Vạn Phúc, tiếng thoi dệt bóng thời gian
Có những vùng đất vô cùng bình dị nhưng nhờ sự tài hoa của con người nên đã tạo ra được không ít danh thơm. “Tiếng lành đồn xa”, những danh thơm ấy đã vượt ra khỏi mọi giới hạn của không gian, song hành cùng thời gian để hóa thành một biểu tượng đẹp đẽ của dân tộc. Làng lụa Vạn Phúc trên đất Hà Đông, trang Vạn Bảo ngày xưa, nằm nép mình bên bờ sông Nhuệ, liền kề kinh thành Thăng Long là một miền cổ tích như thế. Ngược dòng lịch sử, trở về cái thuở thiên hạ thi nhau tìm kiếm của ngon vật lạ quý hiếm để cung tiến lên đấng Thiên tử, trong dân gian, người ta đã thấy ngân nga câu ca với niềm tự hào khôn tả: “The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng/ Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên”.
Men theo câu hát ấy, tôi tìm về Vạn Phúc vào một ngày đầu Thu mong tìm được một sắc lụa xưa cho thoả lòng mong ước - thứ lụa nổi tiếng biết chiều người mà tôi được nghe truyền kể lại rằng: ai khoác lên mình thước vân, thước gấm…, đặc biệt là con gái, thì vóc dáng liền trở nên mềm mại, sang trọng, kiêu sa đến lạ kỳ. Nhớ lại, có lẽ cũng bởi vẻ đẹp của sắc lụa ấy mà thi sĩ Nguyên Sa phải mê mẩn giữa Sài thành hoa lệ: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”.

Ngược dòng lịch sử, tôi được biết Vạn Phúc xưa có tên là trang Vạn Bảo. Đến triều Nguyễn, để kiêng húy hoàng tộc, làng mới đổi tên thành Vạn Phúc. Tên ấy được dùng đến hôm nay. Lật giở những trang thần phả còn lưu giữ, tôi được biết thêm, bà Ả Lã hiệu Đê Nương, vợ thứ của Cao Biền là người thuộc dòng dõi nhà Hùng Vương, một lần ngang qua vùng sông Nhuệ, ở phía Tây kinh thành Đại La, thấy phong cảnh nơi đây rất đẹp, “tiền sơn hậu thuỷ”, nên đã dừng chân ở lại và dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Bắt đầu từ những sợi tơ khởi nguồn ấy cho đến tận bây giờ, làng nghề dệt lụa ở Vạn Phúc đã đi qua một hành trình lịch sử với hơn một ngàn năm và trở thành một thương hiệu nổi tiếng. Và, điều đáng chú ý nhất, danh thơm lụa ấy cũng đã được sử thần Ngô Sĩ Liên ghi lại trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, qua câu chuyện giống như giai thoại, chuyện rằng, vua Lý Thái Tông vì quá yêu sắc lụa của trang Vạn Bảo mà phát hết gấm vóc của nhà Tống đang được cất giữ ở trong kho cho các quần thần, rồi lệnh không cho nhập lụa của nước ngoài, để chuyên dùng gấm lụa của người Việt, trong đó chủ yếu là lụa tơ tằm của Vạn Bảo.
Thế rồi, từ dấu mốc năm 1040 ấy, sắc lụa Vạn Phúc được dùng phổ biến trong hoàng cung nhà Lý. Tiếp đến, các triều đại sau, thứ lụa đó thường xuyên được dùng để cung tiến các vua Trần, vua Lê, vua Nguyễn. Trên hành trình phát triển, khi giao thương được nhà nước mở rộng, lụa Vạn Phúc lại có mặt ở hầu hết các thương cảng nổi tiếng trong nước như Vạn Ninh, Hội An và theo những cánh buồm đi khắp Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và sang cả trời Âu xa xôi. Đặc biệt, một dấu ấn vàng son, cách đây gần một trăm năm, vào năm 1931, tại hội đấu xảo Marseille, lụa Vạn Phúc đã được những người Pháp lịch lãm hết lời ngợi ca và tôn vinh là “Đệ nhất tinh xảo Đông Dương”. Cứ thế, men theo những trang huyền thoại, tôi đã tìm về thăm tiếng thơm của làng nghề Vạn Phúc để được thoả sức chiêm ngưỡng những sắc lụa kiêu sa, mềm mại, mát lịm từ ngàn xưa.

Theo con đường vào làng, trước mắt tôi mở ra một không gian ngập tràn sắc màu bởi hàng trăm gian hàng đang phơi ra muôn vàn sắc lụa lung linh. Hoà theo những bước chân rộn ràng của vạn khách thập phương đang nhộn nhịp vào ra trong các gian hàng để thưởng lãm chất lụa Hà Đông, tôi không khỏi choáng ngợp trước những dải lụa lộng lẫy thướt tha từng làm đắm say biết bao tâm hồn mộ điệu. Khẽ chạm lòng bàn tay lên bề mặt mịn màng của những tấm lụa vân, lụa trơn hay lụa satin, tôi đã nhận ra được sức quyến rũ, hấp dẫn đến lạ lùng của danh tiếng lụa Hà Đông - thứ lụa được kết tinh từ mồ hôi và đôi tay tài hoa của những người thợ dệt từ ngàn xưa ở Vạn Phúc truyền lại. Cái cảm giác mát rượi, êm ái ấy là một trải nghiệm nguyên bản độc nhất của thứ lụa không dính một sợi tơ công nghiệp. Nói thực lòng, có đến Vạn Phúc, được mắt thấy và tay chạm vào, tôi mới phần nào thấu hiểu vì sao thức quà tinh hoa của đất Hà Đông này lại có sức mê hoặc lòng người kỳ diệu đến thế!
Vạn Phúc hôm nay không còn nguyên vẹn hình hài như lời truyền kể về một ngôi làng dệt lụa danh tiếng ngày xưa. Những bãi dâu xanh ngắt ngút ngàn và nghề nuôi tằm dệt tơ bên đôi bờ sông Nhuệ thuở nào đã lùi vào dĩ vãng. Tuy vậy, dù Vạn Phúc có “bỏ làng lên phố” nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng thoi đưa của một thời vang bóng trên khắp các ngả đường. Thật mừng thay, đi qua bao thăng trầm, những lụa vân, lụa sa tiến vua nổi tiếng năm xưa, từng có lúc hiếm hoi trở thành một mặt hàng xa xỉ, nay đã hồi sinh và hiện diện kiêu hãnh trên những tà áo, bày trong các gian hàng, khiến bao nữ khách mê mẩn, không lỡ rời đi.

Đứng giữa không gian trưng bày và giới thiệu sản phẩm của làng nghề Vạn Phúc, tôi như nhìn thấy dòng chảy tinh hoa lừng lẫy một thời của những thước lụa quý hiếm đang trỗi dậy mạnh mẽ để khẳng định những giá trị độc tôn của mình trước làn sóng lụa ngoại gắn mác lụa Hà Đông nhằm đánh lừa người mua. Cứ thế, mê mải giữa biển lụa mênh mông ấy, trong lòng tôi chợt gọi về khúc hát bay bổng của một thời quê lụa: “Bóng chiếc thoi đưa ánh mắt long lanh/ Trời đất Hà Tây tay em dệt lụa…”. Để rồi, trong lòng không khỏi bâng khuâng vọng về thanh âm của muôn tiếng tằm ăn đang tan chảy theo những dòng hoài niệm đầy nhung nhớ.
Tôi đi hết gian hàng này đến gian hàng khác, từ bâng khuâng giữa những hồi tưởng miên man để rồi lại trở về với thực tại của Vạn Phúc hôm nay. Những vuông lụa như của ngày xưa ấy đang bày ra trước mắt tôi. Không còn là ảo ảnh trong tâm tưởng, sắc lụa lộng lẫy mà kín đáo, lung linh mà lại trang nhã. Thứ hàng quý giá ấy có đủ các loại sắc màu: cá vàng, hoa hồng, hoa lý hay đỏ rực, xanh lam, tím biếc… Tất cả lụa ấy lúc nào cũng có thể gợi lên được cái nét bình dị nhưng rất sang trọng để làm thành sức hút đầy ma lực và khó cưỡng đối với người thưởng lãm. Từng thước lụa vân Triện thọ, vân Quế hồng diệp, vân Băng hoa, vân Song hạc, sa Đuôi công to, vân Mai thọ, vân Long phượng mây bay, vân Lưỡng long song phượng, vân Lưỡng long song thọ... đều được dệt thủ công một cách vô cùng tinh xảo. Các tuyệt tác tơ tằm này cũng được trang trí bằng muôn vàn hoạ tiết mang đậm hơi thở của người Việt ngay từ trong khung cửi. Thức lụa ấy khi nhìn dưới ánh điện, người ta không bị chói gắt, không có cảm giác sặc sỡ hay bóng loáng. Cứ thế, tiếp xúc với những sản vật tơ tằm truyền thống ấy, tôi đã cảm nhận được cái mềm mại của mặt lụa, sự êm dịu của sắc màu, cùng những biến ảo nhẹ nhàng của ánh kim theo từng góc sáng. Quả thực, thứ lụa chính hiệu nguyên bản này hoàn toàn tách biệt với các loại lụa giả, lụa nhái vô hồn đang tồn tại trên thị trường ngoài kia, khiến không ít người mua nhầm phải chán chường, thất vọng.

Thực sự, đã đến du lịch làng nghề Vạn Phúc, ai mà chẳng muốn mua một vuông lụa trang nhã và kiêu sa của người Hà Đông cho mình hay mang về làm quà tặng cho người thân. Thế nhưng, nỗi e ngại trước làn sóng sản phẩm giả mạo ở ngoài thị trường đôi khi cũng làm cho bước chân du khách phải ngập ngừng. Dường như thấu hiểu nỗi niềm ấy nên các bậc lão niên trong làng đã không ngừng tận tình bày cho tôi cách nhận biết những nét tinh diệu của thứ lụa làng mình. Các cụ bảo, nếu không tinh về lụa, người Hà Đông cũng có thể bị nhầm lẫn như thường. Theo kinh nghiệm lưu truyền, muốn biết lụa thật hay lụa giả, người ta thường nhìn vào hoa văn. Lụa cổ truyền hoa văn thường thuần khiết, đơn giản; các loại hoa hồng, hoa triện, hoa mây, hoa sóng, hình tròn, hình vuông đều được định hình ngay từ trên khung cửi; còn hàng giả thường in phun sau khi dệt với họa tiết rất đa dạng. Nếu cảm nhận bằng tay, khi sờ trực tiếp vào lụa, người mua sẽ thấy hàng thật luôn cho cảm giác mềm mượt, mát lịm và không bao giờ nhăn; trong khi hàng nhái thường thô cứng, dễ nhàu nát.
Ngoài ra, lụa Vạn Phúc còn được phân biệt qua màu sắc. Lụa truyền thống thường có màu trắng ngà và không bị phai còn lụa giả hiệu thường sặc sỡ và hay bị phai màu. Đặc biệt, để ý về kích thước, người tinh ý sẽ thấy lụa Vạn Phúc trung thành với hai khổ chính là chín mươi phân và một mét mười lăm phân, của người xưa truyền lại. Các cụ dặn rằng, với người chưa có kinh nghiệm, tốt nhất là đốt qua lửa. Lụa thật cháy biến thành than, xoa nhẹ tan thành muội đen, ngửi thấy mùi khét; còn sản phẩm công nghiệp do pha nilon nên khi gặp lửa sẽ quéo lại, dẻo quẹo, cháy đen nhưng không tạo thành muội than. Lắng nghe những lời gan ruột ấy của người Vạn Phúc, tôi thấy nghệ nhân nơi này không chỉ coi những chỉ bảo ấy là cái mẹo để hướng dẫn người mua hàng, mà hơn hết, người ta muốn xem đây là một lời thề giữ ngọc của những người làm nghề chân chính nhằm giữ gìn danh thơm ngàn đời của tổ tiên truyền lại. Cái mẹo ấy bảo vệ người tiêu dùng nhưng chính là bảo vệ thương hiệu lụa của làng Vạn Phúc. Thú thực, đến Vạn phúc, tôi đã thấy những người dệt lụa nơi đây dường như đang cố neo giữ lại cái cốt cách của nghề dệt lụa. Phải chăng, thứ ấy chính là linh hồn tự trọng của quê lụa Hà Đông giữa cơn bão thực dụng của nền kinh tế thị trường.
Cùng với thăng trầm của Thăng Long – Hà Nội, đi trong dòng chảy hơn một ngàn năm, chắc hẳn làng lụa Vạn Phúc đã qua không ít những cơn dâu bể. Bước sang thế kỷ XXI, miền quê từng làm nên sắc vân sắc gấm ấy đã và đang phải đối diện với một cơn bĩ cực lớn nhất trong lịch sử. Cơn bĩ cực ấy không phải chỉ đến từ việc hàng thật bị hàng giả bao vây, làm tổn hại danh tiếng hay sức ép từ giá thành cạnh tranh bóp nghẹt sản xuất, mà đáng sợ hơn là việc Vạn Phúc đang bị cuốn trong cơn lốc đô thị hoá. Miền đất của những “nong kén vàng như lúa” ở trang Vạn Bảo thơ mộng bên dòng sông Nhuệ thuở nào nay đã không còn ngàn dâu xanh ngắt. Những làng tơ tằm ngày xưa giờ đã chuyển mình lên phố, những toà nhà cao chọc trời mọc lên san sát khiến cho nguồn tơ sợi trong vùng cung cấp cho các máy dệt đã hoàn toàn vắng bóng.
Cũng giống như làng Vòng, làng Mễ Trì làm cốm, khi nguyên liệu đầu vào không còn nữa, thợ nghề đã phải lặn lội đến các vùng lân cận để đặt hàng, tìm mua. Người thợ quê lụa Hà Đông cũng vậy, để bảo tồn nghề quý của tổ tiên, họ phải tìm sang Nam Định, lên Vĩnh Phúc; thậm chí còn đi xa hơn, đến tận Quảng Nam, Lâm Đồng để đặt kén thu tơ. Nghe nói, ở Lâm Đồng, diện tích trồng dâu của họ cũng có khoảng gần mười một nghìn héc ta. Như thế, xem ra nghề lụa vẫn còn may mắn lắm. Ngẫm thấy, giữa muôn vàn khó khăn về đường nguyên liệu lẫn nhân lực lành nghề, đang ngày càng thưa thớt bởi sự hấp dẫn của nhiều ngành nghề mới, ta mới thấy làng lụa Hà Đông thực sự là hạnh phúc bởi tình yêu nghề của con người nơi đây chưa bao giờ tắt lửa.


Phải nói rằng, đến Vạn phúc, tôi đã thu được vào tầm mắt những xưởng dệt rộn ràng, nghe vang vọng bên tai tiếng lách cách thoi đưa. Cho nên, thứ lụa tiến vua thuở trước, giờ đây không còn ngủ yên trong ký ức, không chỉ vang bóng trong những câu ca, mà đã hồi sinh, đang hiện hữu sinh động trong từng gian hàng trên quê lụa Hà Đông. Nhớ lại, những năm tháng bĩ cực của làng nghề, tôi từng không khỏi nhói lòng với bao niềm trăn trở: nếu lụa Hà Đông không còn, tà áo dài trong các cuộc thi hương sắc của Việt Nam rồi sẽ ra sao? Đã có lần, tôi mê mẩn ngắm nhìn những thiếu nữ trong các cuộc thi hoa hậu tự hào khoác trên mình những chiếc áo lụa tơ tằm Vạn Phúc. Những tà áo ấy rực rỡ, muôn hình vạn trạng gấm hoa, không chỉ làm tăng phần duyên dáng, mà còn tôn thêm sức sống trẻ trung, tươi tắn trên những tấm thân ngọc ngà và chinh phục biết bao ánh nhìn của bè bạn khắp năm châu. Nhìn thế mà tôi chợt nhận ra, tấm lụa Vạn Phúc kia, nếu đi ra ngoài biên giới sẽ không đơn thuần là một bộ xiêm y, mà hoá thành một cốt cách văn hóa truyền thống của tâm hồn Việt; vừa kín đáo, dịu dàng lại vừa thanh lịch, đài các.
Thật may, nhìn những tấm lụa Vạn Phúc như thế mà mối tơ tình trong tôi đã phần nào được giải toả. Chuỗi cung ứng tưởng như bị đứt gãy trên đôi bờ sông Nhuệ nay đã được tiếp nối, hồi sinh từ các miền quê khác. Nhiều nghệ nhân và những lớp thợ mới đang đêm ngày đau đáu bên những khung cửi để giữ nhịp cho tiếng thoi đưa không phải thoi thóp mà rộn ràng ngân vang trên khắp các ngõ xóm. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, để làng lụa Vạn Phúc phát triển bền vững và bay xa thì sự tự cứu lấy mình bằng cách giữ trọn độ tinh xảo của từng tấm lụa độc bản ngày xưa của người Vạn Phúc xem ra vẫn còn chưa đủ. Có lẽ, song hành với tâm huyết của người thợ, thiết nghĩ nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ hơn nữa thương hiệu để bảo vệ giá trị cốt lõi của hàng thật, đồng thời mở rộng con đường giao thương ra thế giới. Có vậy, tà áo dài Việt Nam mới thực sự là vị sứ giả văn hoá và kiêu hãnh đi khắp muôn phương, trong những cái nhìn mến mộ và đầy thiện cảm của bạn bè quốc tế.
Có thể nói, đến thăm làng lụa Vạn Phúc, lắng nghe tiếng thoi đưa, chiêm ngưỡng sắc màu của lụa, tôi như được trở về với trang Vạn Bảo ngày xưa. Giờ đây, bên dòng Nhuệ Giang, tiếng thoi lại không ngừng vang vọng. Cái thanh âm ấy cứ như nhịp đập đều đặn của trái tim làng nghề cổ kính. Nhờ thế mà mạch ngầm tinh hoa ngàn năm của người xưa sẽ vẫn còn mãi. Với niềm tin ấy, tôi lại nhận ra, các nghệ nhân đang miệt mài bên các khung cửi kia cũng giống như những người nghệ sĩ hoài cổ đang ngồi vá lại ký ức và dệt tiếp những ước vọng cho tương lai. Vì vậy, tôi lạc quan rằng, tấm lụa Vạn Phúc sẽ không bao giờ là một hình bóng của thời gian xa xôi nữa. Nó biết nương mình vào ký ức, quấn quýt với hồn người để dệt nên một sắc màu dân tộc. Tấm lụa ấy vừa đằm thắm vừa thanh cao; kiêu hãnh khoác lên vóc dáng thanh lịch của người phụ nữ và vươn ra thế giới để hai chữ Việt Nam được tự hào và toả sáng giữa dòng chảy hối hả của thời đại./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.