn gió ngang qua.
  • Những người Hà Nội tôi gặp khi đã quen áp lực
    Khi đã đi làm vài năm, tôi không còn nhìn con người bằng ánh mắt háo hức như thời còn đi học. Những va chạm trong công việc, những áp lực về thời gian, trách nhiệm và hiệu quả khiến tôi trở nên dè dặt hơn trong cách quan sát và đánh giá người khác. Tôi quen với việc giữ khoảng cách, quen với những mối quan hệ vừa đủ, không thân quá cũng không xa quá.
Đừng bỏ lỡ
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
Sông Đáy có còn sông trăng hay sông lụa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO