Lý luận - phê bình

Thơ ca giải phóng miền Nam: Một hình thái đặc thù trên tiến trình văn học 1954 - 1975

Nguyễn Bích Thu • 15:11 19/04/2025

Trong bức tranh toàn cảnh thơ ca giai đoạn 1954 - 1975 không thể không kể đến thơ ca giải phóng miền Nam, một bộ phận thơ ở tuyến đầu chống Mỹ ngụy, với một đội ngũ nhà thơ triệt để và đầy bản lĩnh trong quan niệm nghệ thuật: lấy thơ ca làm vũ khí chiến đấu “Thơ là súng là gươm” (Lê Anh Xuân). Có thể nói, đây là quan niệm chung chi phối cảm hứng và tư thế diễn ngôn của văn nghệ sĩ trong văn học giai đoạn chiến tranh và cách mạng.

Nhưng với đội ngũ các cây bút văn nghệ giải phóng nói chung và thơ ca nói riêng, nhiệm vụ này mang đặc thù riêng, bởi họ không chỉ là thi sĩ mà còn là chiến sĩ, trong họ có sự phối trộn hài hòa tư cách, phẩm chất nghệ sĩ và công dân. Nếu ở các địa bàn khác, những người viết trước hết là chiến sĩ như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh… thì ở địa bàn này, những người viết là những người cầm bút chuyên nghiệp, được trên giao trọng trách trở về miền Nam với sứ mệnh lịch sử đặc biệt. Họ cần xây dựng và phát triển văn học miền Nam, trong tư thế đối đầu, đối mặt với kẻ thù, phản ánh và thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường, những tấm gương điển hình trong khí thế đi đầu diệt Mỹ, tố cáo tội ác trời không dung, đất không tha của bè lũ Mỹ ngụy.

Trong giai đoạn 1954-1975, văn học chính thống ở miền Nam là văn học đô thị, với sự tồn tại nhiều khuynh hướng, trong đó có khuynh hướng yêu nước và tiến bộ. Trong khuynh hướng này đã xuất hiện những tác giả thơ nổi tiếng như Trần Quang Long, Ngô Kha, Trần Vàng Sao, Võ Quê… với những dòng thơ cùng chung một “dòng máu anh hùng”, dùng vũ khí thơ ca để tranh đấu, như song hành cùng thơ ca giải phóng:

Con sẽ vót nhọn thơ thành chông
Xuyên vào gan lũ giặc
Con sẽ mài thơ như kiếm sắc
Chặt đầu văn nghệ tay sai
Trả thù cho cha, rửa hờn cho nước
Cho con ngửng đầu nhìn thẳng tương lai
Nếu thơ con bất lực
Con xin nguyện trọn đời
Dùng chính quả tim mình làm trái phá
Sống chết một lần thôi
(Thưa mẹ trái tim - Trần Quang Long)

Thơ ca giải phóng ra đời năm 1961 - năm thành lập Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam nhưng mầm mống của nó đã có khi đất nước tạm chia làm hai miền. Từ trong đêm đen của chế độ Mỹ ngụy đã xuất hiện những tác giả lấy thơ ca thể hiện khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước như Viễn Phương, Giang Nam, Thanh Hải, Chim Trắng… Bên cạnh những tên tuổi từ trong lòng cuộc chiến là các nhà thơ miền Bắc, trong đó có những cây bút tập kết năm 1954, đã trở về miền Nam theo tiếng gọi của quê hương.

“Mặt đất và bầu trời” - Tranh sơn dầu của họa sĩ Ngân Chài.

Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX và liên tục trong thời gian tiếp theo, hàng loạt nhà văn, nhà thơ tràn đầy nhiệt tình, tâm huyết và năng lực đã từ giã hậu phương miền Bắc lên đường, vượt Trường Sơn vào Nam, góp phần tăng cường lực lượng sáng tác trong đội ngũ các nhà thơ giải phóng: Thu Bồn, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc), Vũ Ngàn Chi (Phạm Ngọc Cảnh), Nguyễn Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoài Vũ, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Vũ Ân Thi, Dương Trọng Dật, Lê Quang Trang, Trần Ninh Hồ, Trần Thị Thắng, Hà Phương, Khuynh Diệp… Đó là những cây bút từ miền Bắc chi viện cho văn học giải phóng miền Nam.

Đội ngũ những nhà thơ giải phóng khi đã đặt chân sang bên này vĩ tuyến 17 đã tự nguyện “sống và viết ở chiến trường”, là những “kiểu người viết” biết cách sống và ứng xử sao cho xứng đáng với nhân dân và đất nước trong những thử thách cao nhất của lịch sử, của thời đại. Các sáng tác của họ là những minh chứng thuyết phục nhất cho sự gắn bó máu thịt với đời sống của nhân dân, với cuộc chiến đấu quyết liệt và anh dũng của dân tộc, cho sự hòa quyện, không tách rời giữa ý thức công dân và nghệ sĩ. Họ đã thổi vào thơ ca những cảm xúc nóng hổi, diễn tả và thể hiện một cách thời sự, cập nhật đời sống và con người trong những tình huống, hoàn cảnh thắt ngặt của chiến tranh. Hàng loạt các sáng tác, các tập thơ thời chiến của các cây bút thơ giải phóng ra đời đã mang cái nhìn, cái cảm, cái nghĩ của những người chứng kiến và nếm trải: “Những đồng chí trung kiên” (1962), “Huế mùa xuân” (1970) - Thanh Hải; “Bài ca chim Chơ Rao” (1964), “Tre xanh” (1970), “Mặt đất không quên” (1972) - Thu Bồn; “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” (1968), “Hoa dừa” (1971) - Lê Anh Xuân; “Quê hương” (1962), “Người anh hùng Đồng Tháp” (1965), “Vầng sáng phía chân trời” (1969) - Giang Nam; “Mắt sáng học trò” (1970) – Viễn Phương; “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ” (1971) - Dương Hương Ly; “Đất ngoại ô” (1973), “Mặt đường khát vọng” (1974) - Nguyễn Khoa Điềm; “Đêm Quảng Trị” (1972) - Vũ Ngàn Chi…

Thơ của các cây bút thơ cách mạng miền Nam là thơ của một đội ngũ gồm nhiều thế hệ thấm nhuần tinh thần và ý chí cộng đồng “không gì quý hơn độc lập tự do”. Một đội ngũ những người đã chứng kiến bao biến động của lịch sử dân tộc, bằng các sáng tác thi ca của mình đã góp phần lưu giữ ký ức của đất nước, của con người một thời đạn lửa. Nổi bật ở đây là tình cảm cuộn dâng mà nghẹn ngào của những đứa con được trở về đất mẹ - quê hương. Nếu không sinh ra trên mảnh đất Quảng Nam, không chứng kiến những đau thương mất mát của quê nhà trong quá khứ, Thu Bồn làm sao viết được những dòng thơ thấm đẫm niềm vui trở về cùng niềm đau trải nghiệm:

Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng vẫn trào nước mắt
Con đã về đây với mẹ - quê hương…

…

Đất hỡi đất người vẹn lòng yêu nước
Viên đạn bây giờ cày lên viên đạn năm xưa
Chiếc áo màu xanh dù rách nát
Vẫn hiền hòa đùm bọc mẹ sớm trưa

Tuy không sinh ra trên đất Quảng nhưng Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc) đã tình nguyện sống và viết trên một “vùng trung tâm của cơn lốc mà trải biết về nhân dân và chính mình”. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ đã định danh cho mảnh đất Quảng Nam là “mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”: “Tôi trở về đất mẹ Quảng Nam tôi/ Dẫu chẳng nơi đây cất tiếng chào đời/ Đất Tổ quốc đâu cũng là đất mẹ/ Ôi Tổ quốc mối tình kỳ lạ thế/ Càng trong lửa đạn lại càng tươi”. Trong thơ Lê Anh Xuân, mạch nguồn quê hương được khơi gợi từ tập thơ đầu tay trên đất Bắc “Tiếng gà gáy” càng cuộn xiết, mãnh liệt hơn trên chặng đường trở về Bến Tre “quê nội”: Thơ Lê Anh Xuân là thơ của người nhập cuộc và hành động hết mình. Đó là cuộc dấn thân mong đi tới sự hòa nhập giữa chủ thể trữ tình và khách thể thẩm mỹ: “Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa/ Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại/ Quê hương ta tất cả vẫn còn đây/ Dù người thân đã ngã xuống đất này”.

Nhập cuộc và hành động, trước hết với Lê Anh Xuân là xác quyết một lẽ sống: “Ta cầm nắm đất cha ông/ Nghe thiêng liêng ngọn lửa hồng trong tay”. Với Nguyễn Khoa Điềm, tình yêu quê hương, ngày trở về quê hương chiến đấu đã kết nối con người trong vòng tay bè bạn, cùng một chí hướng, một đích đến: “Bỗng thấy thương nhau hơn khi vai bạn sát vai mình/ Bẻ củ sắn chia đôi điều giản dị/ Bếp lửa soi một dư vang bền bỉ/ Ôi Trường Sơn đốt lửa mấy năm rồi”. Tình yêu quê hương - quê hương trong tranh đấu kết tinh thành biểu tượng người mẹ: “Đất quê ta mênh mông/ Quân thù không xăm hết được/ Lòng mẹ rộng vô cùng/ Đủ giấu cả hang sư đoàn dưới đất/ Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam”.

Trong tư duy sáng tạo của mình, các nhà thơ giải phóng đã đưa thơ xáp mặt với cuộc sống, đưa chất liệu thực vào cảm hứng và cách diễn đạt của mình. Những chất liệu hiện thực nếu không phải là người trong cuộc sẽ không dễ có những cảm xúc phả vào những trang thơ mà ngày nay đọc lại vẫn không thôi nhắc nhớ về một thời với những “giai điệu tự hào”, đầy trữ tình lãng mạn. Có thể nói, một trong những bài thơ được nhiều người thuộc nằm lòng, được truyền từ thế hệ chống Mỹ đến thế hệ hậu chiến, mang ý nghĩa động viên, vây ấm lòng người là “Bài thơ hạnh phúc” của Dương Hương Ly. Bài thơ với lời đề tặng và tưởng nhớ người bạn đời là nữ nhà văn Dương Thị Xuân Quý (bút danh Dương Thị Minh Hương), người đã gạt nước mắt gửi cô con gái bé bỏng cho bà ngoại để đến với “Trường Sơn nghìn dặm” cùng chồng “nắm tay nhau đi vào cuộc chiến đấu này” và đã hy sinh trên chiến trường Quảng Nam, ở cuối con sông Thu Bồn: “Anh mất em như mất nửa cuộc đời/ Nỗi đau anh không thể nói bằng lời/ Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy/ Những viên đạn quân thù bắn em trong lòng anh sâu xoáy”. Ở đây, cảm xúc của chủ thể trữ tình vượt lên khuôn khổ của một đề tài quen thuộc - nỗi đau mất người yêu, người bạn đời, người đồng nghiệp, đồng đội để mở ra những bình diện khác, những chiều kích khác: vấn đề hạnh phúc, lẽ sống, và hơn hết lẽ sống của người cầm bút trong cuộc ra trận lớn lao của dân tộc: “Em nói đến tương lai tươi thắm ngọt lành/ Em nói tới những điều em định viết/ Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ Con sông Giành gầm réo miên man/ Nước lũ về trang giấy nhỏ mưa chan/ Em vẫn viết lòng dạt dào cảm xúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc”. Cấu trúc bài thơ kết dính trên một chỉnh thể liền mạch như những con sóng tràn bờ, nối tiếp, nâng đỡ nhau, cái riêng nằm trong cái chung, tạo nên đường viền bối cảnh, làm nổi bật nhân cách một con người - một nữ nhà văn chiến sĩ tiêu biểu trong văn học giai đoạn chống Mỹ cứu nước hào hùng và bi tráng của dân tộc.

Có thể nói, văn học giải phóng nói chung và thơ ca nói riêng là một bộ phận không tách rời, là “dòng riêng” giữa “nguồn chung” của văn học 1954 - 1975. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các nhà thơ giải phóng gắn với “huyền thoại” về sự dấn thân, nhập cuộc của một đội ngũ văn nghệ sĩ cho cuộc kháng chiến giành độc lập tự do của dân tộc. Một đội ngũ gồm nhiều thế hệ cầm bút đã tự nguyện điều tiết giữa cái tôi và và cái ta, thậm chí vượt lên cái tôi của chính mình, lấy thơ ca làm vũ khí phục vụ các nhiệm vụ chiến lược của non sông, đất nước. Văn nghệ giải phóng, trong đó với sự hiện diện của thơ ca không chỉ có ý nghĩa về phương diện chính trị, đóng góp công sức vào sự nghiệp cách mạng bằng việc phản ánh và thể hiện cuộc sống và con người trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn để lại một hình thái tồn tại và phát triển độc đáo, đặc thù. Từ đó mang đến hiệu ứng thẩm mỹ và nhân văn, đóng vai trò quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng tiếp nhận không thể không ghi nhận trên tiến trình văn học dân tộc./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Lan tỏa giá trị múa cổ truyền Hà Nội
    Tối 31/10, tại Không gian Biểu diễn Nghệ thuật, Ẩm thực đường phố phường Tây Hồ (thuộc Không gian Văn hóa sáng tạo Tây Hồ - phố đi bộ Trịnh Công Sơn, Hà Nội), Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội tổ chức chương trình biểu diễn “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội năm 2026”. Đây là năm thứ 3 Hội triển khai Đề án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội” do UBND thành phố Hà Nội phê duyệt năm 2024.
  • Triển lãm 90 bức tranh sơn mài được vẽ bằng góc nhìn đương đại
    Ngày 30.10 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, triển lãm "Nguyên - Lãng du cùng Sơn" khai mạc, giới thiệu 90 tác phẩm sơn mài của 8 họa sĩ gồm: Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Đình Văn, Lily Lai, Bùi Thị Mừng, Hoàng Ngọc Nhung, Nguyễn Thùy Dương và Cao Phương Thảo.
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • [Podcast] Nghị quyết số 25/2026/NQ- HĐND thực hiện điểm a Khoản 2 Điều 18 Luật Thủ đô
    Thực hiện điểm a Khoản 2 Điều 18 Luật Thủ đô năm 2026, tại Kỳ họp thứ Ba, HĐND TP Hà Nội Khóa XVII đã thông qua Nghị quyết số 25/2026 Quy định về một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng, tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn thành phố.
  • Sabeco lãi 3.761 tỷ đồng sau 9 tháng, tạm ứng cổ tức tiền mặt 30%
    Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) vừa công bố kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm với lợi nhuận tăng trưởng khả quan, biên lợi nhuận tiếp tục cải thiện và dòng tiền kinh doanh ghi nhận mức tăng mạnh.
Đừng bỏ lỡ
  • Huế đẩy mạnh kích cầu, giới thiệu sản phẩm du lịch mới
    Cơ cấu lại, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn cùng với các sản phẩm du lịch mới có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhằm thu hút du khách và quảng bá hình ảnh Huế trên thị trường khu vực, quốc tế.
  • Kết nối khán giả với những giai điệu jazz giữa lòng Hà Nội
    Những mùa hoa của Hà Nội, sắc thu trong âm nhạc quốc tế và nhịp điệu phóng khoáng của jazz cùng hội tụ trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần” vào lúc 17h ngày 1/11. Qua phần trình diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, Nhà Bát Giác sẽ trở thành điểm hẹn để công chúng thưởng thức những giai điệu thân quen trong một không gian biểu đạt mới.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Tự khúc
    Rèm cửa, hạ xuống. Trước mỗi bàn trang điểm, chiếc đèn nhỏ phía trên lại được bật sáng; trong tấm gương, phản chiếu hình ảnh một cô gái đang kẻ lông mày, sửa lại tóc.
  • Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại
    Gần 300 nhà quản lý, chuyên gia và nhà thiết kế trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại” tại Trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế.
  • Phát triển không gian đô thị Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Vừa qua, tại kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 3.5 (đoạn từ Quốc lộ 2 đến đầu cầu Thượng Cát). Qua đó góp phần phát triển không gian đô thị đa trung tâm, hiện đại, bền vững theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
  • Giải mã sức hấp dẫn của sơn mài qua triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn”
    Từ ngày 30-10 đến 4-11-2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, phường Ba Đình, Hà Nội, triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn” mang đến cho công chúng cơ hội tiếp cận sơn mài từ cả hai phương diện: thưởng thức tác phẩm hoàn chỉnh và tìm hiểu quá trình tạo nên tác phẩm.
Thơ ca giải phóng miền Nam: Một hình thái đặc thù trên tiến trình văn học 1954 - 1975
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO