Cổng làng Đại Từ

Phương Anh (T/h)| 06/12/2022 16:01

Nằm trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội, nhiều khu dân cư vẫn tôn tạo, lưu giữ những chiếc cổng làng truyền thống của nông thôn đồng bằng bắc bộ xưa dù đã là cư dân phố phường từ lâu. Trong đó có cổng làng Đại Từ với nét cổ kính độc đáo.

Mô tả khái quát:

Cổng làng có tên chữ Hán là Đại Từ Nghĩa Dân, dân thường gọi là Cổng Tiền.

Ở cả hai phía đầu làng Đại Từ đều xây 2 cổng làng. Tại đầu làng có kiến trúc thượng gia hạ môn, viết chữ Hán và Việt, 2 công trình này nhằm kỷ niệm 45 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hợp tác xã Đại Từ (12/1/1958 12/1/2003).

Tín ngưỡng - lễ hội hàng năm:

Làng Đại Từ thờ ông Bảo Ninh làm Thành hoàng. Ông Bảo Ninh vốn là học trò thuỷ thần của Chu Văn An đã vâng lời thầy trái lệnh trời làm mưa cứu dân nên bị chém chết, xác nổi trên sông. Cả tổng Hoàng Liệt tôn ông Bảo Ninh làm Thành hoàng.

Làng Đại Từ rất tự hào bởi chữ Đại Từ Nghĩa Dân do triều đình ban tặng bởi công đức chia sẽ khó khăn với xã hội. Năm 2003, khi xây cổng làng, đã viết câu đối:

Chính nghĩa tự ngàn xưa với chữ vua ban càng rực sáng Đại Từ thời đổi mới theo lời Bác dạy mãi vươn cao.

Ý nghĩa của chữ “Đại Từ Nghĩa Dân”

Năm 2003, kỷ niệm 45 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đại Từ, cùng một lúc làng Đại Từ hoàn thành ở hai phía đầu làng (phía ra Quốc lộ 1) và cuối làng (phía ra khu biệt thự Linh Đàm) hai cái cổng làng đồ sộ. Đây là hai cổng có độ cao, độ rộng, phù hợp với nếp sống đô thị hoá hiện hành. Tuy nhiên quan sát kỹ tại mỗi cổng đều có sự khác nhau. Đó là cổng ở phía đầu làng có thiết kế “thượng gia hạ môn” rõ rệt. Phía ngoài mặt cổng có chữ Làng Đại Từ và đôi câu đối đã dịch ra Việt văn:

Chính nghĩa tự ngàn xưa với chữ vua ban càng rực sáng, Đại Từ thời đổi mới theo lời Bác dạy mãi vươn cao.

Phía sau cổng làng là dòng chữ Đại Từ Nghĩa Dân và đôi câu đối chữ Nôm viết theo ý trong chữ Việt.

Còn chiếc cổng ở cuối làng, trên đường thông với khu Linh Đàm cũng có phần mái nhưng là mái giả, không chia thượng gia hạ môn. Cái khó cho người mới đến Đại Từ là tại sao lại có dòng chữ Đại Từ Nghĩa Dân, vua nào đã ban chữ này. Các cụ cao tuổi ở đây nói: chúng tôi cũng chỉ biết ghi lại, chưa biết vua nào đã ban. Sự tích kể rằng xưa ở đầu làng Đại Từ có cầu Tiên, đó là nơi mà các vị tiên thường tụ tập, không hiểu vì lý do gì mà ở đầu làng các cô tiên đã để lại hai bầu vú. Từ đó người dân Đại Từ thường phân sẻ dòng sữa của mình làm đôi, cho con mình và cho con nuôi. Lạ một điều là người ta đối với con nuôi rất tận tình, có thể con mình đói sữa, nhưng đã cho con người bú trực thì phải thật no. Chính cái tình thương ấy đã tạo cho dân Đại Từ có nhiều con nuôi. Trong kinh đô Thăng Long xưa, nhà nào nuôi con vất vả, tìm về Đại Từ để xin bú, xin nuôi hộ là cháu bé khoẻ lên. Đời này qua đời khác, tập tục nuôi con nuôi đã làm cho nhiều người Đại Từ trở thành mẹ nuôi hiền thảo, nổi tiếng, được vua ban khen 4 chữ: “Đại Từ Nghĩa Dân” (dân làng Đại Từ có nghĩa).

Người ta cùng kể một giai thoại: Năm 1958 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, mọi người e sợ tấm biển vua ban là phong kiến nên định bỏ đi, nhưng chính Cụ Hồ đã đề nghị dân phải giữ lại, để tôn trọng cái nghĩa của người Đại Từ. Ngày nay làm lại cổng làng, cụ Vũ Tuấn Sán là người đặt ra câu đối này, và cụ Vũ Khiêu là người thẩm định, thông qua để làng viết lên.

Về tín ngưỡng, cũng như các làng vùng Hoằng Liệt xưa, Đại Từ thờ Bảo Linh Thượng đẳng tôn thần và hàng năm lễ hội theo cùng các thôn xã, trong vùng chịu ơn mưa móc của vị thần xưa.

Tại Nhà văn hoá phường Đại Kim, có bày một bức tượng do nhà điêu khắc Vũ Tiến tạc bằng gỗ quý: tượng cao gần 3m ghi hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Hợp tác xã Đại Từ ngày 12/10/1958, bức tượng này được tạc năm 1983.

Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 01

Bài liên quan
  • Đình Thanh Am
    Đình Thanh Am ở thôn Thanh Am, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội
(0) Bình luận
  • Bảo tàng Mỹ thuật ở giữa làng quê (huyện Ba Vì)
    Xứ Đoài là một vùng đất tối cổ - vùng địa văn hoá, địa thi hoạ - nơi mà con người có thể trải nghiệm đời mình trong hệ sinh thái tự nhiên của vùng đất, đi qua những truyền thuyết, cổ tích, để từ đó tạo nên tâm tính, giọng nói đặc trưng của con người xứ Đoài. Nắng và gió, núi và sông xứ Đoài đã gợi cảm hứng sáng tác cho một Tản Đà, một Quang Dũng và nhiều thi nhân, hoạ sĩ: từ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí đến Sĩ Tốt, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... và những thế hệ văn nghệ sĩ sau này, ở họ đều có những sáng tác xuất sắc về xứ Đoài.
  • Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (huyện Phú Xuyên)
    Đi khắp các vùng miền của Tổ quốc, những cựu tù binh Phú Quốc đã sưu tầm kỷ vật, di vật, tranh ảnh có liên quan đến các nhà tù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà đồng đội và các ông đã trải qua. Hơn 20 năm kiếm tìm và góp nhặt, Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, do chính những người cựu tù năm xưa thành lập là những minh chứng chân thực về một thời oanh liệt và hào hùng của dân tộc.
  • Bảo tàng Quê hương phong trào chiếc gậy Trường Sơn (huyệnỨng Hoà)
    Hoà Xá là một làng quê nằm sát bờ tả sông Đáy, thuộc vùng ven chiêm trũng Khu Cháy. Nơi đây sớm có phong trào cách mạng ngay từ những năm 1930, là hậu phương trung thành của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hòa Xá được xem là quê hương của phong trào động viên thanh niên lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và câu chuyện huyền thoại “chiếc gậy Trường Sơn”.
  • Khu Cháy, Bảo tàng Khu Cháy - một địa chỉ đỏ về truyền thống đấu tranh cách mạng ở Ứng Hoà, Phú Xuyên
    “Khu Cháy” là thuật ngữ để nói về một khu du kích trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 22 xã ở phía nam huyện Ứng Hoà và tây huyện Phú Xuyên, Hà Nội.
  • Bảo tàng Tổng cục II (quận Hoàng Mai)
    Toạ lạc tại số 322 đường Lê Trọng Tấn, quận Hoàng Mai, Hà Nội trên khuôn viên rộng 3.500m2, gồm 2 tầng nhà và phần trưng bày ngoài trời, Bảo tàng Tổng cục II hiện lưu giữ 5.830 hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý hiếm gắn liền với cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với chức năng phục vụ công tác nghiên cứu, tham quan học tập, giáo dục truyền thống, Bảo tàng Tổng cục II chính thức được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận nằm trong hệ thống các bảo tàng cấp 2 toàn quân.
  • Bảo tàng Binh chủng Thông tin (quận Ba Đình)
    Bảo tàng Binh chủng Thông tin thuộc loại hình bảo tàng lịch sử chuyên ngành quân sự, là thể chế văn hoá, có chức năng bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử Binh chủng Thông tin liên lạc nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của cán bộ, chiến sĩ trong Binh chủng và nhân dân, bạn bè quốc tế.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hoa thủy tiên của mẹ (Kỳ 2)
    Đã nhiều năm trôi qua chúng tôi không lên bờ đón Tết. Mẹ nói đời mẹ gửi cả vào sông. Sống ở trên sông. Mai này mẹ nằm lại đáy sông, nhờ sông giữ giùm phần linh hồn người thiên cổ. Mẹ không muốn xa dòng sông nửa bước. Tôi lớn lên trên chiếc ghe chòng chành sóng nước, qua bao mùa gió trăng. Mùa xuân này tôi ra lái thuyền ngồi chải tóc.
  • Hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản lý để phát triển văn hóa Việt Nam
    Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ góc độ này, Thạc sỹ Vũ Minh Đạo, Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Xã hội thuộc Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội, kiến nghị lập pháp để đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng hiện đại, hiệu quả, phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh quan trọng trong phát triển quốc gia.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Các đơn vị "chốt" phương án tổ chức Hội thảo Quốc tế INCOTEH 2026
    Ban Tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về Công nghệ và Sức khỏe số – INCOTEH 2026 đã tổ chức cuộc họp với sự tham gia của các đơn vị đồng tổ chức và doanh nghiệp đồng hành nhằm thống nhất phương án, kế hoạch triển khai hội thảo.
  • Lan tỏa tình hữu nghị Việt Nam – Hàn Quốc qua lễ hội “Chúng ta là một - We Are Together”
    ‏Nhằm hướng tới kỷ niệm 34 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc, chiều 17/4, tại Hà Nội đã diễn ra buổi họp báo về Lễ hội “Chúng ta là một - We Are Together” lần thứ 8.
Đừng bỏ lỡ
Cổng làng Đại Từ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO