Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sông Hồng "tiếng hát bốn ngàn năm"

Phan Anh 14:33 10/07/2026

Hà Nội trong tôi không chỉ có ba mươi sáu phố phường thâm nghiêm, cổ kính cùng những di tích trầm mặc của kinh đô Thăng Long; không chỉ có núi Tản bồng bềnh mây trắng cùng với những mái chùa, mái đình rêu phong của vùng đất thiêng xứ Đoài... mà còn có một dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa. Với tôi, Hà Nội gắn liền với sông Hồng. Bởi lẽ, dòng sông ấy chính là người mẹ nhân hậu, vô cùng vĩ đại, đã sinh thành ra vùng đất Thăng Long - Hà Nội nói riêng và bồi đắp nên cả một dải châu thổ Bắc Bộ nói chung. Sự gắn kết ấy không đơn giản là một phép cộng cơ học mà là sự hòa quyện máu thịt không thể tách rời. Song hành cùng Hà Nội, khúc sông cong cong như một vành tai ấy không những là một chứng nhân lịch sử trung kiên, lặng lẽ ghi dấu từng nhịp thở thăng trầm mà còn ôm ấp, che chở, nuôi dưỡng Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và kiêu hãnh vươn mình.

khuc-song-hong-tren-ben-chem.jpg

Sông Hồng có nhiều danh xưng khác nhau. Ngoài tên gọi Nguyên Giang tại Trung Quốc, khi chảy qua các vùng đất ở Việt Nam, sông còn có các tên gọi khác như sông Thao, sông Nhị, sông Phú Lương, sông Bạch Hạc, sông Tam Đới, sông Đại Hoàng, sông Xích Đằng, sông Hoàng Giang. Tên gọi “sông Hồng” hay “Hồng Hà” là tên gọi phổ biến nhất. Tên gọi này xuất phát từ việc người Pháp khi đến đây đã gọi dòng sông nước đỏ này là “Rivière Rouge”. Con sông đỏ này được bắt nguồn từ vùng núi Nguy Sơn và Tường Vân (Vân Nam - Trung Quốc) ở độ cao gần 1.800 mét so với mực nước biển. Sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, vượt qua vùng núi non hùng vĩ để nhập vào Việt Nam tại Lũng Pô, xã A Mú Sung (tỉnh Lào Cai). Từ đây, dòng sông chảy qua nhiều tỉnh, thành: Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình rồi đổ ra biển Đông tại cửa Ba Lạt. Tổng chiều dài của dòng sông là 1149 ki lô mét, diện tích lưu vực xấp xỉ 145.000 ki lô mét vuông, bao gồm hai phụ lưu chính là sông Đà (hữu ngạn) và sông Lô (tả ngạn). Phần sông Hồng chảy trên đất Việt dài 556 ki lô mét. Trong đó, đoạn đi qua Hà Nội (bắt đầu từ xã Cổ Đô và kết thúc ở xã Đại Xuyên) dài 163 ki lô mét, chiếm gần một phần ba chiều dài của sông ở Việt Nam. Với hành trình dằng dặc ấy, mỗi năm sông Hồng cung cấp cho châu thổ Bắc Bộ khoảng 112 tỉ mét khối nước cùng 120 triệu tấn phù sa. Con sông cũng là dòng chính hình thành nên đồng bằng Bắc Bộ và kiến tạo nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ, trong đó thủ đô Hà Nội là trung tâm. Bởi vậy, ngay từ thuở sơ khai, người Việt nói chung, nhất là người Hà Nội đã vô cùng cung kính dòng sông và trìu mến gọi bằng những cái tên thân thương như sông Cái, sông Mẹ.

Dòng nước đỏ ngầu hàng ngàn năm tuổi ấy ngay từ buổi sơ khai cho đến bây giờ vẫn là bầu sữa mẹ ngọt ngào nuôi dưỡng thủ đô Hà Nội yêu dấu. Cho đến hôm nay nó vẫn đêm ngày chắt chiu từng hạt phù sa đêm ra lấn biển để mở rộng bờ cõi Tiên Rồng. Dòng chảy yêu thương ngàn năm đó vẫn nặng ân tình. Đi qua bao bão giông, sông Hồng vừa là vòng tay che chở vừa là mạch nguồn bồi đắp cho long mạch đất kinh kỳ. Con sông ấy không chỉ là trục không gian sinh thái nguyên sơ mà còn là một dòng chảy thời gian lắng đọng hồn cốt máu xương đất Việt, thầm lặng nuôi dưỡng linh hồn Hà Nội. Đã bao lần tôi đi trên bờ hữu ngạn sông Hồng, lặng mình nơi bến nước bên đình Chèm cổ kính, ngắm nhìn dòng chảy ngàn năm. Con nước ấy khi vơi khi đầy, lúc dịu dàng buông lơi thả mình xuôi dòng, lúc lại cuồng nhiệt cuộn sóng đỏ ngầu, băng mình về phía biển Đông. Những lúc ấy, tôi không khỏi nghĩ về thăng trầm của Hà Nội cùng với dòng sông. Bắt đầu từ ngã ba Bạch Hạc, nơi hội tụ sinh khí của sông Lô, sông Thao, sông Đà trước khi hợp thành một dòng chảy đi vào miền đất kinh kỳ. Ở cái nơi cửa ngõ ấy, cảnh vật dòng sông tươi đẹp đến lạ lùng, khiến vị Thượng Thư triều Lê Trung Hưng, Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân phải thốt lên rằng: “Vui thay! Ngã ba Hạc;/ Vui thay! Ngã ba Hạc/ Dưới họp một dòng;/ Trên chia ba ngác/ Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào/ Lênh láng dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc” (Ngã ba Hạc phú). Và cũng chính ở nơi ấy, sách xưa còn ghi truyền thuyết về cây chiên đàn cao ngàn trượng và bầy hạc trắng đậu kín trên cành lá, báo điềm lành cho vua Hùng dựng đô lập quốc để khai sinh ra nước Việt Nam cùng với kinh đô Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội sau này. Theo dòng lịch sử, sông Hồng không chỉ biết lặng thầm chuyên chở phù sa mà còn cuồn cuộn sóng trào như những tiếng thét gầm của cha ông trong những buổi gian lao giữ nước. Dòng sông cũng có lúc đầm đìa nước mắt, cũng có lúc reo vui những khúc ca khải hoàn. Qua cửa Hát Môn, sông Hồng nghẹn ngào hòa chung nước mắt với sông Hát - nơi Hai Bà Trưng gieo mình tuẫn tiết để giữ gìn khí tiết (năm 43); khúc Đông Bộ Đầu từng nhấn chìm quân giặc Nguyên Mông giành lại kinh thành Thăng Long (năm 1258); rồi sau trận Ngọc Hồi – Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị và đám tàn quân nhà Thanh giẫm đạp lên nhau bỏ chạy khiến cầu phao phải đứt trên khúc sông Hồng (năm 1789); còn nữa cầu Long Biên bắc qua sông Hồng cũng là chứng nhân của những ngày quân Pháp rút khỏi Hà Nội và Thủ đô kiên cường, bất khuất trong những ngày đánh Mỹ.

Có những chiều, ngồi bên bờ sông, nhìn dòng nước xuôi chảy, tôi nghĩ về sông Hồng giống như một cuốn biên niên sử bằng nước, lặng lẽ chứng kiến mọi thăng trầm của mảnh đất kinh kỳ. Dòng sông cuồn cuộn sắc đỏ như một dải lụa thắt ngang qua ngực áo Hà Nội và mang trong mình cả một pho sử với biết bao thăng trầm của vùng đất này. Ta cứ gọi con sông là huyết mạch giao thương và quân sự của kinh thành Thăng Long xưa chẳng có gì sai. Nhưng có lẽ, với sông Hồng thế vẫn chưa đủ. Nó còn là một nét hoạ linh thiêng của tạo hóa. Dòng sông không chỉ chảy dọc suốt chiều dài tâm linh người Việt mà còn khéo léo hòa phối với đỉnh núi Ba Vì ngập tràn mây trắng để tạo thành cái thế cân bằng âm dương kỳ diệu cho Thăng Long. Một bên là ngọn núi cao sừng sững thuộc hành Dương, nơi ngự của Đức Thánh Tản Viên; một bên là dòng sông dài rộng cuồn cuộn phù sa thuộc hành Âm, nơi ngự linh thiêng của Đức Mẫu Thoải. Dòng sông và ngọn núi sánh đôi bên nhau giống như một cặp tình nhân, muôn đời nâng đỡ, bao bọc cho Thăng Long - Hà Nội. Và, chính cái sự hòa hợp thiên bẩm ấy đã định thành một địa thế phong thủy tuyệt đẹp: “Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”. Cái vùng đất địa linh này cũng đã thôi thúc Đức vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Cứ mỗi lần nghĩ đến đây, tôi lại thấy quanh mình bàng bạc khói sương và nghe trong đâu đó có cả những tiếng vọng về từ ngàn năm trước. Tôi như gặp lại hình ảnh vua Lý đứng trên mạn thuyền rồng. Người lặng lẽ hướng ánh mắt thâm trầm ra dòng sông lộng gió. Người tạc lời thề với đất trời và tự hứa với lòng mình rằng, không chỉ xây dựng kinh thành để mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho đất nước mà còn “làm kế” bền vững cho con cháu muôn vạn đời sau được nương bóng long thành, uống nước dòng sông.

Cùng với những thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm, khúc sông Hồng chảy qua mảnh đất ngàn năm văn hiến còn mang trong mình muôn vàn lớp trầm tích văn hoá - lịch sử vô giá của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Từ đoạn đầu ở xã Cổ Đô cho đến nơi kết thúc ở xã Đại Xuyên, sông Hồng hội tụ phong phú các di sản vật thể và phi vật thể vô giá dọc bên đôi bờ, tạo nên trục kết nối xuyên suốt từ miền đất học đến những làng nghề truyền thống. Ở nơi bắt đầu khúc sông đi vào Hà Nội là làng hoạ Cổ Đô độc nhất vô nhị mang đậm dấu ấn văn hoá xứ Đoài, cũng chính là quê hương của những tấm lụa cống nổi tiếng từ xa xưa: “Lụa này lụa thật Cổ Đô/ Chính tông lụa cống các cô ưa dùng”. Xuôi dòng, đi qua đoạn sông nối đôi bờ Hát Môn - Mê Linh. Nơi đây, ta như nghe thấy tiếng trống trận khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm nào: “Ngàn Tây nổi áng phong trần/ Ầm ầm binh mã tiến gần Long Biên/ Hồng trần nhẹ gót chinh yên/ Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành” (Đại Nam quốc sử diễn ca). Đi gần đến kinh thành, vùng Chèm (phường Đông Ngạc), ngay bên bờ sông, ta bắt gặp một ngôi đình cổ kính hướng mặt ra phía dòng sông. Đấy là đình thờ Lý Ông Trọng. Tương truyền, Đức thánh đình Chèm rất linh thiêng, từng giúp An Dương Vương đánh tan quân Tần; sau lại giúp Tần Thuỷ Hoàng đánh bại quân Hung Nô. Tiếp nữa là đến Bến Đông Bộ Đầu, nơi từng là trung tâm giao thương, quân sự sầm uất bậc nhất ở kinh thành. Theo dòng sông, ta đến xã Bát Tràng và gặp một ngôi làng nghề cùng tên với xã, nổi tiếng trong và ngoài nước với thương hiệu gốm sứ nghìn năm tuổi. Đi tiếp, ta lại đến xã Chương Dương rồi gặp bãi Tự Nhiên, nơi chàng trai mồ côi nghèo làm nghề đánh cá, Chử Đồng Tử (một trong Tứ bất tử của Việt Nam) gặp công chúa Tiên Dung rồi nên duyên vợ chồng. Mối duyên tình không phân biệt đẳng cấp này cũng là thiên tình ca tuyệt đẹp, gửi gắm biết bao mơ ước của người xưa giữa nơi đôi bờ sông nước mênh mang. Đắm mình trên con tàu du lịch dọc khúc sông Nhĩ Hà ấy, tôi mới hiểu vì sao sông Hồng lại được coi là chứng nhân lịch sử, nơi lưu giữ trầm tích của Thăng Long ngàn năm. Giữa đôi bờ hư thực, tôi nghe tiếng sóng dưới thân tàu xôn xao giống như tiếng thì thầm của ngàn năm vọng về. Nhìn hai bên bờ ngô khoai biêng biếc cùng những mái đình cổ kính ẩn hiện dưới gốc đa già, lòng tôi chợt trào dâng một niềm tự hào khôn tả về một trục di sản sống động, nơi dòng chảy của tự nhiên hòa cùng dòng chảy của văn hóa của Thăng Long bất tử.

Theo tháng năm dần trôi, sông Hồng trong tôi không chỉ là một dòng chảy địa lý mang phù sa bồi đắp cho đôi bờ xứ sở hay là một chứng nhân của lịch sử lắng hồn núi sông ngàn năm. Đó còn là một dòng chảy của ký ức, một dòng sông của hoài niệm. Nhớ lại, hồi giữa thập niên tám mươi của thế kỷ trước, lúc ấy tôi còn là học sinh cấp hai, tôi từng có một trưa không ngủ, trốn nhà đạp xe đi dọc đê Chèm lên xem cầu Thăng Long bắc qua sông Hồng, chỉ vì nghe nói đó là công trình lớn nhất Đông Nam Á, niềm tự hào của cả đất nước. Trong ký ức của tôi bãi sông hồi đó rất đẹp, một vẻ đẹp hoang sơ của làng quê. Gió thổi lồng lộng bờ đê, mát rượi. Suốt dọc bên đê là những cây xanh um tùm và những rặng tre ngà chắn sóng; bãi bên bờ sông và bãi nổi giữa dòng sông, xanh mướt những nương ngô, bãi khoai, ruộng lạc, ruộng đỗ, nương dâu... Trên dòng sông đỏ ngầu ngày ấy có rất nhiều tàu và xà lan chở hàng xuôi ngược xen lẫn những thuyền chài thấp thoáng buông câu bên mép nước. Tôi đứng trên triền đê, mắt nhìn về cây cầu khổng lồ có hai tầng nối đôi bờ sông nước từ bên huyện Từ Liêm sang huyện Đông Anh. Trong suy nghĩ non nớt của một đứa trẻ ngày ấy, cây cầu quả là một kỳ tích trong mơ. Tôi không thể quên, một hồi còi kêu inh ỏi rồi xuất hiện một đoàn tàu rất nhiều toa nối đuôi nhau xình xịch chạy ở tầng phía dưới, hướng về mạn Bắc. Còn ở tầng trên, ô tô chạy qua chạy lại nhộn nhịp nhưng chưa nhiều như bây giờ. Xen lẫn thanh âm của tàu xe là những tiếng sóng ì oạp xô vào mạn thuyền chài trên dòng sông tạo nên một bản nhạc rất độc đáo. Đó là bản nhạc giao thoa giữa cái nghèo khó, bình yên của làng quê và nhịp sống mới của phố thị đang manh nha, hối hả chuyển mình. Gần nửa thế kỷ đi qua, sông Hồng giờ cũng đã khác xa ngày ấy. Dòng sông cũng đã khoác lên mình tấm áo mới. Những rặng tre ngà chắn sóng thưa dần và nhiều cây cầu hiện đại mọc lên. Dọc bên đôi bờ là những khu đô thị lung linh ánh đèn, mọc lên san sát. Khúc sông Hồng ngày xưa trong tôi không còn vẻ hoang sơ, lặng lẽ của thập niên tám mươi nhưng dòng chảy phù sa thì vẫn vẹn nguyên màu đỏ nặng ân tình, vẫn miệt mài bồi đắp cho đất cằn và nuôi dưỡng những thế hệ người Hà Nội. Bây giờ mỗi lần có dịp đi qua sông Hồng, nhìn xuống dòng nước đỏ phù sa, tôi lại như thấy lại hình bóng mình của những năm tháng cũ. Dường như dòng chảy kia không chỉ là nước. Nó có cái gì lớn hơn thế. Nó là hoài niệm. Hóa ra, có những giá trị sẽ mãi nằm lại ở phía bên kia thời gian, trở thành một phần máu thịt trong ký ức. Sông Hồng không chỉ chở phù sa nuôi lớn một vùng đồng bằng, mà còn chở cả tuổi thơ tôi, chở những ước mơ giản dị nhưng đầy kiêu hãnh của một thế hệ từng đi qua bao gian khó. Thăng Long – Hà Nội sinh ra từ dòng sông ấy. Dòng sông ấy vẫn chảy, chảy trong lòng Hà Nội và chảy suốt dọc đời tôi như một bến đỗ bình yên, mỗi khi lòng muốn tìm về chút hương xưa.

Vẫn biết Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông: sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Đáy, sông Tô Lịch, sông Tích, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ, sông Cà Lồ nhưng trong tôi sông Hồng mãi là con sông sâu lặng nhất. Con sông ấy đã, đang và sẽ nuôi dưỡng một Hà Nội văn minh và hiện đại. Hy vọng, khi Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng hoàn thành, sông Hồng không chỉ đưa được dòng phù sa đi lấn biển mà còn trở thành một trái tim tỏa sáng rực rỡ giữa Thủ đô ngàn năm văn hiến. Rồi mai này những nhịp cầu hiện đại trên sông soi bóng xuống dòng nước đỏ nặng phù sa để tiếp tục nối liền quá khứ hào hùng với tương lai tươi sáng. Nơi dòng sông chảy qua sẽ là một không gian của những công viên xanh ngút ngàn, những công trình kiến trúc vĩ đại và các lễ hội văn hóa mang tầm vóc quốc tế để làm rạng rỡ hai tiếng Việt Nam. Dòng sông Mẹ khi ấy không chỉ nuôi dưỡng đất cằn bằng nguồn phù sa màu mỡ mà còn nâng cánh cho khát vọng bay cao của một thành phố sáng tạo, hòa bình và thịnh vượng. Mong ước rằng, giữa dòng chảy hối hả của thời đại, sông Hồng vẫn giữ vẹn nguyên những ân tình như xưa của nơi lắng hồn núi sông ngàn năm và mãi là niềm tự hào, kiêu hãnh của muôn thế hệ người dân Thủ đô yêu dấu!

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Nét cổ ở làng cổ Đường Lâm
    Làng cổ Đường Lâm là làng cổ độc đáo, đặc sắc trong những làng cổ đang còn lại trên đất nước ta. Mê cổng làng Mông Phụ, mê làng cổ Đường Lâm và đặc biệt ngưỡng mộ, tri ân mảnh đất có hai vị vua hết lòng vì xã tắc, du khách luôn muốn tìm về đây.
(0) Bình luận
  • Trầm tích ba nghìn năm dưới chân đại lộ
    Nằm ở ngoại thành phía Tây của Hà Nội, làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá xã Hoài Đức không chỉ được biết đến là quê hương của cụ Khánh Ký, một nhà yêu nước thầm lặng, một trong những ông tổ nhiếp ảnh của nước Nam ta mà còn nổi tiếng với di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, nơi lưu giữ những dấu tích của tiền nhân cách đây khoảng trên dưới 3000 năm.
  • Hà Nội, nơi tim tôi thuộc về…
    Sài Gòn đêm mưa. Tôi nhận được dòng tin nhắn của một người bạn cách xa nửa vòng trái đất: Nhớ Hà Nội quá. Ừ thì nhớ!
  • Những mùa thu Hà Nội
    Mỗi độ tháng Tám, tháng Chín về, Hà Nội như lật giở từng trang ký ức. Có trang thơ. Có trang nhạc. Có những trang được viết bằng lịch sử. Và cũng có những trang được viết bằng chính những mùa thu đã đi qua Thủ đô yêu dấu. Tôi đã đi cùng Hà Nội hơn hai mươi mùa thu. Chừng ấy thời gian đủ để những đổi thay của phố xá in hằn trong ký ức, và cũng đủ để hiểu rằng, mùa thu là món quà đẹp nhất mà Hà Nội dành tặng cho những ai yêu thành phố này.
  • Bắc Môn - Cửa thành cuối cùng của thành Hà Nội
    Trên con phố Phan Đình Phùng rợp bóng cây xanh, có một công trình kiến trúc cổ uy nghiêm trầm mặc, mang đầy dấu tích thời gian. Ấy là Bắc Môn - cửa (cổng) bắc của thành cổ Hà Nội. Thủ đô giờ đã có nhiều đổi thay, tòa thành xưa chỉ còn trong ký ức, nhưng sự hiện diện của Bắc Môn - cửa thành duy nhất còn lại đã trở thành biểu trưng cho một phần lịch sử Thăng Long - Hà Nội, với những giá trị văn hóa - lịch sử trường tồn.
  • Dạo phố chạm miền ký ức
    Sau Mùa Xuân Đại Thắng, tôi được cấp trên cử tuyển đi học Học viện Quân sự để phục vụ quân đội lâu dài. Từ Biên hòa nhóm chiến sỹ sư đoàn Thép chúng tôi đi ra Bắc nhập học, cùng lên xe của Cục Vận tải từ Biên Hòa.
  • Làng tôi có cây cầu kiều
    Bao thế hệ già trẻ ở làng tôi đều có tuổi thơ gắn liền bên cây cầu gỗ. Thấy bảo, cây cầu cũ cũng vài trăm năm tuổi, cho dù xã hội có phát triển đến đâu, đô thị hóa thế nào thì cũng phải giữ lại cây cầu vì nó còn là biểu tượng của ngôi làng cổ nghìn năm tuổi.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Festival Thăng Long - Hà Nội 2026: Thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật trên nền tảng văn hoá truyền thống
    Tiếp nối thành công của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ I năm 2025, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” sẽ diễn ra từ ngày 11/9 đến ngày 20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa, di sản tiêu biểu của Thủ đô như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bảo tàng Hà Nội, xã Bát Tràng và khu vực Tượng đài Cảm tử và Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
  • Trưng bày “Tâm son, chí thép”: Lan tỏa các giá trị cao đẹp về lực lượng Công an nhân dân Việt Nam
    Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2026), Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tổ chức trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (phường Cửa Nam, TP Hà Nội).
  • Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
    Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
  • Trầm tích ba nghìn năm dưới chân đại lộ
    Nằm ở ngoại thành phía Tây của Hà Nội, làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá xã Hoài Đức không chỉ được biết đến là quê hương của cụ Khánh Ký, một nhà yêu nước thầm lặng, một trong những ông tổ nhiếp ảnh của nước Nam ta mà còn nổi tiếng với di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, nơi lưu giữ những dấu tích của tiền nhân cách đây khoảng trên dưới 3000 năm.
  • Hà Nội, nơi tim tôi thuộc về…
    Sài Gòn đêm mưa. Tôi nhận được dòng tin nhắn của một người bạn cách xa nửa vòng trái đất: Nhớ Hà Nội quá. Ừ thì nhớ!
Đừng bỏ lỡ
  • Khát vọng mùa hè
    Mùa hè, cũng đến từ một nơi xa, nhưng chẳng bao giờ chung đường với mùa xuân, mùa thu hay đông giá rét. Mùa hè đến từ những k ức thanh xuân nồng nàn, hồ hởi của mỗi con người chúng ta. Lạ thế chứ, sao ta đón bao mùa hè mà dường như vẫn chưa hề quen…
  • Lễ hội điện Huệ Nam: Giá trị văn hóa, tín ngưỡng hội tụ bên dòng sông Hương
    Lễ hội điện Huệ Nam tháng 7 Âm lịch năm 2026 chính thức khai hội tại điện Huệ Nam (điện Hòn Chén), đình làng Hải Cát và Điện thờ Thánh Mẫu (TP Huế).
  • [Podcast] Quà sáng của người Hà Nội
    Khi những tia nắng đầu tiên lấp lánh trên mặt hồ, cũng là lúc phố phường thức giấc bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng chổi tre của người công nhân vệ sinh, tiếng xe đạp chở hàng len qua từng con phố nhỏ, tiếng gọi nhau í ới của những người bán hàng rong... Và xen giữa những thanh âm ấy là mùi thơm quyến rũ của những món quà sáng đang lan tỏa từ các gánh hàng, quán nhỏ ven đường.
  • “Từ mùa thu độc lập” - Giai điệu của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc
    Trong không khí phấn khởi, tự hào của những ngày tháng Tám lịch sử, hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tối 19/8, tại Công viên Cầu Giấy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Cầu Giấy tổ chức chương trình nghệ thuật "Từ mùa thu độc lập".
  • Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại
    Các chuyên gia thảo luận, trao đổi “Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại” và hướng tới mục tiêu ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo Công ước UNESCO năm 2003.
  • Liên hoan Phim Quốc tế Hà Nội lần thứ VIII: Điện ảnh - Kết nối - Phát triển
    Liên hoan Phim Quốc tế Hà Nội lần thứ VIII (HANIFF VIII) là sự kiện văn hóa – điện ảnh mang tầm quốc tế được tổ chức định kỳ hai năm một lần tại Thủ đô Hà Nội. Với chủ đề xuyên suốt “Điện ảnh - Kết nối - Phát triển”, HANIFF VIII không chỉ tôn vinh các tác phẩm điện ảnh xuất sắc của Việt Nam và thế giới mà còn là nhịp cầu thúc đẩy giao lưu văn hóa, phát triển công nghiệp điện ảnh và quảng bá hình ảnh Thủ đô Hà Nội.
  • “Bệ phóng” cho Hà Nội tiến tới mô hình không gian đô thị đa tầng - đa lớp
    Luật Thủ đô 2026 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý mới với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền Thành phố Hà Nội trong quản lý đầu tư, phát triển đô thị. Đặc biệt, Luật Thủ đô 2026 quy định về không gian tầm thấp để Hà Nội hiện thực hóa mục tiêu phát triển không gian đô thị đa tầng – đa lớp, vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn dịp 2/9
    Nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), Thành phố Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn, qua đó bồi đắp tình yêu Tổ quốc, lòng tự hào dân tộc... và góp phần đưa Hà Nội thành điểm đến uy tín của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật của khu vực và thế giới.
  • Lan tỏa tinh thần văn hóa từ "trái tim” của Thủ đô
    Khi những giai điệu của tác phẩm “Có phải em mùa thu Hà Nội” vang lên trong không gian Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, hình ảnh Thủ đô hiện lên qua âm nhạc với vẻ dịu dàng, sâu lắng mà vẫn đầy sức sống. Từ một ca khúc quen thuộc, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 16/8 đã mở ra một cách cảm nhận khác về Hà Nội: một thành phố trân trọng ký ức, nâng niu di sản, đồng thời sẵn sàng đón nhận những thanh âm mới của đời sống đương đại.
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Bích Hạnh
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Bích Hạnh.
Sông Hồng "tiếng hát bốn ngàn năm"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO