Vui, buồn Hà Nội vẫn bao dung
Mười năm cho một cuộc tình thì dài, nhưng mười năm với một nơi mình gắn bó như Hà Nội thì lại thấy ngắn ngủi biết bao nhiêu. Với tôi, một thập kỷ trôi qua nhanh như một giấc ngủ trưa, như một cái chợp mắt giữa đêm đông lạnh buốt.

Hà Nội gọi tôi từ một miền xa thẳm - vùng quê nghèo xứ Nghệ gió lào cát trắng. Ngày ấy, tôi từ giã xóm làng theo tiếng gọi của ước mơ. Tôi mang cái nắng gió cằn cỗi của miền Trung và một trái tim tuổi mười tám tràn đầy khát khao ra đất kinh kỳ. Cổng trường Hanu (Đại học Hà Nội) đón chào tôi bằng những nhiệt thành, bằng thành quả ngọt ngào mà tôi và bố mẹ đã chắt chiu suốt cả những năm tháng học trò. Tôi vẫn nhớ như in một chiều thu tháng chín loang lổ nắng, mẹ dắt tôi đi suốt cả buổi chiều. Dấu giày, dấu dép của hai mẹ con in không biết bao nhiêu lần trên những con ngõ dọc ngang của phố Triều Khúc mới tìm được một căn phòng trọ như ý để dung thân.
Hà Nội trong mắt một đứa trẻ lần đầu ra tỉnh thật đẹp, hoành tráng và lộng lẫy. Đó là những dãy nhà tầng cao chót vót, những con đường tấp nập xe cộ và ánh đèn lung linh sáng suốt đêm thâu. Tôi mang niềm háo hức của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” mà say mê thành phố này, như say mối tình đầu ngây ngô, trong sáng đến thánh thiện.
“Mối tình” với Hà Nội dắt tôi đi qua những năm tháng sinh viên đầy ắp kỷ niệm. Là góc chợ Triều Khúc thân thuộc như cái chợ quê mình. Là những con hẻm nhỏ trước cổng trường Hanu với quán bún đậu mẹt, chè thập cẩm, cơm bình dân cùng không biết bao nhiêu món ăn vặt mà mỗi “Hanuer” đều từng một đôi lần thưởng thức. Là con đường Kim Mã rợp bóng bằng lăng tím, nơi tôi mòn dấu xe đi dạy thêm tiếng Anh cho cậu học trò nhỏ. Và là những chiều tan học sớm, tôi rảo bước trên cầu Long Biên cổ kính, nhìn dòng sông Hồng cuộn đỏ dưới chân để tìm lại cho mình một cảm giác bình yên…
Cứ tưởng những niềm vui nhỏ bé ấy sẽ khỏa lấp hoàn toàn tâm hồn đứa con xa quê. Ấy vậy mà, có những lúc Hà Nội làm tôi buồn thật nhiều. Nỗi buồn cứ thế hóa thành dòng nước mắt, chực trào nhòe đi cả manh áo trắng học trò.
Đó là một ngày năm hai đại học, tôi đứng trên chuyến xe buýt chật ních người và bị kẻ xấu móc mất chiếc laptop. Đó không chỉ là một thiết bị, mà là gia tài lớn nhất của tôi, được đổi bằng những năm tháng còng lưng đạp xe đi gia sư bất kể mưa nắng. Giữa trạm trung chuyển Nguyễn Trãi hối hả, dòng người cứ lạnh lùng lướt qua nhau, còn tôi đứng lại, khóc không biết ngại ngùng giữa bao người xa lạ. Khóc cho sự bất cẩn của mình, và khóc cho cái khắc nghiệt đầu đời mà thành phố dội vào tôi.
Tôi ra trường, chọn ở lại mảnh đất này để lập nghiệp. Những tưởng cuộc sống bắt đầu nuôi nấng những quả ngọt, thì năm hai mươi lăm tuổi, Hà Nội lại giáng xuống đầu tôi một thử thách chí mạng. Đó là ngày tôi dẫn mẹ đi khám ở bệnh viện K3 Tân Triều. Khi bác sĩ gọi vào phòng riêng, buông một câu nhẹ bẫng mà nặng tựa ngàn cân: “Mẹ cháu bị K rồi”.
Mọi thứ trước mắt tôi sụp đổ hoàn toàn. Tinh thần hoảng loạn tột độ, tôi cố hỏi đi hỏi lại hòng vớt vát một chút hy vọng nhỏ nhoi, vô vọng. Vị bác sĩ thương cảm chỉ biết xoa đầu và vỗ về tôi: “Cố gắng làm chỗ dựa tinh thần cho mẹ nhé! Mạnh mẽ lên chàng trai”. Thằng con trai hai mươi lăm tuổi đầu, sức dài vai rộng, vốn tưởng mình đã vững vàng, bỗng trở nên yếu đuối và bé nhỏ hơn bao giờ hết. Giọt nước mắt mặn chát lăn dài. Tôi dặn lòng lúc ra gặp mẹ phải thật bình tĩnh, nhưng vừa nhìn thấy dáng mẹ gầy gò ngồi chờ ở hành lang, tôi lại khóc như mưa. Hai mẹ con ôm nhau khóc rưng rức ngay giữa cổng bệnh viện, mặc cho cái rét mướt của mùa đông Hà Nội bủa vây xung quanh.
Là chuỗi ngày sau đó, tôi xin nghỉ việc để đưa mẹ đi về giữa các buồng bệnh. Nhìn mẹ trải qua không biết bao nhiêu ca mổ đớn đau, những đợt truyền hóa chất, xạ trị khiến tóc rụng từng trảng mà lòng tôi đau như cắt. Thèm được gánh bớt nỗi đau cho mẹ nhưng lực bất tòng tâm. Hà Nội những ngày ấy trong mắt tôi chỉ có màu xám ngắt của bầu trời và mùi cồn sát trùng nồng nặc.
Trong một chiều xếp hàng chờ mẹ ngoài phòng mổ, tôi gặp một cậu em quê Yên Bái gầy gò, nhỏ thó. Cậu ngồi co ro chờ đến lượt trị xạ, quay sang tâm sự với tôi bằng giọng nghẹn ngào: “Em ghét Hà Nội quá anh ơi. Hễ đi Hà Nội là em phải vào viện”. Câu nói ấy khiến lồng ngực tôi nhói đau. Tôi chỉ biết nắm chặt bàn tay khô gầy của em, động viên em kiên cường. Những lần vào viện sau đó, tôi bàng hoàng nghe tin cậu em nhỏ ấy đã ra đi về một thế giới khác. Giữa buổi chiều thu Hà Nội lộng gió, tôi đứng ở khuôn viên viện, cổ họng nghẹn đắng, muốn khóc mà không thể khóc thành lời. Cuộc đời sao vô thường quá. Cầu mong ở một thế giới khác, em không còn đớn đau. Và nếu có một kiếp sau để trở lại, mong em sẽ được gặp một Hà Nội lộng lẫy tiếng cười, đầy hoa và nắng ấm, chứ không phải một Hà Nội nồng nặc mùi hóa chất và những lọn tóc rụng rơi...
Thú thực, sau những giông bão ấy, đã đôi bận tôi muốn dứt áo rời xa Hà Nội như bao người đến rồi đi. Tôi từng trách thành phố này sao quá ngột ngạt và mang lại cho mình nhiều tổn thương đến thế. Nhưng rốt cuộc, sau những ngày về quê sưởi ấm bên gia đình, duyên nợ lại níu chân tôi trở về với mảnh đất này.
Tôi nhận ra, Hà Nội không chỉ có những vết thương, Hà Nội còn có cả sự chữa lành. Thành phố nuôi tôi lớn bằng kỷ niệm, thử thách tôi bằng nỗi đau, và dung dưỡng tôi bằng sự tĩnh lặng nhẫn nại. Hà Nội đón tôi trở lại không bằng những lời dỗ dành, mà bằng một góc quán quen bảng lảng khói trà mộc mạc, bằng mùi hoa sữa nồng nàn góc phố đêm, và bằng những con người lao động lam lũ nhưng sẵn sàng nghiêng chiếc ô che cho tôi một ngày mưa gió.
Mười năm, Hà Nội đã nhào nặn tôi từ một cậu học trò ngơ ngác xứ Nghệ thành một người đàn ông biết chấp nhận, biết đi qua nghịch cảnh để trưởng thành. Đi qua những ngày bão giông mới biết trân quý những khoảng lặng bình yên. Thanh xuân của tôi nằm lại nơi đây, gắn bó với từng hơi thở của mảnh đất này. Dẫu vui, dẫu buồn, Hà Nội vẫn ở đó - nghiêm khắc nhưng đầy lòng trắc ẩn, im lặng và bao dung tôi…/.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Mai Hoàng. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.