Đào Nhật Tân - Hoa Tết của người Hà Nội
Không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội được người đời trìu mến gọi là thành phố của những mùa hoa. Mười hai tháng ở nơi đây là mười hai sắc hoa đặc trưng, từ thanh tao dịu nhẹ đến rực rỡ nồng nàn. Chúng luân phiên tô điểm cho từng tuyến phố, biến những con đường ở đất kinh kỳ vốn trầm mặc, rêu phong trở thành những bức tranh tuyệt sắc, sống động, khiến cho lòng người không khỏi xốn xang, say đắm.

Hoà mình vào hương sắc của các mùa hoa, nhạc sĩ Giáng Son từng đã thổn thức và gửi gắm nỗi lòng qua những giai điệu da diết, êm đềm, sâu lắng của ca khúc “Hà Nội mười hai mùa hoa” để ca ngợi, tôn vinh cái vẻ đẹp kỳ diệu này. Thoáng qua là vậy, ngắm nhìn và suy nghĩ, ẩn sau những sắc màu thiên nhiên thơ mộng ấy, người ta còn bắt gặp một nét tâm hồn rất riêng của người Thủ đô: một tình yêu thiên nhiên thuần khiết, một nhãn quan nghệ thuật và thú chơi hoa vô cùng tao nhã. Và giữa vô vàn hương sắc của đất trời, hoa đào của tháng Giêng - nhất là hoa đào Nhật Tân - luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng người Hà Nội mỗi dịp xuân về. Dường như đây chính là loài hoa mang linh hồn ngày Tết của mảnh đất nghìn năm văn hiến. Giữa tiết trời se lạnh, mâm cỗ Tết của người Hà Nội có thể giản tiện một vài món ngon, nhưng trong nhà không thể thiếu một cành đào tươi thắm để gọi xuân sang.
Mười hai sắc hoa trong bài hát “Hà Nội mười hai mùa hoa” của nhạc sĩ Giáng Son (tháng Giêng hoa đào, tháng Hai hoa ban, tháng Ba hoa sưa, tháng Tư hoa loa kèn, tháng Năm hoa phượng, tháng Sáu hoa sen, tháng Bảy hoa sấu, tháng Tám hoa dâu da xoan, tháng Chín hoa sữa, tháng Mười hoa cúc, tháng Mười một hoa thạch thảo, tháng Mười hai hoa cải vàng) được xem là nét đặc trưng văn hóa cho mười hai tháng ở Thủ đô. Xét về cội nguồn, có đến tám loài trong số ấy là hoa bản địa, có mặt từ rất lâu ở Hà Nội, bao gồm: hoa đào, hoa sưa, hoa sen, hoa sấu, hoa dâu da xoan, hoa sữa, hoa cúc và hoa cải vàng. Bốn loài còn lại là hoa du nhập, chia thành hai nhóm rõ rệt: hoa ban được đưa về từ vùng núi Tây Bắc; còn hoa loa kèn, hoa phượng và hoa thạch thảo vốn có nguồn gốc từ nước ngoài (châu Âu và châu Phi) theo chân người Pháp đến nước ta từ hồi đầu thế kỷ XX. Và trong số những loài hoa bản địa ấy chỉ có hoa đào mới sở hữu lịch sử lâu đời và gắn liền sâu sắc nhất với văn hóa Thăng Long - Hà Nội, trở thành một thú chơi tao nhã phổ biến mỗi dịp Tết đến xuân về, đặc biệt là hoa đào Nhật Tân.
Tương truyền, vào khoảng thế kỷ VII dưới ách đô hộ của nhà Đường, hoa đào bắt đầu bén rễ trên vùng đất Nhật Tân. Ngày đó, giới quan lại phương Bắc ở thành Đại La đã sai quân lên các vùng rừng núi phía Bắc đánh những gốc đào hoang về trồng ở nơi dinh thự của mình. Những cành đào ấy không chỉ giúp họ khỏa lấp nỗi nhớ quê nhà mỗi độ xuân về mà còn là một công cụ trực quan để đo đếm thời gian. Mỗi khi cây đào khoe sắc là tết đến, mỗi mùa hoa nở là một năm đi qua. Và cũng bằng cách đếm số lần hoa đào nở như thế mà những kẻ viễn xứ có thể biết được khoảng thời gian mình đã lưu lại trên đất An Nam. Rồi cùng với đó, trải theo thời gian, những gốc đào rừng ấy dưới đôi bàn tay bền bỉ và tài hoa của bao thế hệ người dân Nhật Tân đã dần lột xác, biến thành một loại đào cảnh rực rỡ, trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng cho ngày Tết ở Hà Nội.
Khởi nguồn từ những cây đào phai phơn phớt hồng, thanh nhã được mang về từ vùng rừng núi phía Bắc, làng hoa Nhật Tân ngày nay rất đa dạng với nhiều chủng loại đào rất đặc sắc như: đào bạch, đào bích và đào thất thốn. Đến làng đào ấy ta sẽ thấy mỗi sắc hoa mang một vẻ đẹp duyên dáng rất riêng. Nếu đào phai thanh lịch với lớp cánh kép dịu dàng thì đào bạch lại mang sắc trắng tinh khôi độc đáo, thuộc loại hàng vô cùng quý giá. Và phổ biến nhất ở làng hoa Nhật Tân hiện nay là giống đào bích. Giống hoa này có bông khá to, cánh dày xếp chồng nhiều lớp lên nhau, ôm lấy nhị vàng; sắc hoa thắm tươi ấy vô cùng bền bỉ, chẳng hề phai nhạt trước mưa phùn gió bấc. Đặc biệt và vương giả nhất phải kể đến đào thất thốn, đây từng được coi là một thứ “sản vật” tiến vua, thuộc hàng cực kỳ quý hiếm. Loại cây này tuy dáng thấp nhỏ, gốc rễ xù xì gân guốc nhưng có khả năng cho ra những bông hoa thắm đượm, đỏ như màu máu ngay từ thân gốc.
Hành trình biến những cây đào hoang dã có cánh hoa phơn phớt hồng thành các giống đào cảnh quý hiếm, mang vẻ đẹp hoàn mỹ chính là thiên “sử thi” về lòng kiên trì và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân ở làng Nhật Tân. Quá trình lai tạo và kỳ công chăm sóc ấy đã làm nên thương hiệu độc đáo của một làng nghề trồng hoa nơi đất kinh kỳ. Nếu một ngày nào đó ghé thăm Nhật Tân, hẳn bạn sẽ được người dân nơi đây kể cho nghe nhiều huyền thoại và sự công phu của nghề làm hoa trong suốt chiều dài lịch sử. Bắt đầu là giai thoại về cành đào tình yêu của Nguyễn Huệ dành cho công chúa Ngọc Hân. Chuyện kể rằng, ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu (1789), sau khi đánh bại quân Thanh ở Thăng Long, vua Quang Trung đi ngang qua làng Nhật Tân thấy đào đang nở rộ. Nghĩ đến người vợ yêu quý của mình, đang ngày đêm mong nhớ, ở chốn kinh đô, nhà vua đã phấn khích chọn một cành đang nụ, cho phủ gấm vàng, rồi sai người phi ngựa mang vào Phú Xuân để gửi gắm tình yêu và báo tin mừng thắng trận. Các phu trạm đã thay nhau hoả tốc, chỉ sau hai ngày, cành đào đã đến tay người nhận. Có lẽ cảm hứng từ giai thoại này mà sinh thời thi sĩ Chế Lan Viên đã viết một bài tứ tuyệt rất hay: “Hẳn nhớ Thăng Long, hẳn nhớ đào/ Mai vàng xứ Huế có khuây đâu!/ Đào phi theo ngựa về cung nhé!/ Nở cạnh đài gương sắc chiến bào” (Cành đào Nguyễn Huệ). Giai thoại xưa nếu có thật thì có lẽ cành đào ngày ấy vẫn là cành đào phai chứ chưa phải là giống đào bích nổi tiếng như bây giờ.
Vẫn biết chuyện xưa chỉ là một giai thoại. Nhưng giai thoại ấy đã cho người ta nhận ra một sự thực rằng, từ lâu hoa đào Nhật Tân đã vượt ra khỏi ranh giới của một loài cây cảnh và trở thành biểu tượng văn hóa linh thiêng trong ngày Tết cổ truyền ở đất Thăng Long kinh kỳ phồn hoa. Bây giờ, ở làng Nhật Tân có nhiều giống đào chơi Tết. Ngoài hai loại thất thốn và bạch đào là những dòng “đặc sản” ra, thì phổ biến nhất vẫn là đào bích. Người chơi hoa ở Hà Nội chuộng giống đào này không chỉ bởi cái thế cây vút thẳng, sum vầy, tròn trịa, bền hoa, chịu được rét ngọt mà còn ở bông to, sắc thắm, cánh dầy. Đặc biệt, ở loại đào bích là nụ hoa mọc san sát và nở đều trong những ngày Tết, làm thành một màu đỏ rực, thắp sáng cả ngôi nhà. Theo tín ngưỡng dân gian, người ta tin rằng, cái màu đỏ tươi của bích đào giống như một lời chúc mừng may mắn đầu năm; mang lại sinh khí, tài lộc, xua đuổi mọi tà khí, xui xẻo và đem đến mọi điều bình an cho gia chủ. Có lẽ, với niềm tin ấy mà trong những ngày Tết, bất luận sang hèn, giàu có hay bần hàn, nhà nào ở Hà Nội cũng thường có một cành đào. Người ta cắm đào trong lọ, thành kính dâng lên bàn thờ gia tiên hoặc bày trong phòng khách, trồng nguyên cây trong chậu để trên bậc tam cấp hay kê ở giữa sân để trang hoàng nhà cửa đón xuân.
Yêu hoa đào Nhật Tân mà tôi mới để ý và rồi được biết, so với cây đào rừng thủa còn hoang sơ về đất kinh kỳ ngày nào, thì đào bích ở làng hoa này thuộc hàng non trẻ. Nếu tuổi đời của những cây đào rừng có mặt ở vùng đất này dư một ngàn năm thì tuổi đời của đào bích mới chỉ có ngoài trăm năm. Người ta bảo rằng, sự hiện diện của đào bích tại Hà Nội là mối “thâm duyên” trời định cho đất Thăng Long - nơi hội tụ của duyên trời, tình đất và lòng người. Vào đầu thế kỷ XX, một lữ khách phương xa nào đó đã mang đến quán Trấn Vũ cành đào bích lạ. Cánh hoa dày dặn, sắc đỏ rực rỡ làm bừng sáng cả một góc đền tôn nghiêm. Nhận ra cốt cách của một giống hoa quý, cụ thủ từ lập tức đem ghép vào gốc đào phai để lưu giữ giống, rồi tin tưởng trao cho hai nghệ nhân làng Nhật Tân mang về nhân giống. Nhờ hợp thủy thổ ở Hồ Tây và thấm đẫm dưỡng chất từ dòng phù sa sông Hồng màu mỡ mà giống đào này đã phát triển mạnh mẽ lạ thường. Chúng như hút trọn nguồn sinh huyết từ lòng đất mẹ bất tử để nhào nặn nên một sắc đỏ tuyệt mỹ: khiến cho đóa hoa đã thanh tú lại càng kiều diễm, đã rực rỡ lại càng kiêu sa và trở thành “vương hậu” của các loài hoa xuân ở Hà Nội.
Giờ đây, đào bích đã có một chỗ đứng vững chắc trong lòng người yêu hoa ở Hà Nội. Nhưng để có được những cành đào đỏ tươi đúng dịp xuân về vẫn còn là cả một hành trình bền bỉ, dài lâu và nặng tình của người trồng đào Nhật Tân. Những ngày áp tết, ai nấy rạng ngời nét mặt, vác một cành đào “hỉ tín” trên vai về nhà nhưng mấy người đã biết được đằng đẵng cả năm một nắng hai sương của người trồng hoa. Tháng Giêng, tháng Hai phải đi thu gom những gốc đào cũ, làm đất và xuống vụ trồng mới. Từ tháng Tư đến tháng Tám phải liên tục cắt dăm, tỉa cành, nắn thế, bấm ngọn. Tháng Chín tháng Mười đảo cây (đánh lên trồng xuống), khoanh vỏ (thiến đào) để kìm hãm sự sinh trưởng, ép cây già đi. Tháng Mười một, người trồng lại dồn các dưỡng chất để cho cây nuôi nụ, chờ hoa. Đấy còn chưa kể là phải nhìn trời rét muộn hay nắng sớm để mà điều chỉnh, thúc hãm cây đào sao cho nở hoa đúng vào dịp tết. Nhưng thật kỳ lạ, cũng cách làm ấy, chỉ ở Nhật Tân mới có đào đẹp. Người ta nói rằng, cây đào trồng ở Nhật Tân, ngoài việc thụ hưởng dưỡng chất phù sa của dòng sông Hồng còn được hưởng nắng gió lộng lộng quanh năm của mặt nước Hồ Tây mênh mông. Vì thế, cây đào ở đây khác hẳn với các loại đào được trồng ở quanh vùng, lúc nào cũng đẹp hơn rất nhiều. Cho nên, người sành đào chỉ thích chơi đào Nhật Tân. Một gốc đào đẹp phải có đủ ba yếu tố như người đời đúc kết: nhất dáng, nhì hoa, thứ ba mới đến nụ. Ngoài ra, gốc đào càng già thì đào càng đẹp: “đào già hoa kép”. Thế mới hay nghề chơi đào nơi này cũng lắm công phu.
Tôi hay về Nhật Tân nên được nghe kể nhiều chuyện liên quan đến hoa đào. Và tôi nhớ mãi một chuyện. Đó là chuyện kể về những ngày đầu tiếp quản Thủ đô. Hồi ấy, trong dịp Tết Ất Mùi, năm 1955 - cái Tết đầu tiên sau ngày giải phóng, trên đường trở về nhà ở Xuân Đỉnh, bác sĩ Trần Duy Hưng – khi ấy là Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội đi qua làng đào Nhật Tân. Thấy bên đường chỉ còn lác đác một vài bóng đào, ông ngẩn ngơ và dừng lại hỏi thăm thì mới hay cơ sự. Hoá ra, ai đó đã tung tin đồn rằng hoa đào là “hoa tư sản” nên việc chơi hoa là biểu hiện của lối sống tư sản. Vốn là một trí thức lịch lãm và sâu sắc, ông thấu hiểu ngay nỗi lòng của bà con làng đào. Bằng tình yêu sâu nặng với mảnh đất này, ông đã giải thích, bác bỏ tin đồn thất thiệt và khuyên nhủ bà con tiếp tục giữ nghề. Nhờ vậy, làng đào đã được hồi sinh và kiên cường đi qua bao thăng trầm để rồi trở thành một niềm tự hào của mảnh đất ngàn năm văn hiến. Giờ đây, dường như đã trở thành một thói quen, mỗi độ cuối năm, tôi thường hay về Nhật Tân đến các vườn đào ngắm hoa, nhìn chim én lượn, lặng lẽ chờ đón xuân sang.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.