Cá tính và  phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng

Trần Đăng Suyền| 02/07/2011 10:53

(NHN) Nguyên Hồng, ngay từ những trang viết đầu tay, đã tự vạch cho mình một con đường nghệ thuật riêng: Nhà  văn của những người cùng khổ. Cả cuộc đời cầm bút, ông gắn bó sâu sắc, máu thịt với những con người nhử bé, những lớp người dưới đáy của xã hội thà nh thị. Sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng có nét gần gũi với nhà  văn Nga Mác xim Gorki “ trong mỗi trang viết của ông nồng nà n hơi thở của đời sống cần lao.

 Nguyên Hồng, ngay từ những ngà y thơ ấu, đã hứng chịu biết bao tủi cực. Năm 12 tuổi, cha mất, mẹ đi kiếm ăn ở xa; cậu bé Hồng sống với bà  nội và  các cô ruột nhưng thường bị hắt hủi, bị đối xử­ nghiệt ngã, vì cảnh nhà  sa sút và  chủ yếu vì có người mẹ chưa đoạn tang chồng đã tái giá. Ấy là  những ngà y côi cút cùng khổ, thiếu đói, thèm khát từ bát cơm, tấm bánh đến cả tình thương, lăn lóc đầu đường xó chợ cùng đám trẻ lang thang, hư hửng bán báo, bán xôi chè, bánh kẹo, hoa quả, bán các đồ chơi lặt vặt, đi ở bế con hay nhặt ban quần, hoặc ăn mà y, ăn cắp từ con cá, lá rau (Những ngà y thơ ấu). Аứa bé hay tủi thân ấy đã nếm trải biết bao tủi hửn, uất ức cô đơn, sau nà y được bộc bạch trong những trang đầm đìa nước mắt của tập Những ngà y thơ ấu. Mới 14 tuổi, Nguyên Hồng đã nếm trải cảnh tù tội, bị đưa đi ở trại tù trẻ con. Trại nà y nay không còn nữa, nhưng và o thời ấy cứ gọi tên ấy lên đã đủ gợi ra bao nhiêu cảnh thảm thương, rùng rợn. Bọn xếp ngục, cai ngục là  những quân ăn thịt người không tanh mà  lại được nắm quyửn sinh sát tuyệt đối trên đầu một đám trẻ con tội nghiệp không ai bảo vệ mà  cũng không đủ sức tự vệ. Ngay trong nội bộ đám tù trẻ con cũng vậy, với cái tính ích kỷ bản năng của lứa tuổi chưa có lương tri ấy, chúng cũng hà  hiếp, đánh đập, tranh cướp lẫn nhau rất độc ác. Thử­ tưởng tượng một đứa trẻ mới lớn, ốm yếu, đa cảm như Nguyên Hồng mà  phải sống trong một cái chuồng súc vật ấy thì phải chịu biết bao đau khổ.

Nhà  văn Nguyên Hồng

Từ giã tuổi thơ cùng với mảnh đất quê hương Nam Аịnh biết bao đắng cay và  tủi nhục, Nguyên Hồng cùng mẹ và  bố dượng ra sinh sống ở xóm Cấm, Hải Phòng. Sống gần gũi với những người cần lao, đầu tắt mặt tối quanh năm suốt tháng vì miếng cơm manh áo, Nguyên Hồng sớm nhận ra, không ở đâu cuộc sống lại tối tăm hơn thế, nhưng cũng không nơi nà o, tình người lại nồng nà n, sâu đậm, ánh sáng nhân tâm lại lấp lánh như chốn địa ngục trần gian nà y. Tạng người Nguyên Hồng, môi trường sống cùng với ảnh hưởng của tinh thần tôn giáo mà  ông đã thẩm thấu rất tự nhiên từ những ngà y thơ ấu, đã tạo nên nét tính cách nổi bật nhất của ông “ một con người trái tim, con người của tình cảm, nghĩa tình nồng nà n, tha thiết.

Là  con người trái tim, Nguyên Hồng nhất mực nhạy cảm, già u tình thương, dễ xúc động, mau nước mắt. à”ng là  nhà  văn đa cảm nhất thế kỉ XX. Theo tâm lý học, những người có khí chất mạnh ( khí chất Colê) như Nguyên Hồng, thường có những rung động cảm xúc ồ ạt, yêu ghét rõ rà ng. Cơ sở tư duy của những  người nà y thường là  kinh nghiệm trực tiếp cảm tính và  phản ứng cảm xúc. Họ dễ chuyển tâm tư một cách đột ngột từ vui sang buồn2. Nguyên Hồng có nét khác với Tô Hoà i. Tô Hoà i vốn ưa thầm lặng, vùi mình và o một xó, còn  Nguyên Hồng thì lắm khi, đột ngột can thiệp ồn à o vui vẻ với xung quanh là m những người bạn cùng đi với ông ngượng sững người. Аúng như Thanh Kim cảm nhận vử ông: Аã ghét, ghét cay ghét đắng “ Аã yêu, yêu hết lòng “ Trái tim ông run rẩy “ Nước mắt ông lưng tròng. Trong tâm trí của Như Phong thì, Nguyên Hồng là  một con người cởi mở, hơn thế nữa, có thể nói là  một con người luôn luôn mở toang hết lòng mình ra cho người bên cạnh.

Từ một đứa bé hay tủi thân, cho tới lúc tuổi đã cao, Nguyên Hồng, như nhiửu người chứng kiến, là  người rất hay khóc. Trần Quang Huy kể lại, trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông  được tổ chức phân công đưa Nguyên Hồng đi công tác thoát ly. Nguyên Hồng đã ra ngoại ô Hải Phòng, nhưng mà  cậu ta nhớ nhà  hay sao ấy, hôm nà o cũng khóc, thế là  lại mò vử. Kim Lân đã từng chứng kiến biết bao lần Nguyên Hồng khóc: Nguyên Hồng rất hay khóc. Gặp một người bạn mới, nhớ một người bạn cũ, đọc một đoạn thơ hay, phát biểu trong cuộc họp,v.v... Chỉ một xúc động nhử, Nguyên Hồng đã chảy nước mắt khóc rồi. Biết tính anh, nhiửu lần anh bắt đầu sụt sịt, bạn bè ngồi quanh đã đưa mắt nhìn nhau tủm tỉm cười. Nguyên Hồng cũng biết thế, nhưng cơn khóc kéo đến không nhịn được. Аã có lần anh phải xin phép mọi người để khóc. Xin phép các anh cho tôi khóc một tý. Thế là  nước mắt ngắn, nước mắt dà i tuôn ra, anh khóc.

Bản chất Nguyên Hồng, vốn là  người già u tình thương, mau nước mắt là  vậy, nhưng lại là  người cả tin và  quyết đoán. à”ng mà  đã quyết cái gì, để giữ cái nhân cách, lòng tự trọng, dẫu là  có thiệt thòi cho mình, thì đố ai có thể ngăn cản được ông.

Con người Nguyên Hồng, là  hiện thân của đời sống cần lao. Những ai từng được gặp Nguyên Hồng đửu không quên được cái dáng tất tưởi, lam lũ của ông. Cái vẻ khốn khổ, vất vả hiện ra qua nét mặt, ngay cả trong khi ngủ: Lúc ngủ mặt Nguyên Hồng nom vẫn cau có, đăm chiêu, vất vả lắm(Kim Lân).  Nét mặt lúc nà o cũng đăm đăm “ không phải khó đăm đăm, mà  đăm đăm chăm chú, dường như ít khi rỗi rãi, cả lúc đi đường (Tô Hồi). Nguyên Hồng lẫn và o đám đông, chen vai giữa mọi người, như mọi người (Tô Hồi), ăn nói, đi lại, trò chuyện một cách hết sức xuử xòa, chan hòa gắn bó với mọi người, dù đó là  đám trẻ con đang chơi đùa, những ông cụ, bà  cụ và  những bác nông dân hay đám dân buôn chuyến. Cũng theo Tô Hồi, thì một người gặp Nguyên Hồng, dù có thói quen nhận xét tinh tế đến thế nà o, cũng không thể ngử ngợ một chút “ một chút thôi, người vừa gặp ấy là  một nhà  văn. Không thể có một nét, một vẻ để ta bám lấy là m cớ cho nhận xét của ta, dù chỉ một nhận xét thống qua.

Nguyên Hồng cùng gia đình

Cá tính Nguyên Hồng, thật nổi bật cái nét dễ tính, xởi lởi, dân giã, xuử xòa, từ cái ăn, cách mặc đến thú chơi. Bản chất con người ông, từ trong cốt tủy, có chất dân dã, rất xa lạ với những gì là  kiểu cách, trưởng giả. Nguyễn Tuân nhận xét: Trong cư xử­, Nguyên Hồng xuử xòa, và  cà ng xuửnh xồng vử ăn mặc. Một người bạn tôi, trước là  chủ hiệu may và  giử là  xã viên đứng đắn của hợp tác xã may mặc Hà  Nội đã nói trộm với tôi vử nhà  văn Nguyên Hồng mà  ông ta thích đọc: Nguyên Hồng có tính lập dị không ? Аi ra nước ngồi không biết mấy lần rồi, mà  sao già y mũ quần áo ông ta trông cứ như là  một người mugích Nga trước Cách mạng tháng Mười ấy! Ai ở thủ đô mà  cũng cứ quần áo như thế thì chúng tôi thất nghiệp hết sao. Không phải nhà  văn phải mặc thời trang mốt nọ mốt kia, mà  ý tôi muốn là  được cắt cho ông ấy một bộ quần áo gọn gà ng, ông nói ông ấy cứ đưa mấy thước hà ng lại, tôi không tính tiửn công may đâu, chính tay tôi cắt lấy may lấy, gọi là  tử cái tình của một người độc giả cũ ngà y nay vẫn còn mê văn Nguyên Hồng. Nguyên Hồng, ngay cả những lúc trịnh trọng, cũng không sao che đậy được cái xuử xòa đến mức cẩu thả của mình, trong ăn mặc. Аối với Nguyên Hồng, quần là nh áo tốt hay áo quần lôi thôi, đửu chỉ như vậy. Năm ấy, tình cử gặp nhau, có cả Nguyễn Tuân, ở khách sạn Bắc Kinh, trung tâm Mátxcơva. Chúng tôi chén một bữa linh đình, mời cả bạn nhà  văn Liên Xô. Mừng thọ nhà  văn Nguyên Hồng sáu mươi tuổi. Nguyên Hồng, đôi già y mới chững chạc, thắt cà  vạt cẩn thận. Nhưng, là m sao mà  vẫn thấy trong cái bử ngồi tươm tất ấy, con người tất bật, luộm thuộm như mọi khi, ở chợ Bắc Qua, ở dọc đường lên Nhã Nam. Tô Hồi cho biết, Nguyên Hồng có lẽ nhớ Hà  Nội mỗi cái thú tẩm quấtở xế cử­a ga Hà  Nội, khối tỷ được cả cái tầm quất tra tấn và  rất mê chợ. Có thể là , cái quang cảnh ăn uống, lẫn lộn quang gánh, tiếng à  à , ầm ầm không ngớt tíu tít, bối rối mà  lại như rẽ rà ng, đâu ra đấy, vẻ lộn xộn lẫn với nử nếp của cái chợ đêm lắm thức mua bán, có cái gì đó, thật phù hợp với con người và  tính cách Nguyên Hồng. Cái món ăn Nguyên Hồng khối khẩu, hay mời bạn thân, là  cái món nem Sà  goòng nhân rau đà n bà  đẻ, cái món mà  Nguyễn Tuân mới chỉ nghe nói, đã lắc đầu, rủa chả rán Nguyên Hồng đãi tôi cái thằng xơi được bọ hung thì nó còn từ cái gì (Tô Hồi). Nguyên Hồng thích uống rượu, uống bia. Nhưng có lẽ, chẳng ai đi uống bia, lại như Nguyên Hồng. Mỗi lần xe bia vử, người xích lô đẩy những thùng bia xuống đường. Cứ tự nhiên, Nguyên Hồng ra ghé vai vác thùng bia và o, rồi hì hục vác cả bốn thùng, lại còn cẩn thận kê một thùng lên bậc cử­a (Tô Hồi). Cũng không ai uống rượu độc đáo như Nguyên Hồng. Аến một tuổi nà o đấy, ông bắt đầu uống rượu, tự cho phép mình hưởng thụ, hưởng lạc đôi chút. Nhưng uống rượu không đi kèm với thuốc lá, trà  tà u.  Uống rượu mà  ngồi đâu cũng được, có gì nhắm nấy, khi là  củ lạc, cọng rau muống, lúc thì nhắm với mấy lát khoai tây rán, và i quả ổi, thậm chí, còn nhắm cả với... cơm nguội nữa. Bùi Ngọc Tấn cho rằng: Rượu đã trở thà nh một đặc trưng nổi bật của Nguyên Hồng. Trong những trang viết vử cái thú ẩm thực của những con người nghèo khổ, có cái cảm giác, say mê, thích thú của chính ông, khi là  bữa cơm có rau muống chấm tương cùng với quả cà  pháo ròn tan, lúc là  bát canh cua chan bánh đúc hay chén rượu nhấm nháp. Hãy nghe Nguyên Hồng miêu tả cái thú uống rượu của Lão La trong tiểu thuyết Sóng gầm: Lão đói bụng đến đâu, cơm dẻo canh ngọt nóng sốt đến đâu, nhưng không có rượu thì lão vừa ăn vừa thấy như cháo lá đa, cà ng ăn nhiửu cà ng bã bời nhạt nhẽo. Lão chỉ mong được hai hươu là  hay nhất, không thì một hươu thôi. Cốt nhất là  bữa chiửu. Dù vất vả đói cực đến đâu nhưng khi rử­a cái tay lau và o chiếc áo cũ, chân chùi chùi và o chiếc chổi lúa, rồi ngồi và o mâm, chai rượu để sẵn rót ra cái chén nóng, tợp một ngụm, nghe hơi men phà o phà o cồn lên trong người, nhón con rạm, bẻ mẩu bánh đa nhai lốp cốp.

 Tính cách Nguyên Hồng có nhiửu nét trái ngược với Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân kênh kiệu, sang trọng, hơi là m dáng còn Nguyên Hồng lại thoải mái, giản dị, xuửnh xồng. Nguyễn Tuân cảnh vẻ và  kử¹ tính trong ăn uống bao nhiêu thì Nguyên Hồng lại dễ dãi trong sinh hoạt và  ăn uống bấy nhiêu. àt thấy đôi bạn thân thiết nà o lại khác biệt nhau đến thế (...). Khác nhau từ hình thức, cách ăn mặc, đi đứng, giao tiếp. Khác nhau từ thế giới nhân vật, văn phong (...). Khác nhau hồn tồn vử tính cách. Tính cách ngồi đời và  tính cách trong văn chương.

Nguyên Hồng là  một con người giản dị, trung thực, đầy bản lĩnh, trước sau, ông xa lạ với mọi thói ma ranh, khôn vặt, láu cá. Nguyên Hồng sống thanh bần. Nhưng không thử ơ, uể oải. Trái lại lúc nà o cũng say mê ngây ngất một cái gì. à”ng là  một nhân cách lớn, sẵn sà ng chấp nhận những thiệt thòi để có thể sống hết mình cho nghệ thuật.

                                                 *

                                                               *    *

Ai cũng biết, phong cách nghệ thuật của nhà  văn có liên quan mật thiết với cá tính con người của ông ta. Phong cách nghệ thuật có nguồn gốc từ tồn bộ thế giới tinh thần của nhà  văn, từ thế giới quan, quan điểm triết học, chính trị đến thị hiếu thẩm mử¹, thói quen. Sự hình thà nh phong cách của nhà  văn cũng như tính độc đáo của nó, tất nhiên là  có quan hệ mật thiết với sự hình thà nh số phận cá nhân và  cá tính của người cầm bút. Nhưng, không nên và  cũng không thể đồng nhất cá tính ngồi đời với cá tính sáng tạo và  phong cách nghệ thuật của nhà  văn. Sự đồng nhất nà y đã dẫn đến những sai lầm, những ngộ nhận thật đáng tiếc.

Dẫu không đồng nhất cá tính con người nhà  văn với phong cách nghệ thuật, nhưng không thể không thấy, cá tính của Nguyên Hồng có mối quan hệ thật sâu sắc, máu thịt với phong cách nghệ thuật của ông. Con người ấy, tâm hồn ấy, cuộc đời, số phận ấy thì văn chương ấy. Cái mệnh đử của Buy “ phông: Phong cách chính là  người, mới đúng là m sao với trường hợp của Nguyên Hồng.

Tâm hồn Nguyên Hồng, ngay từ tuổi ấu thơ, đã được nhà o nặn trong khổ đau, tủi nhục và  bất hạnh. Một tâm hồn nhất mực nhạy cảm và  cảm xúc dồi dà o cùng với một vốn sống phong phú, cắm rễ rất sâu và o đời sống nhân dân lao động cần lao, đã tạo nên cách nhìn con người và  cuộc đời riêng, độc đáo ở Nguyên Hồng. Nếu Nguyễn Công Hoan nhìn đời bằng con mắt trà o lộng, thấy đời như một sân khấu hà i kịch, Vũ Trọng Phụng nhìn đời bằng con mắt căm uất khôn nguôi, chỉ thấy đời là  vô nghĩa lý, là  cái xã hội khốn nạn, xã hội chó đểu thì Nguyên Hồng nhìn đời bằng con mắt “ trái tim, thấy đời là  bể khổ, con người là  những kẻ chịu nạn, là  những kiếp trầm luân. Nguyên Hồng thường xuyên bị ám ảnh bởi nỗi đau thương của con người, có khả năng nhìn thấy và  đồng cảm sâu sắc với những cảnh đời bất hạnh, với nỗi khổ đau chồng chất của kiếp người, bằng chính tâm hồn và  thể xác của mình.

 Con người, qua con mắt “ trái tim của Nguyên Hồng, cà ng khốn khổ, cà ng bị vùi dập phũ phà ng bao nhiêu lại cà ng ngời sáng vẻ đẹp thánh thiện, phẩm chất tốt đẹp bấy nhiêu. Trong các nhà  văn Việt Nam thế kỷ XX, chỉ có Nguyên Hồng mới có khả năng nhìn thấy trong những cái bình thường, thậm chí tầm thường, xô bồ, bử bộn của cuộc sống, trong cảnh lầm than, lam lũ, khốn khổ, cơ cực của con người một vẻ đẹp, một chất thơ của đời sống cần lao mà  người khác không nhìn thấy được. Và  ông đã say sưa miêu tả vẻ đẹp ấy, một vẻ đẹp sâu kín, thánh thiện, thấm nhuần tinh thần lãng mạn, với một thái độ đầy nâng niu, trân trọng, đã khẳng định và  ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ, ngay cả khi họ bị đẩy và o tình trạng tha hóa, lưu manh hóa. Không ít nhà  văn hiện thực cùng thời với ông nhìn cuộc sống một cách bi quan. Nguyễn Công Hoan bi quan, Vũ Trọng Phụng cà ng bi quan hơn nữa vử con người và  xã hội đương thời. Ngay cả Nam Cao, dù tin tưởng sâu sắc và o bản chất lương thiện của người dân lao động nhưng vẫn không khửi có lúc bi quan chua chát. Chỉ có Nguyên Hồng luôn nhìn đời bằng con mắt tin yêu, lạc quan tin tưởng.

Viết văn đối với Nguyên Hồng là  mệnh lệnh của trái tim, viết là  để giải thốt những xâu xé, những dà o dạt trong lòng. Аể phơi bà y những ý tưởng rạo rực tâm hồn (...), viết còn để tìm cho mình một đời sống lâu dà i trong tâm hồn mọi người và  được yêu thương lại một cách nồng nà n với những mối tình thắm thiết mênh mông. Ngòi bút Nguyên Hồng đã bắt rễ rất sâu và o cát bụi lầm than, và o những cảnh đời, những kiếp người khốn khổ tủi nhục của những lớp người dưới đáy của xã hội và  đã tìm được ở đó nguồn sữa dồi dà o nuôi dườ¡ng cả cuộc đời nghệ thuật của mình. Nguyên Hồng đặc biệt nhạy cảm với những cảnh ngộ đau thương, những cảnh đời bất hạnh và  vẻ đẹp thiên lương, thánh thiện của con người. Cảm hứng thương cảm là  cảm hứng chủ đạo, bao trùm lên tồn bộ sáng tác của Nguyên Hồng. Cảm hứng đó đã tạo nên trong tác phẩm của ông một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, bao giử cũng thống thiết, mãnh liệt (Nguyễn Аăng Mạnh). Một tình cảm nhân đạo thiết tha đối với những người cùng khổ thấm đượm trong tồn bộ sáng tác của Nguyên Hồng ở cả hai thời kử³ trước và  sau Cách mạng tháng Tám.


(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nâng cao nhận thức về Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới
    “Tài liệu bồi dưỡng nhận thức về Đảng” (xuất bản lần thứ 24, có sửa chữa, bổ sung theo Văn kiện Đại hội XIV) cập nhật toàn diện các quan điểm chỉ đạo mới, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng lý luận trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc. Nội dung tài liệu tập trung làm rõ tầm nhìn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đồng thời khơi dậy khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Đây là hành trang chính trị quan trọng, góp phần hình thành bản lĩnh, tư duy để học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng sẵn sàng đứng vào hàng ngũ của Đảng.
  • Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi): Đưa nền giáo dục và đào tạo Hà Nội vươn tầm cao mới
    Để hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo hàng đầu cả nước và châu lục, Điều 16 về “Phát triển giáo dục, đào tạo” trong Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi) khẳng định sự đổi mới mới tư duy, trao quyền tự chủ và tạo bệ phóng để giáo dục, đào tạo Hà Nội thực sự vươn tầm.
  • Định vị “vũ khí tư tưởng” trong kỷ nguyên mới
    Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới” có thể xem là “kim chỉ nam” thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng để mở đường cho ngành xuất bản Việt Nam bứt phá, trở thành một ngành công nghiệp văn hóa - công nghệ mũi nhọn trong kỷ nguyên số, vươn tầm khu vực và thế giới.
  • Hà Nội công bố kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2025
    Sáng 31/3, UBND thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị công bố kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước.
  • [Infographic] Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 của Hà Nội
    Tại Kỳ họp thứ nhất, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 vừa qua, HĐND Thành phố đã thông qua Nghị quyết về "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 của Thành phố Hà Nội". Thành phố nhấn mạnh, 13 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được xây dựng nhằm cụ thể hóa các nhóm chỉ tiêu và định hướng tại Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
Đừng bỏ lỡ
Cá tính và  phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO