Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
Tôi là phóng viên thuộc Ban Thính giả (VOV), chưa có nhà ở, nằm bàn cơ quan, kề bên dưới căn biệt thự kiến trúc Pháp, nơi làm việc của Ban Văn học nghệ thuật, nên hằng ngày nhìn mãi cũng quen mặt các văn nghệ sĩ là cộng tác viên đến nhà đài. Lúc ấy, Cao Ngọc Thắng còn trẻ, đã có một số bút ký, bài bình thơ được đăng phát, nên thi thoảng đến đài gửi bài cộng tác. Tôi làm báo chuyên đề nhưng cũng ti toe thơ văn và đã có một số truyện ngắn, thơ đăng đều. Cùng hoàn cảnh nên khi gặp Cao Ngọc Thắng là hợp chuyện, cùng trò chuyện sôi nổi. Tôi nhớ, ngay buổi đầu gặp gỡ ấy, Cao Ngọc Thắng đã lôi từ túi xách ra nào là báo có bài đăng, nào bản thảo này nọ ra khoe, khiến tôi ngợp mà sinh nể.

Ấy vậy, tôi và Cao Ngọc Thắng vẫn chưa thân nhau. Việc ai nấy làm, tôi chuyển loanh quanh mấy đơn vị trong đài, còn Cao Ngọc Thắng cũng trôi dạt đâu đó trong làng báo ở Thủ đô rồi đứng chân lâu dài tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội cho đến lúc nghỉ hưu. Tuy không thân nhưng thi thoảng gặp nhau ở các cuộc họp báo hoặc các sự kiện văn học nghệ thuật tại Hà Nội. Hỏi thăm nhanh đủ biết sơ về cuộc sống gia đình, công việc làm báo và việc viết lách. Khi nhìn thấy bài của nhau trên báo này, tạp chí nọ thì gắng đọc, đặng biết người quen của mình sáng tác ra sao.
Theo ngày tháng, làm báo song hành văn chương, Cao Ngọc Thắng đã có ngót nghét hai mươi đầu sách xuất bản, từ bút ký chính luận, ký sự, truyện ký đến truyện ngắn, thơ ca, kịch bản phim, tiểu luận và chân dung văn học. Tiêu biểu có: “Tháng ngày cách biệt” (truyện ký, 1996); “Đường tới mùa xuân” (truyện ký, 2004); “Ngược Lô Giang” (bút ký, 2010); “Một ngày bên Bác Văn” (ký sự, 2014); “Đò quen” (truyện ngắn, 2014); “Lý lẽ của trái tim” (tiểu luận và chân dung văn học, 2020); “Khoảnh khắc của cái đẹp” (tiểu luận và chân dung văn học, 2022); “Miền ký ức” (tiểu luận và chân dung văn học, 2023); “Bẻ gió” (thơ, 2009); “Giao mùa” (thơ, 2010); “Thức hạ” (thơ, 2011); “Trở nồm” (thơ, 2012); “Mùa không nhà” (thơ, 2013); “Bên sông mẹ” (thơ, 2015); “Khúc chuyển mùa” (thơ, 2025); “Nhịp mùa” (thơ chọn, 2025).
Có thể thấy, trong mười mấy năm trở lại đây, kể từ khi xuất bản tập thơ đầu tiên, cảm hứng thi ca của Cao Ngọc Thắng tuôn chảy nên ông cho xuất bản thơ liên tục, chiếm non nửa số đầu sách của mình. Ấy vậy, hầu như Cao Ngọc Thắng chưa để lại dấu ấn đáng kể về thơ. Thế nên, thơ với ông chỉ là sự thỏa mãn nỗi niềm riêng, nữa là để chứng tỏ sự hiện diện hay giao lưu với bạn thơ. Cảm giác, ở ông có sự ngập ngừng trong việc lựa chọn hình thức và cách biểu đạt ngôn ngữ thơ. Trước trào lưu ào ạt của thứ thơ được mệnh danh là “hậu hiện đại”, không vần điệu, thiên về ẩn dụ và nhiều thử nghiệm khác, Cao Ngọc Thắng đừng chẳng đặng, cũng dao động, có ý tìm tòi, nhưng rồi lại “nhát” nên cứ “nước chảy đôi dòng”, chẳng cũ cũng không mới. Thực ra, thơ không màng cũ mới, chỉ có hay hay không thôi.
Thơ Cao Ngọc Thắng không có bài hay để mỗi khi nhắc tên ông là người ta nhớ đến thơ (kiểu như Nguyễn Duy với “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa”, Phạm Công Trứ với “Lời thề cỏ may”, Đồng Đức Bốn với “Chăn trâu đốt lửa”...), song điểm thơ ông cũng nhặt ra một số câu thơ đầy ẩn ý và rất gợi. Ví như:
Vằng vặc trăng một mình
Đêm thu vắng người tình
Ngắm trăng tẻ buồn quá
Bẻ gió tự quất mình
(Giận)
Thời gian đếm kẽ tay
Ngẩng trông ngàn tinh tú
Bóng thời gian sõng soài
(Thời gian)
Trăng thu sao nỡ ngủ yên
Đầy vườn lá rụng lật nghiêng trăng vàng
(Không đề)
Trời tạnh gió lau quang đôi bờ đầm đìa nước
Tóc rối tung nhuộm ánh trời huyền
(Bên sông)
Hồn rừng bật khóc
Xối xả mưa ngàn
Mắt rừng mờ đục
Sương trắng lòng thung
(Hồn rừng)
Sẩm chiều mưa tạnh cánh chuồn
Mênh mang nước
Mênh mang hồn
Đồng chiêm
(Mưa đồng chiêm)
Cầu vồng em khoe sắc
Tít tắp chân trời xa
Phía ấy mưa vừa tạnh
Nơi anh mây vỡ òa
(Vô đề)
Bát cháo hành Thị Nở
Chuối hạ sốt bờ ao
Chai xó lều bật đứng
Lò gạch bỗng nôn nao
(Chuyện xưa)
Kem cốm thuở nào xanh mây
Hoa lộc vừng chăng dây thắp lửa
Rưng rung nỗi nhớ
Tiếng leng keng tàu điện đáy hồ
(Ký ức Hồ Gươm)
Quạnh hiu mây nước sông Hồng
Triền đê hờ hững một dòng tâm tư
Cây cầu phao nổi lừ đừ
Con thuyền say khướt ngất ngư trên dòng
(Trên sông)
Dòng sông xưa lấp lóa
Làng lên phố lên phường
Lở bồi bờ vẫn điệp
Giành giật tình yêu thương
(Dòng sông xưa)
Có nhiều câu thơ gợi mở như vậy và nhờ thế mà thơ Cao Ngọc Thắng không thật ấn tượng, song vẫn có khả năng neo giữ người đọc, chưa đến nỗi trôi dạt giữa biển thơ ca mênh mông của xứ mình.



Ở mảng văn xuôi, Cao Ngọc Thắng không có gì nổi trội. Những tác phẩm bút ký, ký sự, truyện ký chỉ chứng tỏ sức lao động cày ải và sự cần mẫn của ông trên cánh đồng chữ mà thôi. Ở đó là sự kết hợp giữa văn và báo, từ việc tận dụng triệt để vốn sống và nguồn tư liệu phong phú trong công việc làm báo. Là người làm báo chuyên nghiệp, tôi hiểu tính chất công việc và chia sẻ với ông điều này, ấy là sự tận dụng tối đa, quyết không bỏ phí chút tư liệu quý nào mà mình có được. Vậy nên, với Cao Ngọc Thắng, thế cũng là đáng quý.
Công việc làm báo chưa mang lại cho Cao Ngọc Thắng nhiều thành tựu ở mảng văn xuôi lại bù đắp cho ông một mảng khác, ấy là phê bình văn học. Những ngày đầu làm báo, Cao Ngọc Thắng mon men sang lĩnh vực phê bình văn học chỉ bằng những bài điểm sách, bình thơ đơn giản. Lúc chững chạc với nghề báo, nghiệp văn, ông mới trình làng những tiểu luận và chân dung văn học. Thời gian dài làm biên tập ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, ông có điều kiện tiếp xúc nhiều với các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ. Đặc biệt, ông tham gia vào nhóm chuyên làm phim chân dung văn nghệ sĩ do nhà văn Vũ Đình Minh phụ trách (gồm nhà văn Nguyễn Trọng Văn, nhà thơ Cao Ngọc Thắng, biên tập viên Trần Thùy Dương). Chuyên mục này phát sóng hằng tuần, rất hấp dẫn, được khán giả yêu thích và giới văn nghệ đánh giá cao. Đây là nguồn lực, nguồn tư liệu phong phú để Cao Ngọc Thắng thu nạp, chuyển tải sang lĩnh vực phê bình văn học của riêng mình, với loạt tiểu luận và chân dung văn học.
Ở đây, ông đã để lại dấu ấn cá nhân, đó là kiến văn rộng, cảm thụ tinh nhạy, câu chữ chắt lọc, kiến giải cẩn trọng và biết phát hiện ra cái riêng của nhân vật được khắc họa. Với thể loại chân dung, được như vậy không dễ chút nào. Ông có một số bài viết hay về các nhân vật văn hóa, văn nghệ hàng đầu của Việt Nam như Nguyễn Văn Huyên, Phan Ngọc, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh và những cây bút tài hoa lớp sau như Trần Nhuận Minh, Trần Hòa Bình, Trần Quốc Huấn… Sự ghi nhận cho thành quả lao động ở mảng phê bình văn học của Cao Ngọc Thắng là Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô năm 2024 cho tập tiểu luận và chân dung văn học “Miền ký ức”.
Nhà thơ Cao Ngọc Thắng, giờ thì tôi xin gọi ông với danh xưng này mặc dù có rất nhiều “nhà” trong con người ông. Người con quê Hà Nội đa tài này, tuổi Quý Tỵ (sinh năm 1953), là hội viên của 3 hội (Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Điện ảnh Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam). Có một sự thú vị là cái gen văn chương trong ông được truyền cho thế hệ sau. Con trai ông là dịch giả văn chương khá nổi tiếng Cao Việt Dũng và cháu nội ông, cây bút mới triển vọng Cao Việt Quỳnh, người vừa được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2025 dành cho tác giả trẻ.

Từ năm 2020, tôi về làm biên tập cho trang web của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.vn), rồi biên tập ở tạp chí Nhà văn & Cuộc sống, thì Cao Ngọc Thắng hay qua lại, khi gửi bài cộng tác, khi mạn đàm văn chương. Vẫn con người của mấy chục năm trước khi mới gặp nhau, nhưng giờ là chất đằm của những ông lão tuổi trên dưới “thất thập”, và mỗi người đều mang sau lưng gia tài văn chương kha khá. Tiếng là đằm hơn nhưng khi đụng vào một số vấn đề văn chương mà chưa cùng quan điểm thì vẫn tranh luận nảy lửa. Vậy là đáng mừng. Còn thích tranh luận là còn nhiệt huyết. Với người cầm bút, một khi còn nhiệt huyết là còn ham viết!...