Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sông Tô và những câu chuyện nơi cuối dòng

Trần Thị Thúy Vân 15:05 28/08/2026

Trải qua hơn hai nghìn năm tồn tại, dòng Tô Lịch từng là mạch nước của những làng quê, là hào nước tự nhiên bảo vệ kinh thành Thăng Long và là nơi lưu dấu biết bao lớp trầm tích văn hóa.

anh-1.jpg
Tranh vẽ minh họa vẽ vua thời xưa dong thuyền du ngoạn sông Tô Lịch (ảnh sưu tầm internet)

Tuy nhiên, hiện nay, khi nhắc đến sông Tô, người ta thường nghĩ đến một dòng nước đen, đặc quánh giữa phố phường. Nhưng ở phía Nam Hà Nội, có một đoạn cuối của dòng sông ấy vẫn còn giữ được những khoảng lặng hiếm hoi – nơi mặt nước đôi khi vẫn ánh lên màu trời, nơi những bụi tre còn soi bóng, và nơi ký ức về một dòng sông xưa dường như chưa chịu mất đi.

“Sông Tô, đống Bảng còn đây

Nhuỵ Khê hai tiếng tràn đầy Suối Hoa...”

1. Hai câu thơ cổ ấy vẫn được người dân làng Nhị Khê, vùng đất nay thuộc xã Thường Tín, truyền lại qua nhiều thế hệ. Trong câu chuyện của họ, sông Tô không chỉ là một dòng nước đi qua làng. Nó từng là một phần của đời sống, của ký ức và niềm tự hào về một vùng đất đã sản sinh ra nhiều danh nhân cho đất nước.

Ông Nguyễn Thông, hậu duệ đời thứ 18 của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, kể rằng theo truyền tụng của người làng, từ thời Lý, các vua từng ngự thuyền xuôi theo dòng Tô để thưởng ngoạn cảnh sắc. Khi về đến khu vực ao Huệ, trại Ổi, gặp cảnh sắc hữu tình, nhà vua đã ban cho vùng đất này tên gọi Nhuỵ Khê – Suối Hoa. Vào thế kỷ XIV, danh nho Nguyễn Phi Khanh về Nhị Khê sinh sống, dạy học và sau này sinh ra Nguyễn Trãi.

anh-5.jpg
Ông Thông bên ngôi mộ tóc, móng chân, tay của cụ Nguyễn Trãi

Suốt nhiều thế kỷ, dòng sông Tô đã hiện diện trong đời sống của vùng đất Nhị Khê như một chứng nhân lịch sử. Nếu với kinh thành Thăng Long, sông Tô từng mang chức năng phòng thủ và giao thương, thì với Nhị Khê, dòng sông còn là nguồn nước tưới tiêu, nuôi dưỡng những vườn cây, những xóm làng và cả một không gian văn hóa của cư dân nông nghiệp.

Từ phía nội thành xuôi xuống cầu Quán Gánh, dòng Tô bất ngờ uốn mình thành một vòng cung lớn, ôm lấy làng Nhị Khê rồi tiếp tục chảy về phía sông Nhuệ. Người dân địa phương vẫn gọi đó là “cánh tay của tạo hóa” – một cánh tay khổng lồ bao bọc lấy ngôi làng trù phú. Trong vòng tay ấy, qua nhiều thế hệ, Nhị Khê đã sinh ra những danh nhân, nhà cách mang như Nguyễn Trãi, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lều Thọ Nam... Nhưng rồi dòng sông cũng không thoát khỏi những biến động của lịch sử.

Cuối thế kỷ XIX, khi quá trình quy hoạch và mở rộng đô thị diễn ra, một phần dòng chảy của sông Tô bị lấp. Dòng sông dần mất đi sự kết nối tự nhiên với những nguồn nước từng nuôi dưỡng nó. Một dòng sông không còn được tiếp thêm dòng chảy thì cũng dần mất đi khả năng tự làm sạch. Đô thị phát triển, dân cư đông đúc kéo theo lượng rác thải sinh hoạt bị đổ ra sông quá nhiều. Sông không chảy, nhưng đời sống trên hai bờ vẫn cuồn cuộn trôi. Và rồi, trong nhiều năm, cái tên Tô Lịch dần gắn với một hình ảnh buồn: dòng nước đen, mùi hôi, những bờ kè bê tông và những câu chuyện không dứt về ô nhiễm mà người ta hay gọi đó là dòng sông chết.

Nhưng có lẽ, ít ai biết rằng, ở đoạn cuối xuôi về phía Nam Thủ đô, sông Tô vẫn còn một phần khác của chính mình. Sông Tô đi qua địa phận làng Nhị Khê khoảng ba cây số, được đánh dấu bởi cầu Quán Gánh và cầu Vân. Đó là đoạn sông không quá rộng lớn, không ồn ào, cũng không có những lớp bê tông, nhà cao tầng ken đặc như ở nội đô. Ở đây, dòng sông dường như chậm lại, mang một màu sắc mới.

Hai bên bờ vẫn còn những khoảng xanh của cây cối. Những bụi tre soi bóng xuống mặt nước. Cá, tôm vẫn hiện diện trong dòng sông đã trải qua biết bao biến thiên. Có những buổi nắng chiều, mặt nước ánh lên một màu vàng nhạt. Và trong khoảnh khắc ấy, thật khó tin đây vẫn là dòng Tô Lịch mà người Hà Nội thường nhắc đến với sự ngán ngẩm ô nhiễm. Có lẽ, chính ở đoạn cuối này, người ta mới cảm nhận được rõ hơn sự đối lập đầy trớ trêu trong số phận của một dòng sông.

anh-2.jpg
Đoạn sông Tô Lịch chảy qua làng Nhị Khê còn trong xanh, ít ô nhiễm

Một bên là hình ảnh con sông ô nhiễm đã trở thành nỗi ám ảnh của đô thị ở trong nội thành. Một bên là những khoảng nước còn lặng, còn xanh, còn giữ lại được ít nhiều dáng vẻ của một dòng sông từng đi qua lịch sử. Nhưng sông Tô ở Nhị Khê không chỉ có cảnh sắc. Dòng sông ấy còn chảy qua những câu chuyện mà người dân vẫn kể cho nhau nghe. Một trong số đó là câu chuyện về cụ Đoàn Tài – người được tôn là tổ nghề tiện của làng Nhị Khê.

Theo truyền tụng, cụ là một ông già đẹp lão, xuất hiện ở vùng ven sông khi tuổi đã xế chiều. Không ai biết rõ cụ từ đâu đến. Ban đầu, cụ muốn truyền nghề cho người dân làng Vân, nhưng không thành. Một ngày, trong lúc câu cá bên sông Tô, cụ nhìn thấy một người dân Nhị Khê ở phía bên kia.

Cụ gọi:

– Muốn học nghề tiện thì bơi sang đây, ta dạy cho!

Câu chuyện giản dị ấy được người làng kể lại bằng một giọng vừa thành kính, vừa tự hào. Người Nhị Khê đã bơi qua song và nghề tiện, theo cách kể của người làng, từ đó bén rễ ở vùng đất này. Qua nhiều thế hệ, với đôi bàn tay khéo léo và sự cần cù, người dân Nhị Khê giữ nghề, sống bằng nghề và mang sản phẩm làng nghề đi khắp nơi.

Đến ngày 25 tháng 10 âm lịch, khi cụ Đoàn Tài rời khỏi làng không một lời từ biệt, người dân tôn cụ là “Tiên Thánh Sư”, lấy ngày ấy làm ngày giỗ tổ nghề tiện. Không biết có bao nhiêu thế hệ người Nhị Khê đã lớn lên cùng những câu chuyện ấy. Nhưng điều chắc chắn là sông Tô vẫn ở đó – lặng lẽ chứng kiến. Ông Nguyễn Thông bảo rằng tuổi thơ của những đứa trẻ Nhị Khê, ít nhiều đều gắn với dòng sông. Đứa chăn trâu, cắt cỏ, đứa câu cá, úp tôm, đứa tập bơi, tắm mát. Một tuổi thơ mà với nhiều người Hà Nội hôm nay, có lẽ đã trở thành điều gì đó rất xa xôi. “May là sự ô nhiễm từ phía trong thành phố chưa tràn về quá nhiều ở đoạn này”, ông Thông nói.

Người dân Nhị Khê có cách lý giải của riêng mình về sự bình yên tương đối của đoạn cuối sông Tô. Họ tin rằng, vùng đất này có linh khí và rằng, hồn thiêng của cụ Nguyễn Trãi vẫn đâu đó chở che, phù hộ cho quê hương, con cháu. Đó là niềm tin của những người con sinh ra trên một vùng đất khoa bảng, địa linh. Một niềm tin có thể không đo đếm được bằng những chỉ số khoa học, nhưng đủ mạnh để trở thành sợi dây gắn kết con người với nơi họ sinh ra.

Ông Thông kể, người Nhị Khê đi khắp nơi làm ăn bằng nghề tiện, nhưng nhiều người vẫn giữ lại mảnh đất của tổ tiên, vẫn dành cho mình một chỗ để trở về. Có lẽ bởi quê hương, suy cho cùng, không chỉ là một địa danh trên giấy tờ. Quê hương còn là một dòng song là một nhịp cầu, là một bụi tre, là câu chuyện về một người thợ đã bơi qua sông để học nghề từ một “lão thần tiên”, là những buổi chiều của tuổi thơ, khi lũ trẻ ùa xuống nước mà chưa từng nghĩ rằng một ngày nào đó, dòng sông mình tắm có thể bị gọi là một “dòng sông chết”.

2. Trong hơn hai mươi năm qua, Hà Nội đã nhiều lần tìm cách cải thiện chất lượng nước sông Tô Lịch. Những dự án, những giải pháp, những cuộc thử nghiệm nối tiếp nhau. Nhưng để hồi sinh một dòng sông đã mất đi dòng chảy tự nhiên, đã phải gánh quá nhiều nước thải và sức ép của quá trình đô thị hóa, rõ ràng không thể là câu chuyện của một vài dự án đơn lẻ.

Sông Tô đã từng là một phần quan trọng trong không gian của kinh thành Thăng Long. Ngày nay, dù không còn giữ nguyên hình hài xưa, dòng sông ấy vẫn là một thực thể của Hà Nội. Nó vẫn góp phần vào bài toán tiêu thoát nước, điều hòa môi trường và quan trọng hơn, vẫn mang trong mình một lớp ký ức văn hóa không thể thay thế.

Có thể, ước mơ về một ngày nào đó người Hà Nội lại thong thả ngồi trên thuyền, xuôi theo dòng Tô như những câu chuyện xa xưa, vẫn còn là điều rất xa. Nhưng xa không có nghĩa là không thể bắt đầu. Một dòng sông không thể sống lại chỉ bằng những lời tiếc nuối. Cũng không thể hồi sinh nếu người ta đã quen với việc coi sự ô nhiễm của nó như một điều bình thường.

Tôi may mắn được biết đến sông Tô và những câu chuyện của Nhị Khê, dù không sinh ra ở vùng đất này. Đứng bên đoạn cuối dòng sông, tôi chợt nhận ra một điều: có những dòng sông, ngay cả khi đã bị thời gian và con người làm tổn thương, vẫn cố giữ lại cho mình một khoảng trong trẻo.

anh-3.jpg
Đền thờ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê

Như đoạn sông ở Nhị Khê mặt nước vẫn lấp lánh dưới nắng và những câu chuyện về Suối Hoa, về cụ Nguyễn Trãi, về tổ nghề Đoàn Tài vẫn được người làng kể lại. Ao Huệ, trại Ổi hôm nay đã trở thành một phần của Khu lưu niệm Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Những lớp ký ức của vùng đất vẫn đang được gìn giữ và đánh thức.

anh-4.jpg
Tượng Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê

Và tôi chợt nghĩ, nếu một ngày nào đó sông Tô thực sự được hồi sinh, có lẽ điều quý giá nhất không chỉ là người Hà Nội có thêm một dòng sông sạch đẹp mà là chúng ta sẽ trả lại cho Thủ đô một phần ký ức đã từng bị đánh mất. Để rồi, ở một ngày nào đó, những hậu duệ của cụ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê vẫn có thể đứng bên dòng sông, kể cho con cháu nghe về một thuở cảnh đẹp Nhuỵ Khê – Suối Hoa, về những chuyến thuyền của quá khứ đầy màu sắc lễ nghi.

Tự hào lắm miền quê Thường Tín có một dòng sông từng đi qua kinh thành rồi lại đi qua làng quê khoa bảng, đi qua bao nhiêu phận người. Và tự hào về một đoạn cuối của sông Tô chưa từng bị ô nhiễm môi trường trong một buổi chiều đầy nắng, mặt nước vẫn còn long lanh. Hy vọng một ngày nào đó, cả con sông Tô Lịch sẽ được hồi sinh, trở lại là một dòng song sạch đẹp và kể lại những câu chuyện huyền sử trong dòng chảy lịch sử nước ta./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Trần Thị Thúy Vân. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Có một ngôi làng như thế
    Cách đây chừng 700 năm vùng đất có 72 gò đất sét trắng ở ngoài đê bãi sông Hồng sinh ra một ngôi làng mà chẳng giống làng. Bởi đã không có lũy tre ấm cúng bao quanh như các làng Việt khác, lại không có rặng trúc, ô rô, duối hoặc mồng tơi làm rào, giậu ngăn các nhà, các ngõ như trong thơ Nguyễn Bính:
(0) Bình luận
  • Một lần gặp nhạc sĩ trọn đời tâm huyết yêu Hà Nội
    Tôi sinh ra tại một vùng quê ven thành phố Hà Nội. Ngay từ nhỏ, qua những câu chuyện của người lớn, qua những lần nghe đài phát thanh, hình ảnh Thủ đô nghìn năm văn hiến đã in sâu trong tâm trí tôi. Tôi yêu những con phố cổ hai bên hàng cây rợp bóng, yêu vẻ yên bình của Hồ Gươm, Hồ Tây trong sương sớm, yêu nét thanh lịch, dịu dàng mà kiên cường của người dân nơi đây. Có lẽ chính vì tình cảm ấy, khi trưởng thành, tôi đã chọn nghề báo - mong được viết, được ghi chép, được lưu giữ những câu chuyện, những ký ứ
  • Lan man Viện Văn học – Ưu tư một chút văn chương Hà thành…
    Sau lần đi thăm viện Văn, tôi đến tòa nhà Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ở đây có một đặc khu nhỏ dành cho Văn học, có thể xem như một triển lãm của viện Văn. Tòa Viện mới, khang trang và nhiều phần hiện đại. Tức là sẽ không có lý gì để chê bai về sự cũ kỹ như trước nữa.
  • Có một ngôi làng như thế
    Cách đây chừng 700 năm vùng đất có 72 gò đất sét trắng ở ngoài đê bãi sông Hồng sinh ra một ngôi làng mà chẳng giống làng. Bởi đã không có lũy tre ấm cúng bao quanh như các làng Việt khác, lại không có rặng trúc, ô rô, duối hoặc mồng tơi làm rào, giậu ngăn các nhà, các ngõ như trong thơ Nguyễn Bính:
  • Quy hoạch Hà Nội và khát vọng 100 năm
    Ngày 29/6/2026, UBND thành phố Hà Nội đã tổ chức sự kiện Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể thủ đô và khai mạc triển lãm quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là sự kiện được quan tâm không chỉ trong giới nghề mà còn là của những người Hà Nội và cả xã hội. Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm không chỉ là câu chuyện mở rộng không gian hay xây dựng những công trình hiện đại. Với Hà Nội – đô thị duy nhất của Việt Nam mang chiều sâu hơn một nghìn năm lịch sử – mỗi quyết sách hôm nay còn là lời cam kết với các thế hệ mai sau.
  • Hà Nội bước ra từ trang sách
    Mừng sinh nhật 11 tuổi của Minh Nhật - con trai tôi, hai mẹ con hẹn nhau một chuyến chinh phục đỉnh Fansipan, ngọn núi cao nhất Việt Nam. Trên hành trình ấy, chúng tôi dừng lại 3 ngày ở Hà Nội để chàng trai miền Nam có dịp tận mắt nhìn thấy những ngôi nhà cổ, những công trình lịch sử mà trước đó con chỉ biết qua sách vở và hình ảnh.
  • Bà kể chuyện Hà Nội
    Có những đêm mất điện của tuổi thơ mà nhiều năm sau, khi đã lớn lên, người ta vẫn nhớ. Và tôi nhớ những đêm như thế ở quê mình. Hai bà cháu nằm ngoài sân. Trời đêm yên tĩnh, gió từ cánh đồng thổi vào mát rượi. Không có tiếng quạt điện, cũng chẳng có ánh sáng của những thiết bị hiện đại. Bà cầm chiếc quạt nan, vừa quạt cho tôi vừa kể chuyện.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Từ không gian tín ngưỡng ở núi Ngọc Trản đến Di sản văn hóa Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”
    Từ một lễ hội tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi điện Hòn Chén, sau đó phổ biến dần ra cộng đồng và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”.
  • [Podcast] Tản văn: Dịu dàng Hà Nội vào thu
    Phố trở mình giã từ mùa hạ. Tháng nghiêng mình nhẹ bước vào thu. Bàn chân muốn chùng chình nhịp bước. Gió se se chút lạnh giao mùa.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • "Ký ức những năm tháng không quên" được tái hiện qua các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
    Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã chính thức khai mạc triển lãm chuyên đề "Ký ức những năm tháng không quên". Triển lãm kéo dài từ nay đến ngày 08/9/2026, mở ra một hành trình trở về quá khứ qua góc nhìn mỹ thuật hiện đại.
  • Nhiều hoạt động “Vui Tết Độc lập” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 29/8 đến 30/9/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề “Vui Tết Độc lập”, chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).
  • Để những giá trị di tích được gìn giữ và lan tỏa
    Di tích là những dấu tích vật chất và tinh thần gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, Hà Nội vừa ban hành quy định mới về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản lý thống nhất, phân cấp rõ trách nhiệm, phát huy vai trò của cộng đồng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý di tích.
  • Nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Ngày 24/8, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị triển khai về ứng xử văn minh du lịch và du lịch cộng đồng năm 2026.
  • Ra mắt phim điện ảnh “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”
    "Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh" lần đầu ra mắt khán giả tại Ninh Bình, vùng đất gắn với câu chuyện và quá trình thực hiện bộ phim.
  • Đưa nghệ thuật cải lương đến gần công chúng Thủ đô
    Tối 23/8, tại sân khấu Nhà Bát Giác, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng” của Nhà hát Cải lương Hà Nội đã mang đến cho người dân và du khách một đêm diễn đậm đà bản sắc văn hóa.
  • Những tác phẩm âm nhạc góp phần lan toả văn hóa Hà Nội
    Từ các ca khúc “Hà Nội mùa thu”, “Hoa sữa” đến những giai điệu của Charlie Parker, Miles Davis, Duke Ellington, Antonio Carlos Jobim... chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 23/8 tại Nhà Bát Giác đã đưa những thanh âm quen thuộc của Hà Nội bước vào không gian âm nhạc cộng đồng đầy tinh thần phóng khoáng và ngẫu hứng của jazz. Qua tiếng kèn của các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club và giọng hát của hai ca sĩ Thuỷ Bùi, Minh Thu, hình ảnh Thủ đô hiện lên vừa lãng mạn, vừa trẻ trung, cởi mở trong nhịp sống văn hóa đương đại.
Sông Tô và những câu chuyện nơi cuối dòng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO