Âm nhạc

Ký ức về cha và bản tình ca ngày thống nhất đất nước

NSND Việt Hương 19:40 03/05/2025

Từ năm 13 tuổi, tôi theo bố (nhạc sĩ Lê Việt Hòa) ra Hà Nội học tại Nhạc viện, trong khi mẹ vẫn dạy học ở quê, chăm lo cho các em và bà ngoại. Hai bố con sống trong căn phòng nhỏ 16m² trên tầng 2 khu nhà lắp ghép E2, Tập thể Đài Tiếng nói Việt Nam (128 Đại La).

Nhà nghèo, đồ đạc đơn sơ - chỉ có hai chiếc giường cũ, một giá sách nhỏ, cây đàn guitar, chiếc tủ xinh xắn cao hơn mét và chiếc quạt con cóc. Nhưng trong không gian chật hẹp ấy, tình cha con và âm nhạc vẫn luôn tràn đầy.

Nhạc sĩ Lê Việt Hòa cùng con gái Lê Thị Bằng Hương (NSND Việt Hương)

Bố tôi không chỉ là cha mà còn là người thầy, người dẫn dắt tôi trên con đường nghệ thuật. Nhà chỉ có hai bố con nên tôi thường được bố cho theo dự các buổi liên hoan, hội họp cùng những nhạc sĩ tiền bối - bạn bè thân thiết của ông. Nhờ vậy, từ nhỏ, tôi đã có cơ hội gặp gỡ nhiều nhạc sĩ lão thành, trở thành đứa trẻ con được các bác sai vặt, khi thì đi mua vài bìa đậu, lúc lại ít vó bò hay cút rượu để các bác vừa nhâm nhi vừa bàn chuyện đời, chuyện văn hóa nghệ thuật. Các bác đều là những nhạc sĩ tài hoa, văn minh, luôn đi trước thời đại. Có lẽ nhờ những lần “chầu rìa” lặng lẽ lắng nghe mà tôi già dặn hơn so với bạn bè cùng trang lứa. Tôi cũng thấy mình may mắn khi được hiểu thêm về đời sống văn nghệ sĩ vì các bác chẳng giấu diếm gì, luôn trải lòng rất thật…

Nhiều lần, tôi có dịp theo bố trong những chuyến đi sáng tác, mỗi chuyến đi đều để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên. Tôi nhớ một đêm hè oi ả ở nông trường chè Sông Cầu (Thái Nguyên), bố con tôi vác cây đàn ghi-ta ra đồi chè ngồi hát. Tiếng đàn, tiếng hát vang lên giữa không gian tĩnh mịch, khiến mọi người trong nông trường lục tục kéo ra nghe, quây quần bên nhau đến quá nửa đêm. Tôi cũng không quên lần theo bố lên Hà Tuyên (nay tách thành 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang). Ban ngày, bố bận làm việc, tối đến, các cô chú đưa bố con tôi đi chơi trên sông Gâm. Chúng tôi ngồi trên ca nô, lao hết tốc lực ngược về thượng nguồn rồi thả cho thuyền trôi tự do trở về bến. Đêm ấy, trời trong, trăng sáng vằng vặc. Bố ôm đàn đệm cho tôi hát, có lúc tôi tự chơi đàn ghi-ta, say sưa cất giọng giữa không gian mênh mông của miền sơn cước. Cảnh vật tĩnh lặng, chỉ có tiếng đàn hát hòa vào dòng sông lững lờ trôi. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy đó là một khoảnh khắc thật đẹp, thật nên thơ và lãng mạn…

Từ trái qua phải: Nhạc sĩ Mộng Lân, ông Chấn, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, nhạc sĩ Lê Việt Hòa, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, NSND Việt Hương, nhạc sĩ Trần Triền trong một buổi gặp gỡ tại Hà Nội.

Từ thiếu sinh quân, bố tôi nhập ngũ, trở thành bộ đội và thăng cấp bậc dần lên Trung úy, Đại đội phó Trung đoàn 269, Quân khu Hữu Ngạn. Đến năm 1959, ông chuyển ngành, theo học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Sau khi tốt nghiệp, bố công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, trở thành một nhạc sĩ gắn bó với sóng phát thanh và sáng tác nhiều ca khúc mang đậm chất dân gian. Trong số đó, có thể kể đến những tác phẩm như: “Gửi em chiếc nón bài thơ”, “Gửi Sông La”, “Mùa xuân trên sông Tô”, “Rừng Hà Tuyên quê em”, “Cô gái Na Hang”, “Nhớ xứ Đoài”, “Về đồng trăng”, “Cửa sổ xanh”... Đặc biệt, với “Gửi Sông La” và “Gửi em chiếc nón bài thơ”, nhiều người lầm tưởng quê nội tôi ở Nghệ An. Nhưng thực ra, gốc gác bà nội tôi trước ở vùng Tam Hiệp (xứ Đoài) và ông nội tôi ở vùng Phú Diễn (Từ Liêm, Hà Nội). Có lẽ, chính tình cảm đặc biệt dành cho mảnh đất xứ Nghệ hiếu học, giàu truyền thống văn hóa đã thôi thúc bố sáng tác những ca khúc hay nhất của mình về miền Trung.

Mùa xuân 1975, dự cảm chiến thắng, Trung ương chỉ thị cho các nhạc sĩ của Đài Tiếng nói Việt Nam chuẩn bị viết một số ca khúc để sẵn sàng chào đón ngày thống nhất đất nước. Khi ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên viết “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”, nhạc sĩ Hoàng Hà có “Đất nước trọn niềm vui”. Bố tôi cũng được giao nhiệm vụ sáng tác, nhưng ông chọn một hướng đi riêng. Thay vì viết những ca khúc trực diện ca ngợi niềm vui vỡ òa như bác Phạm Tuyên hay bác Hoàng Hà, ông muốn sáng tác một bản tình ca để tôn vinh thành quả của hòa bình, thống nhất. Bởi vậy, khi bắt gặp bài thơ của nhà thơ Sơn Tùng - một tác phẩm trùng ý tưởng với bài thơ “Nón bài thơ” mà ông đã viết năm 1955, bố tôi đã quyết định phỏng thơ (phỏng thơ chứ không phải phổ thơ) để sáng tác ca khúc của riêng mình.

Từ cảm xúc trong bài thơ của nhà thơ Sơn Tùng và sự đồng điệu trong tư duy, bố tôi đã sáng tác ca khúc “Gửi em chiếc nón bài thơ”. Là một bản tình ca chào đón ngày hội non sông thống nhất, ca khúc có câu: “... em đội nón bài thơ đi đón ngày hội lớn...”. “Ngày hội lớn” ở đây chính là ngày 30/4 - ngày thống nhất đất nước. Bài hát không chỉ đáp ứng yêu cầu mừng ngày giải phóng mà còn tôn vinh thành quả của hòa bình. Bố tôi nói, tác phẩm của ông vừa đáp ứng được “yêu cầu chính trị” vừa thể hiện được chất trữ tình theo đúng mong muốn.

Trong kháng chiến, các ca khúc cách mạng, cổ vũ tinh thần chiến đấu của người lính mới được khuyến khích sáng tác, còn tình ca ít có cơ hội xuất hiện. Chỉ sau ngày thống nhất, dòng chảy tình ca mới thực sự bùng nổ. Tuy nhiên, theo làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, ca khúc của bố tôi chính là bản tình ca đầu tiên được công bố sau ngày đất nước thống nhất. Tôi ghi nhớ điều này qua lời kể của nhạc sĩ Thụy Kha, người từng nói với tôi về dấu ấn đặc biệt của bài hát. Sau này, khi thực hiện bộ phim tài liệu về bố mình mang tên “Lê Việt Hòa: Vòm trời nón bài thơ” với kịch bản do chính nhạc sĩ Thụy Kha chấp bút, tôi càng thấm thía hơn giá trị của tác phẩm. Trong phim, lời bình của ông có đoạn: “Nón bài thơ – bản tình ca đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước của Lê Việt Hòa”.

Bố tôi kể rằng khi ca khúc “Gửi em chiếc nón bài thơ” ra đời, bài hát là một bản tình ca thuần túy, trong đó chỉ có duy nhất một từ “Nghệ” dùng để xác định địa danh, còn lại toàn bộ ca từ chỉ nói về tình yêu đôi lứa được trọn vẹn nhờ đất nước đã thống nhất. Lúc bấy giờ, một lãnh đạo của thành phố Huế, sau khi nghe ca khúc, đã rất yêu thích và ngỏ lời với bố tôi: “Anh ơi, anh có thể thay từ “xứ Nghệ” thành “xứ Huế” được không? Vì Huế cũng nổi tiếng với nón Huế mà”. Việc thay đổi này rất đơn giản, chỉ cần luyến một nốt nhạc cho chữ “Huế” là đủ. Nếu đồng ý, có lẽ bố tôi đã nhận được một khoản thù lao đáng kể. Nhưng dù khi ấy còn nghèo, bố tôi vẫn kiên quyết giữ nguyên ca từ, bởi ông muốn tôn trọng lịch sử.

“Gửi em chiếc nón bài thơ” - bản tình ca sau ngày thống nhất đất nước.

Bố tôi giải thích, từ xa xưa, chiếc nón đẹp và nổi tiếng của cha ông chính là nón Nghệ. Điều này thể hiện rõ trong các tài liệu lịch sử, khi nón Nghệ từng được đưa vào tục thách cưới của giới nhà giàu và quan lại từ hơn 300 năm trước. Khi nghiên cứu văn hóa để sáng tác, ông đã tìm hiểu và đọc được một bài thơ cổ có tên “Thách cưới”, được dịch từ Hán Nôm, có niên đại hơn 300 năm:

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao
trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt tầu thật xinh...

Bên cạnh đó, xứ Nghệ còn có truyền thống lâu đời về nghề làm nón, minh chứng qua những câu hát ví phường nón đặc trưng của vùng đất này. Sau này, khi chúa Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, mọi tinh hoa từ khắp nơi đều tập trung về đây để buôn bán, trong đó có nghề làm nón. Dần dần, người Huế cũng sản xuất nón, và nón Huế trở nên nổi tiếng ở thời kỳ sau. Quyết định giữ nguyên ca từ gốc của bài hát, bởi ông muốn tôn trọng và bảo tồn lịch sử của nón Nghệ - loại nón đẹp và danh tiếng đã có từ nhiều thế kỷ trước, gắn liền với văn hóa truyền thống của dân tộc./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Khi những giai điệu Hà Nội bước vào thế giới jazz
    Chiều 30/8, tại Nhà Bát giác, một không gian âm nhạc đa sắc màu sẽ chào đón công chúng với những giai điệu về Hà Nội, tình yêu và những thanh âm jazz giàu sức sống.
  • Những tác phẩm âm nhạc góp phần lan toả văn hóa Hà Nội
    Từ các ca khúc “Hà Nội mùa thu”, “Hoa sữa” đến những giai điệu của Charlie Parker, Miles Davis, Duke Ellington, Antonio Carlos Jobim... chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 23/8 tại Nhà Bát Giác đã đưa những thanh âm quen thuộc của Hà Nội bước vào không gian âm nhạc cộng đồng đầy tinh thần phóng khoáng và ngẫu hứng của jazz. Qua tiếng kèn của các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club và giọng hát của hai ca sĩ Thuỷ Bùi, Minh Thu, hình ảnh Thủ đô hiện lên vừa lãng mạn, vừa trẻ trung, cởi mở trong nhịp sống văn hóa đương đại.
  • Những sắc màu Hà Nội trong ngôn ngữ jazz
    Chiều 23/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, những giai điệu của ca khúc “Hà Nội mùa thu” sẽ tạo nên một cuộc hẹn âm nhạc, nơi ký ức Hà Nội được đánh thức bằng một ngôn ngữ mới- nhạc jazz. Cùng NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, khán giả sẽ bắt gặp một Hà Nội vừa thân thuộc, vừa phóng khoáng trong những sắc màu của jazz.
  • Lan tỏa tinh thần văn hóa từ "trái tim” của Thủ đô
    Khi những giai điệu của tác phẩm “Có phải em mùa thu Hà Nội” vang lên trong không gian Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, hình ảnh Thủ đô hiện lên qua âm nhạc với vẻ dịu dàng, sâu lắng mà vẫn đầy sức sống. Từ một ca khúc quen thuộc, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 16/8 đã mở ra một cách cảm nhận khác về Hà Nội: một thành phố trân trọng ký ức, nâng niu di sản, đồng thời sẵn sàng đón nhận những thanh âm mới của đời sống đương đại.
  • Khi “jazz” kể chuyện Hà Nội
    Từ những giai điệu của “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”; “Có phải em mùa thu Hà Nội” đến những chuẩn mực jazz kinh điển của Charlie Parker, Sonny Rollins, Billy Strayhorn hay bản nhạc “Ngẫu hứng Tây Nguyên” của NSƯT Quyền Văn Minh, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" diễn ra lúc 17h ngày 16/8 tại Nhà Bát giác sẽ mở ra một không gian nghệ thuật thú vị giữa những thanh âm đã gắn bó với công chúng Việt Nam và tinh thần phóng khoáng của jazz.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hồi ức “Những ô cửa gió lộng” - Khi tình yêu ở lại
    Tưởng niệm 38 năm ngày mất của gia đình nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ (29/8/1988 - 29/8/2026), sáng 29/8/2026, tại Hà Nội, NXB Kim Đồng tổ chức chương trình “Giới thiệu sách Những ô cửa gió lộng và giao lưu Xuân Quỳnh cùng tình yêu ở lại”. Chương trình có sự tham dự của tác giả Lưu Tuấn Anh, nhà báo Lưu Minh Vũ cùng các văn nghệ sĩ, độc giả yêu mến nhà thơ Xuân Quỳnh.
  • Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Để tạo lập cơ chế huy động hiệu quả nguồn lực xã hội tham gia bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội; HĐND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Nghị quyết số 30/2026/NQ-HĐND quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ cá nhân, tổ chức cải tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn Hà Nội (thực hiện điểm a, khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô 2026).
  • Hà Nội ra mắt không gian nghệ thuật thủ công đương đại
    Chiều 26/8, tại 61 Tràng Tiền, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Trung tâm Thông tin Triển lãm Hà Nội tổ chức ra mắt không gian nghệ thuật thủ công đương đại.
  • Khẳng định vị thế Thủ đô di sản và kết nối tương lai tại Hội chợ Du lịch Quốc tế ITE HCMC 2026
    Từ ngày 27 đến 29/8, đoàn công tác của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội do Phó Giám đốc Trần Trung Hiếu làm trưởng đoàn cùng các đơn vị, doanh nghiệp của Thủ đô tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026 (ITE HCMC 2026).
  • Triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với những mốc lịch sử năm 1946”
    Hơn 250 tư liệu, hình ảnh và hiện vật quý đã khắc họa những dấu ấn lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm 1946 với nhiều quyết sách có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc.
Đừng bỏ lỡ
  • Long trọng nghi thức sân khấu hoá Lễ Truyền Lô thể hiện chủ trương "chiêu hiền đãi sĩ" dưới triều Nguyễn
    Ban Tổ chức Festival Huế công bố Sứ giả quảng bá di sản văn hoá và tuyên dương “Học sinh danh dự toàn trường” gắn với Lễ Truyền Lô tại Ngọ Môn Huế.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa, tưng bừng không khí Quốc khánh 2/9
    Hướng tới đại lễ Quốc khánh 2/9, những ngày cuối tháng 8, khắp nẻo đường Thủ đô Hà Nội bừng sáng sắc đỏ cờ hoa rực rỡ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc.
  • Khai mạc Triển lãm Mỹ thuật “Mây & Gió”
    Chiều 28/8, tại Nhà triển lãm Mỹ thuật, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức lễ khai mạc Triển lãm với chủ đề “Mây & Gió”, giới thiệu các tác phẩm của 10 họa sĩ từng tham dự Trại sáng tác hội họa tại Tam Đảo.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Vòng xoáy yêu thương
    Thành ơi, bố về! Thằng bé lên ba, mũm mĩm trắng trẻo, xinh xắn như một nụ hồng, lẫm chẫm chạy ra đã thấy mẹ nó lọt trong vòng tay của bố...
  • "Rạng rỡ non sông Việt Nam" qua lăng kính nhiếp ảnh
    Sáng 28/8, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Trung tâm Thông tin Triển lãm Hà Nội tổ chức triển lãm ảnh “Rạng rỡ non sông Việt Nam”, giới thiệu 130 tác phẩm giàu giá trị về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam, góp phần lan tỏa niềm tự hào dân tộc, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước trong công chúng.
  • [Podcast] Khu tập thể - Nét văn hóa cộng đồng đặc trưng của Hà Nội
    Nhắc đến Hà Nội, người ta thường nghĩ đến những danh thắng lịch sử, hoặc những biểu tượng hiện đại về Thủ đô trong tương lai gần như đại lộ cảnh quanh sông Hồng, Khu đô thị thể thao quốc tế Hà Nội... Nhưng giữa sự đổi thay không ngừng ấy, vẫn còn đó những khu tập thể cũ – nơi lưu giữ những ký ức bình dị, thân thương in dấu một thời đã qua. Những bức tường vàng sậm màu, những vết sơn bong tróc… tại các khu tập thể cũ tạo nên một nét đẹp riêng, một khoảng lặng đầy hoài niệm giữa nhịp sống hối hả.
  • Từ không gian tín ngưỡng ở núi Ngọc Trản đến Di sản văn hóa Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”
    Từ một lễ hội tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi điện Hòn Chén, sau đó phổ biến dần ra cộng đồng và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”.
  • [Podcast] Tản văn: Dịu dàng Hà Nội vào thu
    Phố trở mình giã từ mùa hạ. Tháng nghiêng mình nhẹ bước vào thu. Bàn chân muốn chùng chình nhịp bước. Gió se se chút lạnh giao mùa.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • "Ký ức những năm tháng không quên" được tái hiện qua các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
    Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã chính thức khai mạc triển lãm chuyên đề "Ký ức những năm tháng không quên". Triển lãm kéo dài từ nay đến ngày 08/9/2026, mở ra một hành trình trở về quá khứ qua góc nhìn mỹ thuật hiện đại.
Ký ức về cha và bản tình ca ngày thống nhất đất nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO