Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
Tự truyện là một thể loại văn học không hề dễ thuyết phục người đọc. Thế nhưng với tác phẩm “Đi theo một quầng sáng”, tôi lại dành cho nó sự hứng thú đặc biệt. Theo tôi, người viết tự truyện là những người rất dũng cảm, tự tin khi tự nguyện bóc tách cuộc đời mình cho bàn dân thiên hạ bình phẩm. Để đạt được sức hấp dẫn của tự truyện, một trong những yếu tố quan trọng thuyết phục người đọc là tính trung thực và nghệ thuật kể chuyện. Sức hấp dẫn, sự thuyết phục của tác phẩm sẽ rất chênh vênh, rơi rụng nếu mục đích của người viết là muốn “diễn”, muốn điệu đà, đánh bóng bản thân hay hạ thấp, công kích người khác, khiến tác phẩm mất đi ý nghĩa tốt đẹp và nguồn năng lượng cần thiết. Tôi bị cuốn tự truyện này thuyết phục cũng chính là cảm nhận được sự trung thực ở những điều chị kể làm nền tảng cơ bản trong suốt 39 chương của tác phẩm.

Đọc tác phẩm, ta như gặp người rất quen mà rất lạ.
Quen vì tôi đã biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát luôn trẻ trung hơn tuổi, xinh tươi, năng động, bộc trực, yêu ghét phân minh, yêu động vật, yêu cây cỏ. Ở tuổi thất thập, chị vẫn lái xe đường trường, thành công với nhiều tác phẩm điện ảnh... Đó là những điều mà ta dễ dàng nhìn thấy chị ở lát cắt của hiện tại.
Lạ ư? Lạ rất nhiều. Đó là sự cảm nhận sâu sắc về tình yêu quê hương, yêu con người trong vai người kể chuyện vốn nặng lòng tri ân, giàu hoài niệm. Mái nhà xưa, nỗi niềm riêng của cha, sự dịu dàng của mẹ, lòng tốt của họ hàng, anh chị em, bè bạn, đặc biệt là gương mặt các thầy cô giáo nhân hậu qua những nấc thang trưởng thành đến những năm tháng thành đạt được giãi bày giản dị, nhẹ nhàng mà thật nhiều cảm xúc.
Lạ vì ý chí, nghị lực vượt khó của cô gái mới 15 tuổi từ làng quê cùng gia cảnh nghèo khổ đã mạnh mẽ vươn lên để thực hiện ước mơ “Đi theo một quầng sáng”. Cô học sinh lớp 8 hệ 10 năm thuở ấy trong túi chẳng có một đồng xu mà dám trốn nhà đi tuyển văn công ở Thủ đô. Trúng tuyển, cô được các thầy cô giảng dạy khóa diễn viên chèo ân cần hướng nghiệp; 18 tuổi được đi biểu diễn trong rừng Trường Sơn cho các chiến sĩ đang chiến đấu. Khi được trở về học tập, cô có những tiểu phẩm, kịch bản đầu tiên và cứ thế, cứ thế bước theo những nấc thang học hành đầy gian khổ, đòi hỏi sự cố gắng không ngừng.
Từ một cô gái con nhà nông dân nghèo xứ Nhãn, ước ao được sống trong quầng sáng xa xôi, bỡ ngỡ với những vai diễn, với bản thảo kịch bản sân khấu chèo đầu tiên, rồi khúc ngoặt bất ngờ đưa chị đặt chân đến nước Nga xa xôi để trở thành sinh viên Trường Đại học Điện ảnh quốc gia Liên Xô (VGIK) nổi tiếng ở Matxcơva với những thầy cô danh giá hàng đầu ngành điện ảnh Xô Viết. Được nhận bằng tốt nghiệp loại xuất sắc… và rồi sau đó, trong nhiều năm tháng cuộc đời, chị đã đặt chân đến nhiều quốc gia, nhiều vùng đất với niềm đam mê, khát khao làm tốt công việc mà mình đã lựa chọn.
Phải là những người phụ nữ đã có nhiều năm tháng xa nhà, xa con mới thấu hiểu sâu sắc nỗi niềm người mẹ trẻ khi gửi 3 con nhỏ ở quê nhà để thân gái dặm trường, ở xứ tuyết xa xôi đằng đẵng 6 năm trời, vừa học tập vừa kiếm tiền trong nỗi nhớ thương và khát vọng.
Lạ vì sự nghiêm túc, lòng tự trọng của người phụ nữ khi họ đã tự mình vượt qua những khó khăn, những ganh ghét đời thường để hoàn thành bộn bề công việc. Nào dự án phim, nào những trang biên kịch nhọc nhằn, nào việc lo xin kinh phí, đi tiền trạm, khảo sát hiện trường với không ít thuận lợi và thật nhiều khó khăn, trở ngại… Những công việc tưởng như rất khô khan như thế mà vào những trang viết vẫn có sức cuốn hút khiến người đọc không thể bỏ qua.
Tình yêu, hôn nhân là những điểm tạo lực hút trong bất cứ tự truyện nào, cũng được giãi bày chân thực và cảm động. Những khát vọng về tình yêu mộng mơ, cuộc hôn nhân đầu tiên giữa cô diễn viên chèo ở rừng Trường Sơn với chàng trai Hà thành đẹp trai, tình nồng nhưng nhanh vỡ; lời cầu hôn trong hoàn cảnh thật đặc biệt; tính cách ngang tàng, phóng khoáng của một nhà thơ nổi danh xứ Quảng thuở ấy; và bến đỗ êm đềm, duyên lành tốt đẹp suốt 30 năm của cuộc hôn nhân lần thứ ba với dịch giả, TSKH điềm đạm được tác giả kể lại bằng giọng kể chân thành, đầy nữ tính, chẳng một chút làm duyên. Phải chăng vì thế mà những nỗi thất vọng, đớn đau hay cả những hân hoan, hạnh phúc đều được người đọc đón nhận với sự cộng cảm chân thành.
Tôi không cãi, cũng không thanh minh. Tôi đã mong ngóng, đã đau khổ, đã thất vọng suốt hơn hai năm trời nay rồi. Tôi nghĩ cái cây nó cũng cần có nước để tưới tắm mỗi ngày - còn tôi là con người - tôi không bằng cái cây. Tôi khô cạn, tôi khổ sở, tôi cô đơn xiết bao khi một mình vật lộn với hoàn cảnh sống ở bên này hơn hai năm nay. … Tôi không che giấu sự nguội lạnh ở trong lòng và tim tôi đã nhiều đêm tan nát. Tôi không thể gắng gượng hay giả vờ được nữa. (tr. 222).
Khi được người đàn ông trân trọng, thấu hiểu, yêu thương, người phụ nữ làm thơ, nhà biên kịch, nữ Giám đốc Hãng phim Truyện, Cục phó Cục Điện ảnh... đã tận tụy, tận hiến hết lòng. Điều trăng trối cuối cùng của người đàn ông điềm đạm, kiệm lời cũng là niềm hạnh phúc, niềm an ủi thật ấm lòng của người phụ nữ luôn khát, nhớ và yêu.
Trong tình yêu cũng như trong công việc, người đọc thấy một người phụ nữ hết lòng với những đứa con tinh thần của mình, của người và cả vì quyền lợi cơm áo gạo tiền của anh em đồng nghiệp. Điều gì đã khiến cho người đọc là tôi tin vào những câu chuyện kể? Tự truyện mà, nếu không là sự thật thì vẫn còn đấy bao anh em, bè bạn, thủ trưởng đang là người đương thời chứng kiến và điều quan trọng nhất là, nếu chỉ để “làm đỏm, làm đẹp” thì người trong cuộc không thể tự tin kể chuyện với những chi tiết tưởng như khô khan mà vẫn cuốn hút người đọc đi cùng tác giả đến những trang cuối cùng như thế.
Lại nữa, những tác phẩm, những giải thưởng nếu không hệ thống lại thì tôi cũng không biết bà chị mình đã gặt hái được nhiều thành tựu đến thế: 8 tập thơ, 4 tác phẩm văn xuôi, 9 tác phẩm kịch bản sân khấu, 10 kịch bản phim; ngoài Giải thưởng Nhà nước năm 2012, chị còn được Huân chương Lao động hạng Nhất… Người phụ nữ mảnh mai từng đảm nhận cương vị Giám đốc Hãng phim Truyện, Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh. Nể thật mà!
Thú thật, những bộ phim chị đã đoạt giải trước đây tôi không xem nhiều và cũng chưa xem trọn vẹn. Chỉ đến khi xem “Hồng Hà nữ sĩ” - bộ phim chị là giám đốc và tác giả biên kịch, tôi mới thực sự cảm nhận được tài năng của chị. Bộ phim gây ấn tượng bởi cách chuyển tải ngôn ngữ và không khí văn hóa của một thời kỳ lịch sử bằng ngôn ngữ điện ảnh truyền cảm, tự nhiên, đưa những danh nhân, nữ sĩ từ trang sách bước lên màn ảnh một cách sống động. Qua đó, người xem cũng hiểu hơn sự lao tâm khổ tứ của người viết kịch bản: không ngừng học hỏi, kiên trì tìm tư liệu, tích lũy vốn sống để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật có giá trị và ý nghĩa với cộng đồng.
Trong sự tự tin biết mình, biết người, tác giả thường nhận mình may mắn, luôn có quý nhân phù trợ vào phút 89. Quả là chị cũng hay gặp quý nhân, nhưng nếu mỗi người trong cuộc không cố gắng viết đến con số 89 thì chẳng ai phù trợ thêm 1 con số cho thành số 90 để sút bóng vào được khung thành.
Đọc cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng”, tôi thêm hiểu và yêu quý, ngưỡng mộ những người phụ nữ sống quanh ta - những người luôn cố gắng vươn lên trong cuộc đời, làm việc nghiêm túc, yêu thương con người, giàu nghị lực, tự tin, thầm lặng lan tỏa năng lượng tích cực dù họ ở bất cứ lứa tuổi nào...