Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Ô Diên, thành cũ người xưa

Phan Anh 09:18 12/03/2024

Một ngày cuối năm, từng chùm nắng mùa vàng như tơ óng ánh tỏa xuống mặt đất làm cho màn sương khói mờ ảo của đợt gió lạnh tăng cường tan biến, khiến cho vùng quê ngoại thành Hà Nội trở nên căng tràn nhựa sống. Màu nắng hanh hao chảy dài trên những vòm cây xanh biếc, ruộm vàng những góc tường, vắt ngang những mái ngói thâm nâu, nhảy nhót tung tăng cùng những làn gió thoảng trên cánh đồng hoa cúc vàng mênh mang làm cho chúng tôi quên đi cái lạnh khô se sắt đang nứt nẻ thịt da để tìm về quê hương của Tô Hiến Thành, quan đại thần phụ chính nhà Lý và thăm thú, tìm hiểu, vãng cảnh miền đất một thời từng là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân với tên gọi là thành Ô Diên.

tuong-va-den-tho-danh-nhan-to-hien-thanh.jpg
Tượng và đền thờ danh nhân Tô Hiến Thành

Ô Diên thành cũ là một vùng đất rất cổ nay được xác định nằm ở xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng. Cách đây khoảng mười lăm thế kỷ, miền đất từng đóng vai trò là trung tâm chính trị, quân sự quan trọng của triều đình Hậu Lý Nam Đế - Lý Phật Tử. “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên có ghi lại rằng: Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông, đánh nhau với vua Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình, năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại mà quân của Phật Tử hơi lùi, ngờ là vua có thuật lạ bèn giảng hòa xin ăn thề. Vua nghĩ rằng Phật Tử là người họ của Lý Nam Đế nên không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (phường Thượng Cát thuộc quận Bắc Từ Liêm) cho ở phía Tây của nước, Phật Tử dời đến đóng đô ở thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng). Sau Phật Tử cho con trai là Nhã Lang lấy con gái của vua là Cảo Nương. Vua bằng lòng gả. Vua rất yêu quý Cảo Nương nên cho Nhã Lang ở rể. Trong thời gian ở rể, qua Cảo Nương, Nhã Lang biết được bí mật về sức mạnh móng rồng của Triệu Việt Vương. Sau đó Nhã Lang đã ngầm đổi móng rồng rồi về cùng cha đánh úp nhà vua và chiếm lấy nước. Sau khi chiếm được nước, Lý Phật Tử dời đô về Phong Châu. Lý Phật Tử giao thành Ô Diên cho Biệt suy là Lý Phổ Đỉnh cai quản. Sự kiện chính trị trọng đại này cũng đã được Lê Ngô Cát phản ánh trong “Đại Nam Quốc sử diễn ca” như sau:

“Triệu Vương giáp trận Thái Bình

Lý thua rồi mới thu binh xin hòa

Triệu về Long Đỗ Nhị Hà

Lý về Hạ Mỗ, ấy là Ô Diên

Hai nhà lại kết nhân duyên

Nhã Lang sánh với gái hiền Cảo Nương” …

“Tình con rể nghĩa vợ chồng

Tin nhau ai biết ra lòng lừa nhau

Lâu la mới ngỏ tình đâu

Nhã Lang trộm lấy đầu mâu đổi liền

Trở về giả chước vấn yên

Giáp binh đâu đã băng miền kéo sang

Triệu Vương đến bước vội vàng

Tình riêng còn chửa dứt đường cho qua

Đem con chạy đến Đại Nha

Than thân bách chiến phải ra đường cùng”

Đất Ô Diên thời ấy từng có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng khi nằm kề bên ba dòng sông nổi tiếng: sông Hồng, sông Hát, sông Nhuệ. Trước khi trở thành kinh đô của Lý Phật Tử vùng đất này là một địa bàn gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương của Lý Bí và sau khi Lý Phật Tử dời thành về Phong Châu thì thành Ô Diên vẫn là một quân thành của tướng Lý Phổ Đỉnh. Như vậy, ít nhiều đất Hạ Mỗ cũng gắn liền với không ít các sự kiện trọng đại của đất nước trong suốt thế kỷ thứ VI và thứ VII. Đặc biệt, ở vùng đất linh thiêng ấy khoảng năm thể kỷ sau cũng là quê hương của quan Thái úy Tô Hiến Thành (1102 - 1179), một người tài đức vẹn toàn, nổi tiếng là công minh chính trực, từng phụng sự ba triều vua Lý: Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và có nhiều công lao trong việc chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi.

Đôi lời nhắc lại về vùng đất đế đô và nhân kiệt một thủa của Hạ Mỗ như vậy cũng là muốn tỏ rõ cái căn cớ, mục đích mà đôi chân đã bị dẫn dụ tìm về. Dường như sự dẫn dụ ấy chẳng phải chỉ riêng mình chúng tôi mà chắc hẳn còn có rất nhiều người cũng vậy từ bao đời nay. Tuy chẳng còn vàng son lộng lẫy nhưng thời nào Hạ Mỗ cũng có không ít những tao nhân mặc khách tìm đến để ngưỡng vọng cùng hoài niệm trong những luyến tiếc:

“Núi sông Lý - Triệu tan tành

Diều bay mấy chốn một mình thương ôi!

Chiến hòa cuộc, phó nước trôi

Cỏ xanh mây biếc loi thoi đầy thành.”

(Ô Diên cổ thành – Khuyết danh)

Chúng tôi dạo bước trên đất Ô Diên thủa nọ thấy Hạ Mỗ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Diện mạo của làng quê ngày nào còn thưa thớt dân cư và chưa được trù phú thì nay đã thay da đổi thịt. Nhà cao tầng mọc lên san sát, đường cái rộng thênh thang trải nhựa phẳng lỳ, đen bóng đẹp như phố thị, con mương chảy qua làng và khúc sông thủa xưa sót lại làm thành cái hồ tựa như bán nguyệt được kè đá thoai thoải vững chắc bên đền Văn Hiến, lăng mộ Thái Úy cùng đình Vạn Xuân, chùa Giác Hải, miếu Hàm Rồng… giữa muôn vàn cây xanh đang vươn cành rợp bóng, đêm về lại hòa trong ánh điện tỏa sáng lung linh khiến cho đất Ô Diên xưa đẹp một cách cổ kính mà tráng lệ.

Về Hạ Mỗ hôm nay, ngắm nhìn các công trình, di tích đền đài đã được xếp hạng nhưng mỏi mắt vẫn chẳng thấy dấu vết nào của kinh thành Ô Diên thủa trước. Dấu tích của tiền nhân nay đã vắng bóng. Ngẫm cũng phải thôi, lịch sử đất nước thăng trầm mười lăm thế kỷ đâu phải là ngắn. Ô Diên đi qua tháng năm đằng đẵng với bao bãi bể nương dâu của thời cuộc cùng những vật đổi sao dời, quân thành vàng son ngày nào cùng những tòa ngang dãy dọc của người xưa khó có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Bất giác chúng tôi sực nhớ và đi tìm thành cũ trong nỗi niềm cảm hoài của bao đời thi nhân tiền bối.

“Ô Diên nền cũ dấu khôn tìm

Bia cổ mờ rêu có biếc nêm

Quang Phục hồn thiêng khe suối nghẹn

Cảo Nương mộ vắng tuyết hoa chìm

Được thua sự thể theo hoàn cảnh

Canh cử chòm thôn vẫn cổ kim

Hưng phế người làng đâu hiểu nhẽ

Ngoa truyền vua Triệu tiếng đàn đêm.”.

(Quá nhị Mỗ - Ngô Thì Nhậm)

Thế đấy, những dấu tích vật chất thì đã tàn phai và mất đi theo năm tháng nhưng ký ức của người đương thời về thủa xưa thì vẫn còn ẩn hiện đâu đó trong dân gian tựa như lớp trầm tích lắng đọng trong thời gian theo những lời truyền khẩu:

“Làng chúng tôi Đế vương đất cũ

Người chúng tôi Tể phụ ngày xưa”

“Đất này là đất cố đô

Người trung, trung tự thuở xưa đến giờ”.

Theo cái mạch chỉ dẫn ấy chúng tôi đi tìm thành cũ đâu đó còn lại trong ký ức của dân gian; trong niềm tự hào của muôn đời con cháu được gửi gắm trên những bức hoành phi, câu đối để ngợi ca tiền nhân còn treo trong những đình, đền, cổ tự; trong sự ngưỡng vọng, tôn thờ của người đời và con dân của Hạ Mỗ.

Bắt đầu là đình Vạn Xuân. Đình nằm ở giữa làng, mặt nhìn về hướng Tây, đối xứng Văn Hiến đường và Tri Chỉ đường. Đình thờ Lý Bát Lang và phối thờ Hậu Nam Đế - Lý Phật Tử và Biệt súy Lý Phổ Đỉnh - đây là các nhân vật nổi tiếng thời Tiền Lý (thế kỷ thứ VI). Đình được xây dựng trên khu đất cao, rộng và có hình thế “quy vờn ngọc”. Đình Vạn Xuân có những nét kiến trúc độc đáo, khác biệt với nhiều ngôi đình nổi tiếng trong vùng. Đình không làm theo kiểu hình chữ nhất, chữ nhị, chữ công, chữ môn mà thiết kế theo kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc với các nóc nhà được liên kết chặt chẽ với nhau ở phía trên; hệ thống cửa bức bàn kéo dài, bao quanh mặt trước và cùng tiền sảnh nhà đại đình ở phía dưới tạo thành một hệ thống liên hoàn tựa như một dinh thự, một hành cung của vua chúa thời xưa, nhìn rất cổ kính, sang trọng, trang nghiêm. Trong đình hiện có treo đôi câu đối cổ phản ánh một dấu tích một thời của thành xưa: “Nam Đế Lý triều quốc hiệu Vạn Xuân, diên đình lưu tích thánh/Ô Diên cảnh thắng đô thành nhất thế, quán tự hiển thần linh” (dịch nghĩa: Triều Lý Nam Đế, tên nước là Vạn Xuân, ngôi đình lớn ghi lại tích của đức thánh/ Thắng cảnh đất Ô Diên một thời là Kinh đô, tất cả sự thờ tự rạng rỡ về sự linh thiêng của Thần linh).

Qua đình chúng tôi sang chùa Giác Hải. Đây là ngôi chùa rất cổ, toạ lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng ở phía rìa làng. Theo truyền thuyết, chùa Hải Giác được xây dựng từ thế kỷ thứ VI, cùng thời với kinh đô Ô Diên của nhà nước Vạn Xuân ở Hạ Mỗ. Chùa được kiến trúc theo trục chính là Đông Nam - Tây Bắc. Bên ngoài chùa có hai Tam quan. Tam quan ngoại làm giả theo kiểu hai tầng tám mái. Cổng chùa mở ra phía đường làng. Từ cổng đi vào có con đường dẫn tới một giếng cổ rất to. Giữa giếng có dựng lầu Quan Âm. Bên trái đường là Tam quan nội. Tam quan này xây theo kiểu nghi môn với bốn trụ biểu. Trên thân trụ có các câu đối bằng chữ Hán. Kiến trúc chùa từ Tam quan đi sâu vào bên trong cũng làm theo kiểu nội công ngoại quốc. Phía sân trước có ba bia đá dựng dưới gốc cây bồ đề. Tiếp đến là toà Phương đình hai tầng tám mái, tầng trên treo bộ chuông, khánh cổ đúc từ thời Gia Long (1802- 1820). Đối diện với Phương đình là nhà Tổ và nhà Mẫu. Hai nhà này có quy mô, kiến trúc giống nhau. Nhà Tổ nằm bên trái, rộng năm gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, gian giữa đặt mười tượng sư tổ. Nhà Mẫu nằm ở bên phải, gian giữa có bày bộ tượng Tam phủ (Mẫu Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Nhạc), hai bên là động Sơn Trang và bàn thờ Đức thánh Trần. Sau nhà Mẫu và vườn Tháp. Cách Phương đình một cái sân gạch rộng là tòa Tiền đường. Tiền đường gồm năm gian hai dĩ, gian giữa nối với toà Thượng điện khá sâu. Hai gian giáp đầu hồi có cửa “thoát tục” dẫn vào hành lang tả và hành lang hữu với dãy tượng gồm mười tám vị La Hán. Hai góc cuối của dãy hành lang nối với toà Hậu đường rộng bảy gian. Trong Hậu đường có Mật Động. Chùa Hải Giác hiện còn lưu giữ rất nhiều tượng quý, trong đó có năm mươi tượng tròn mang phong cách cuối thời nhà Lê đầu thời nhà Nguyễn. Bên trái Tiền đường có tượng Đức Ông và hai thị giả (Già Lam và Chân Tể); bên phải là Thánh Tăng và hai thị giả là Diệu Nhiên và Đại Sĩ. Góc tường hồi bài trí giống nhau mỗi bên có bốn vị Kim Cương và hai vị Bồ tát. Phía đầu nhà Thiêu hương có Hộ pháp Khuyến Thiện và Hộ pháp Trừng Ác. Dọc theo hai bên là Thập điện Diêm Vương, ở hai góc cuối có Quan Âm Tống tử và Quan Âm Chuẩn đề. Hiện trong chùa cũng còn lưu giữ được đôi câu đối có nội dung ca ngợi thành Ô Diên: “Giáo liệt tam tông Hồng Lạc tảo khai kim thế giới/ Cảnh tiên thập vịnh Ô Diên biệt chiếm ngọc càn khôn” (dịch nghĩa: Ba giáo phái cùng truyền đạo lý, con cháu Lạc Hồng sớm mở hoàn cầu quý như vàng bạc/ Mười bài thơ ca ngợi cảnh về trước, kinh thành Ô Diên giữ riêng trời đất đẹp tựa ngọc ngà).

den-van-hien.jpg
Đền Văn Hiến

Kết thúc hành trình vãng cảnh vùng đất đế đô chúng tôi thăm đền Văn Hiến và viếng “Tô Vương lăng Thái sư mộ”. Đền Văn Hiến nằm ở đầu làng, nhìn về hướng Đông, nằm trên khu đất khá cao bên hữu ngạn sông Nhuệ xưa. Cảnh quan đền xanh rợp bóng cây, mát mẻ và thoáng đãng. Khởi đầu đền Văn Hiến là văn chỉ thờ Khổng Tử để biểu dương các vị khoa bảng trong làng. Nhưng sau khi Tô Hiến Thành qua đời, nhân dân Hạ Mỗ đã chôn cất, xây mộ và thờ ông tại đây. Qua nhiều lần sửa chữa, tôn tạo, đền Văn Hiến hiện nay được mở rộng rất nhiều nhưng cơ bản vẫn giữ được những kiến trúc cũ và các giá trị truyền thống như bộ bia Khoa Tràng ghi tên các vị đỗ đạt trong các khoa thi; các bản khắc gỗ in bộ thơ văn “Cổ Kim Truyền lục” do các nhà nho trong làng sáng tác và xuất bản hồi đầu thế kỷ XX cùng nhiều đồ cúng tế, trang trí khác như thần phả, câu đối, hoành phi, long ngai, hương án, đồ tế khí, bia đá, đồ sứ, đồ đồng, tượng gỗ… Tất cả những hiện vật này được xem là những tư liệu văn hóa vô cùng quý giá của Hạ Mỗ.

Đền Văn Hiến ngoài thờ Tô Hiến Thành thì còn thờ Đỗ Trí Trung (đỗ Tiến sĩ năm 1475). Nhìn từ ngoài đường vào ta thấy trên cổng đền có đắp bốn chữ Hán và đôi câu đối. Bốn chữ Hán là “Thánh vực hiền quan” (cõi thánh người hiền). Hai câu đối nội dung cũng lưu ký ức về một thời thành cũ: “Nhuệ thủy giang biên, Văn Hiến thiện đường kim thánh vực/ Ô Diên thành ngoại, Kim Sơn linh tích cổ hiền quan” (dịch nghĩa: Bên bờ sông Nhuệ, Văn Hiến thiện đường nay là cõi thánh/ Ngoài thành Ô Diên, Kim sơn linh tích xưa thuộc cửa hiền. Trong sân đền có tượng danh nhân Tô Hiến Thành. Văn Hiến đường gồm có các nhà: Tiền tế, Bái đường, Hậu cung. Trong Hậu cung có chân dung Khổng Tử và Tam thánh (Văn Xương Đế quân – thần chủ văn chương, Quan Thánh Đế quân (Quan Công), Phu Hựu Đế quân (Lã Đồng Tân, một trong Bát tiên quá hải). Tượng Tô Hiến Thành và Đỗ Trí Trung cùng bài vị Thành hoàng làng. Đặc biệt trong khuôn viên đền còn giữ được lăng mộ của Tô Hiến Thành cùng văn bia bằng đá.

Thái sư Tô Hiến Thành không chỉ là niềm tự hào của làng Hạ Mỗ mà còn của cả đất nước. Đương thời ông là nhà chính trị nổi tiếng. Thời vua Lý Anh Tông ông là tướng chỉ huy dẹp loạn Thân Lợi ở Lạng Sơn. Do có công lao lớn với nhà Lý nên năm 1159 ông được phong chức Thái Úy, ít lâu sau lại được phong Vương. Cùng năm đó giặc Ngưu Hống và Ai Lao xâm chiếm nước ta, ông lại được cử đi ngăn chặn và thắng trận. Năm 1161, ông lại được giao cầm hai vạn quân đi kiểm tra miền Tây Nam và vùng ven biển, trấn áp giặc cướp, giữ yên cương vực. Trong giai đoạn này, ông đã tổ chức cho quân dân khai hoang lấn biển và lập lên nhiều làng mới ven biển thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa ... Năm 1167, giặc Chiêm lại tấn công nước ta, vua Lý Anh Tông tiếp tục cử ông Nam chinh. Tô Hiến Thành lại một lần nữa ra trận và chiến thắng làm vị thế của quốc gia Đại Việt đương thời trở nên hùng mạnh khiến các nước lân bang phục nể, nhà Tống phải dè chừng. Năm 1175 Khi Lý Anh Tông ốm nặng, trước khi mất, vua có ủy thác cho ông giúp đỡ Thái tử Long Trát. Khi đó Thái tử mới hai tuổi. Bà hoàng hậu Chiêu Linh muốn đưa con mình lên thay đã đem vàng bạc dụ dỗ ông nhưng ông khẳng khái từ chối và nói: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang; người trung thần nghĩa sĩ lẽ nào lại làm? Huống chi lời nói của vua trước còn văng vẳng bên tai. Tôi không dám vâng lời”. Năm 1179, ông ốm nặng, Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ chu đáo. Bà Thái hậu họ Đỗ đến thăm nhân tiện hỏi về người thay thế. Ông đáp “Trần Trung Tá có thể làm được”. Thái hậu nói “Tán Đường ngày nào cũng hầu hạ thuốc thang sao ông không nói đến”. Ông đáp “Vì Thái hậu hỏi người thay tôi nên tôi mới cử Trần Trung Tá, nếu hỏi người săn sóc, nuôi dưỡng tôi thì không phải Tán Đường thì còn ai khác nữa!”. Đánh giá về ông, đời sau Phan Huy Chú có viết: “Ông làm quan đầu triều, nhận trọng trách hết lòng hết sức; khéo sử trong khi biến cố, dù sóng đánh đập, lay chuyển mà cột đá vẫn trơ trơ không đổi, cuối cùng khiến cho trên yên, dưới thuận, thực không hổ thẹn với phong độ của bậc đại thần thời xưa”.

Chân bước đi trên đất người xưa, “Cỏ xanh mây biếc loi thoi đầy thành” cũng chẳng còn. Bất chợt trong lòng trào dâng một nỗi niềm hoài cổ và lại nhớ đến câu thơ của Trương Hán Siêu khi dạo chơi trên sông Bạch Đằng thửa xửa:

“Đứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá”

Nghe nói, cách đây vài năm Hà Nội đã công nhận xã Hạ Mỗ là một điểm du lịch. Hy vọng trong tương lai “thành cũ” “người xưa” ở Hạ Mỗ sẽ được nhiều người biết đến và tìm về ngưỡng vọng… Và có cả một ước mơ: “Ô Diên” sẽ được nghiên cứu và phục dựng để cho một thời vàng son không chỉ còn lại trong ký ức./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội đâu phải để "tạm thương"
    Có những người chỉ thương nhau trong một thời ngắn ngủi nhưng vấn vương là thứ cả đời mang theo. Có con đường ngắn ngủi giữa lòng Thủ đô mang tên ngõ Tạm Thương mà lòng người một lần ghé qua đã biết không chỉ là thương tạm.
(0) Bình luận
  • Sự thanh lịch bắt đầu từ một lời nói nhẹ nhàng
    Giữa những đổi thay không ngừng của một đô thị hiện đại, Hà Nội vẫn giữ cho mình những nét riêng rất khó trộn lẫn. Người ta nhớ về Thủ đô qua màu thời gian trên mái phố cổ, qua tiếng leng keng tàu điện trong ký ức hay hương hoa sữa mỗi độ thu về. Nhưng có một điều âm thầm làm nên cốt cách Hà Nội suốt bao năm qua, ấy là cách người Hà Nội nói chuyện - nhẹ nhàng, có đầu có cuối, sâu sắc mà điềm đạm như chính con người nơi đây.
  • Góc phố Thành Công - Nơi Hà Nội còn trong từng nếp sống
    Có một Hà Nội không ồn ào trên mặt báo, không náo nhiệt như phố đi bộ cuối tuần, mà là Hà Nội trong những nếp sống lặng lẽ, bền bỉ và tinh tế - thứ đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi suốt những năm tháng trưởng thành.
  • Nốt trầm ngân lên giữa lòng thành phố
    Sống ở Hà Nội, sau những ngày bận rộn, tận tụy với công việc, để tâm hồn thư giãn tôi thường đến bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam để mãn nhãn với những bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ. Có thể là những bộ trang phục thời trang các dân tộc xanh chàm hay rực rỡ với bản sắc riêng. Cũng có thể là những bức tranh dân gian cổ, những bức tượng gỗ điêu khắc kỳ công, tỉ mỉ… Hiện vật ở đây toát nên những giá trị điển hình của văn hóa dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Hà Nội, một nỗi nhớ không có điểm dừng
    Có những thành phố ta đi qua, để lại vài bức ảnh vài dòng trạng thái, rồi quên. Nhưng Hà Nội thì không, không phải vì nó quá đặc biệt mà vì nó không cho người ta quên theo cách dễ dàng. Hà Nội không nằm lại trong ký ức như một kỷ niệm đã xếp gọn, nó tồn tại như một phần đời, lặng lẽ, bền bỉ và đôi khi đau đáu đến mức chỉ cần nghĩ đến thôi cũng đủ làm lòng chùng xuống, dù đang ở rất xa.
  • Hà Nội trong nỗi nhớ của tôi
    Tôi gặp lại Hà Nội trong cái rét tháng ba, trời không quá lạnh, thời tiết buổi sáng trong lành, dễ chịu. Trở lại Hà Nội không biết bao nhiêu lần, nhưng trong tôi Hà Nội vẫn là điều gì đó khiến tôi mỗi lần nhắc tới đều thấy thương nhớ vô cùng. Để viết về Hà Nội, với tôi là nguồn cảm hứng vô tận, có lẽ Hà Nội với tôi đã "hóa tâm hồn" như ý thơ của nhà thơ Chế Lan Viên.
  • Đá ong, hồn quê xứ Đoài
    Mỗi lần lang thang về “miền mây trắng”, đi dọc dải đất từ Quốc Oai, Thạch Thất lên Sơn Tây rồi đến Ba Vì, ấn tượng trong tôi không chỉ có những ngôi đình vững chãi, bề thế; những ngôi chùa cổ kính, rêu phong với những mái ngói, đầu đao uốn lượn như rồng bay, phượng múa mà còn có cả những ngôi nhà, những bức tường rào nhuốm màu thời gian được cất lên từ những viên gạch đá ong xù xì, thô ráp trong sắc màu nâu đỏ (còn gọi là màu vàng thổ) trải qua năm tháng phơi nắng, dầm mưa.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Mùa ổi trên cao nguyên
    Tôi còn nhớ, ngày nhỏ, trên cao nguyên toàn đất cằn và đá, mỗi mùa thật riêng. Nhất là những ngày giáp hạt, mỗi thứ quả như một món quà của thiên nhiên, sâu lắng một thứ tình đất đai với những gì ta đã gửi vào lòng đất mẹ.
  • NSNA Vũ Anh Tuấn: Tôi luôn cố gắng giữ sự chân thật, tự nhiên trong từng bức ảnh
    Trung tuần tháng 4 vừa qua, tại không gian triển lãm 45 Tràng Tiền (Hà Nội), nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Anh Tuấn giới thiệu tới công chúng bộ ảnh chân dung đen trắng mang tên “Những người ta gặp”. 61 tác phẩm được chọn lọc từ hàng trăm khuôn hình trong suốt hành trình làm báo và sáng tác của ông đã mang đến cho người xem nhiều cảm xúc. Mỗi bức ảnh là một cuộc gặp gỡ, một lát cắt đời sống, ở đó con người hiện lên thật dung dị, chân thật qua góc nhìn tinh tế của người cầm máy. Cùng Tạp chí Người Hà Nội lắng nghe những chia sẻ của tác giả về những “đứa con tinh thần” này để hiểu rõ hơn về hành trình sáng tác của ông.
  • Prudential Việt Nam khẳng định vai trò trong việc hoàn thiện hệ sinh thái tài chính toàn diện
    Trong khuôn khổ “Lễ hội Tài chính số 2026” diễn ra tại phố đi bộ Nguyễn Huệ (TP Hồ Chí Minh) từ ngày 6 đến 7-6-2026, Prudential Việt Nam là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ duy nhất đồng hành cùng chương trình năm nay. Sự kiện do Báo Tuổi Trẻ tổ chức thường niên, quy tụ các tổ chức tài chính, ngân hàng, công nghệ và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nhận thức, trải nghiệm và ứng dụng các giải pháp tài chính số trong đời sống.
  • Hà Nội sắp xếp, kiện toàn chi bộ thôn, tổ dân phố: Củng cố nền tảng tổ chức Đảng từ cơ sở
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Công văn số 747-CV/TU về việc sắp xếp, kiện toàn mô hình chi bộ thôn, tổ dân phố. Chỉ đạo này nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa việc sắp xếp đơn vị dân cư với xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Đừng bỏ lỡ
  • Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO vinh danh là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới
    Trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 38 của Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển thuộc UNESCO diễn ra tại thành phố Hernandarias, Cộng hòa Paraguay, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã chính thức được UNESCO vinh danh là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới.
  • Khai mạc Liên hoan phim ngắn TP Hồ Chí Minh lần thứ 2 năm 2026
    Liên hoan phim ngắn Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Vươn mình tỏa sáng" không chỉ là sân chơi dành cho các nhà làm phim trẻ mà còn đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp điện ảnh, hiện thực hóa các cam kết của Thành phố sau khi gia nhập Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực điện ảnh.
  • Có một Hà Nội đầy thi vị trong những ngày đầu tháng 6
    Chiều 7/6, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” do NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club thực hiện sẽ mang đến một cuộc gặp gỡ đầy cảm xúc giữa Jazz và những ca khúc về Hà Nội. Điều đặc biệt là chương trình lần này gợi mở hình ảnh Thủ đô qua những dấu ấn của các mùa trong năm, từ “Có phải em mùa thu Hà Nội”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
  • Hà Nội tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cho 17 cá nhân
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 2822/QĐ-UBND ngày 5/6/2026 về việc tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt”.
  • Ra mắt tủ sách Hồ Chí Minh và không gian văn hóa số về Bác
    Nhân kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911-05/6/2026), NXB Tổng hợp TP.HCM giới thiệu tới độc giả tủ sách “Vinh quang Hồ Chí Minh”, nhằm tiếp tục phát huy vai trò của công tác xuất bản trong việc bảo tồn và lan tỏa di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Chính phủ quy định về phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 189/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động phát hành và phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026.
  • Ra mắt phần 3 phim tài liệu “Hồ Chí Minh: Con đường phía trước”
    Hành trình tìm đường cứu nước và xây dựng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được tái hiện một cách sống động và chân thực trong phần 3 của loạt phim tài liệu "Hồ Chí Minh - Con đường phía trước".
  • Khai mạc Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển: Cánh cửa kỳ diệu mở ra thế giới tuổi thơ
    Ngày 1/6, tại Hà Nội, Viện Phim Việt Nam (Bộ VHTTDL) phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam tổ chức lễ khai mạc Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển nhằm mang đến cho khán giả nhỏ tuổi những tác phẩm điện ảnh đặc sắc của hai quốc gia nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6.
  • Việt Nam giành giải Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026
    Tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026, đại diện cho Việt Nam, tiết mục xà đơn trên đùi “Thiên thần đến từ Thiên hà” do NSND Tống Toàn Thắng đạo diễn, với sự tham gia biểu diễn của 5 nghệ sĩ: Thu Hường, Hồng Yến, Cẩm Ly, Lệ Phương và Thảo Vân, đã xuất sắc giành Vương miện Bạc.
Ô Diên, thành cũ người xưa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO