NSND Lê Thi: Người nghệ sĩ - chiến sĩ
Tháng 2 năm 1967, khi đang công tác tại Sở Văn hóa Hà Nội, Lê Thi nhận lệnh nhập ngũ. Khi ấy, chàng trai quê xã Công Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) chưa tròn hai mươi bảy tuổi. Tiết trời Hà Nội cuối đông vẫn se lạnh, mưa xuân giăng mắc khắp phố phường. Từ khuôn viên Câu lạc bộ Thiếu nhi (xưa còn được gọi là Ấu Trĩ Viên), xe ô tô đưa những người lính trẻ vừa rời công việc tại các cơ quan, khoác trên mình bộ quân phục còn nguyên nếp về làng Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
Tại đây, các tân binh Hà Nội rèn luyện sức khỏe và ý chí bằng cách đeo ba lô chứa gạch hành quân quanh làng. Họ sống trong bầu không khí hào hùng của một làng quê hậu phương lớn - nơi đầu tiên đón nhận những chiếc gậy từ chiến trường gửi về, cũng là nơi nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác “Chiếc gậy Trường Sơn” (1967) đầy xúc cảm, tiếp thêm sức mạnh cho những đoàn quân nối dài ra mặt trận. Sau hơn một tháng huấn luyện, do yêu cầu nhiệm vụ, đội tân binh chính thức hành quân vào Nam. Nhân dân Hòa Xá tiễn họ với món quà là “chiếc gậy Trường Sơn”, gửi gắm tấm lòng thơm thảo và tình yêu thương mặn nồng. Trong lòng mỗi người lính, niềm tự hào dâng trào như âm hưởng bài ca ngân vang: “…Trường Sơn ơi, cho dẫu hiểm nguy bền thân vững chí/ Trong bước đi nghe tiếng đồng quê…”

Sau chặng hành quân đầu tiên, đoàn dừng chân tại một địa điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa nghỉ lấy sức. Bất ngờ, Lê Thi được Ban chỉ huy gọi lên: anh có lệnh triệu tập của Bộ Quốc phòng. Ngay chiều hôm đó, anh cùng một cán bộ đại diện Bộ là đồng chí Đính trở về Hà Nội. Một nhiệm vụ mới đang chờ đợi. Lê Thi được điều về Xưởng phim Quân đội, đơn vị trực thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng (thành lập năm 1960, tiền thân của Điện ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam).
Sau này, Lê Thi mới biết lý do mình được biên chế ở Xưởng phim Quân đội là nhờ Trịnh Thanh - người từng làm việc với anh ở Xưởng phim và Nhiếp ảnh Hà Nội giới thiệu. Trước khi nhập ngũ, Lê Thi vốn là nhạc công đàn nguyệt của Đoàn Chèo thuộc Sở Văn hóa Hà Nội, sau khi tốt nghiệp Trường Âm nhạc (1963). Say mê nghề quay phim, anh theo học lớp quay phim do Bộ Văn hóa tổ chức và đầu quân về Xưởng vừa quay phim vừa kiêm chân ghép nhạc.
Thời ấy, phim được quay bằng máy 16 ly. Phim quay xong phải chuyển từ nê-ga-típ sang pô-ga-típ, rồi cạo từ để ghép nhạc - một công đoạn thủ công phức tạp, đòi hỏi tỉ mỉ và kiên trì. Thường 11 - 12 giờ khuya, anh cùng đồng nghiệp làm việc trong phòng tối đến tận sáng hôm sau. Nhờ công sức và tâm huyết ấy, Xưởng phim đã cho ra đời nhiều bộ phim tài liệu có chất lượng, phục vụ kịp thời đông đảo công chúng như: “Đất quê hương” - phim về Anh hùng Lương Văn Nghĩa), “Tay súng tay cày” - phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường của dân quân tự vệ ngoại thành Hà Nội vừa sản xuất vừa chiến đấu; rồi những phim về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã thi đua “làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”...
Phim làm ra, Xưởng lại tổ chức các đội chiếu bóng lưu động mang đi chiếu cho nhân dân khắp nội ngoại thành mang lại niềm vui tinh thần và khích lệ lao động, chiến đấu cho bà con. Lê Thi vẫn nhớ, có lần anh cùng Trịnh Thanh đi quay cảnh dân quân quận Ba Đình cứu viên phi công Mỹ nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch, người đó chính là John McCain.
Gia nhập lực lượng điện ảnh quân đội, Lê Thi nhanh chóng trở thành một “tay máy” vững vàng. Anh cùng đồng đội liên tục ra chiến trường trong các chuyến “đi B ngắn” theo chiến dịch rồi lại trở về. Năm 1968, Lê Thi cùng đồng đội ghi lại được nhiều tư liệu quý trên tuyến đường Trường Sơn khốc liệt: Cua chữ A, Tà Lê, Pu Nhích, các binh trạm… Tại đây, anh gặp nhiều văn nghệ sĩ khác cũng đang sáng tác giữa bom đạn như nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhiếp ảnh gia Hoàng Kim Đáng, họa sĩ Đức Dụ... Trở ra Bắc sau mỗi chiến dịch, anh lại xông pha đến các điểm nóng tại mặt trận Hà Nội, ghi lại những hình ảnh chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc duy nhất như cảnh máy bay Mỹ bị quân dân ta bắn rơi ở phố Lê Trực, hay trận đánh B52 trong “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.
Năm 1971, Lê Thi cùng kíp Điện ảnh Quân đội nhận lệnh vào chiến trường K. Sau ba tháng hành quân bộ, kíp làm phim đã tới Kra Ché (Campuchia), được đồng bào địa phương giúp đỡ. Trong thời gian ngắn ngủi, ê-kíp khẩn trương ghi hình, phối hợp cùng các đồng đội vào trước như Lý Văn Lâm, Nguyễn Văn Minh… Ghi hình đến đâu đơn vị lại phân công người đưa phim về căn cứ an toàn để lưu trữ. Những thước phim đó sau này được dựng thành phim tài liệu “Thành phố K những ngày đầu giải phóng”.
Năm 1973, tại Quảng Trị, ngay sau Hiệp định Paris được ký kết (27/1), Lê Thi được phân công trực tiếp ghi hình buổi trao trả tù binh giữa hai bên trên bờ bắc sông Thạch Hãn. Cũng tại đây, anh lần đầu tiên đảm nhiệm vai trò đạo diễn với phim tài liệu “Thạch Hãn những ngày đầu giải phóng”. Bộ phim phản ánh chân thực cuộc sống của quân dân vùng Nam giới tuyến 17 đón chào niềm vui vô bờ sau những năm tháng chiến đấu hào hùng, đặc biệt là sau chiến dịch Đường 9-Khe Sanh (1968) và 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (1972) vô cùng ác liệt.

Mùa xuân 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn quốc mở màn bằng chiến dịch Tây Nguyên, tiến tới chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 30/4/1975, cùng các cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn, những chiến sĩ - nghệ sĩ của Điện ảnh Quân đội, trong đó có Lê Thi đã có mặt kịp thời ghi lại những thước phim tư liệu quý báu. Nắm chắc chiếc máy quay trong tay, anh xông pha giữa dòng người hân hoan kịp thời ghi lại những sự kiện đang diễn ra khẩn trương và sục sôi khí thể, trong lòng xốn xang, rộn ràng khi tận mắt chứng kiến thời khắc non sông thu về một mối.
Sau ngày thống nhất đất nước, Lê Thi cùng đồng nghiệp có điều kiện khai thác kho tư liệu đồ sộ mà Điện ảnh Quân đội đã gom góp, tích lũy được trong kháng chiến. Hàng loạt phim tài liệu lịch sử lần lượt ra đời, đoạt nhiều giải thưởng lớn. Với cương vị quay phim, anh đem “cái tình của người làm ngấm vào từng khuôn hình” trong các phim “Từ trận đầu đánh thắng” và “Thành phố những ngày đầu giải phóng” (đều đoạt Bông sen Bạc - Liên hoan phim Việt Nam lần thứ II, 1973); “Hà Nội bản hùng ca” (đồng quay phim - Bông sen Vàng Liên hoan phim Việt Nam lần III, 1975; Giải Nhất Liên hoan phim quốc tế Quân đội các nước XHCN tại Hungary, 1978).
Ở cương vị đạo diễn, Lê Thi tiếp tục thành công với các phim tài liệu: “Anh bộ đội của chúng em”, “Trường Sa… không xa”, “Nàng Tô Thị mỉm cười”, “Đường mòn trên Biển Đông”, “Mùa Xuân toàn thắng”, “Cát cháy”, “Những miền quê họ đến”, “Người Anh cả Quân đội”, “Phía trước”, “Vì bầu trời Tổ quốc”... Các tác phẩm đi sâu khai thác số phận con người, những góc khuất phía sau chiến tranh. Đặc biệt, phim “Đường mòn trên Biển Đông” (đồng đạo diễn với Phạm Nguyên) khắc họa đậm nét hình ảnh các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, các chiến sĩ đoàn tàu không số đã làm nên huyền thoại về con đường vận chuyển trên biển đóng góp không nhỏ vào thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.
Từ năm 1993 đến 2005, Lê Thi là Quản đốc Xưởng phim Tài liệu - Điện ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Rời quân ngũ, Đại tá Lê Thi vẫn chưa một ngày nghỉ ngơi. Suốt hơn 20 năm qua ông tiếp tục làm phim tài liệu về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Ông không thể dừng bước khi kho phim tư liệu còn ngồn ngộn. Bởi, đó không chỉ là tư liệu lịch sử, mà còn là kết tinh máu xương của bao lớp chiến sĩ, đồng bào trên khắp đất nước. Khi chiến tranh lùi xa, những người nghệ sĩ như ông càng thấu hiểu điện ảnh chính là chiếc cầu nối giúp thế hệ sau tiếp cận những giá trị ấy bằng sự khách quan, chân thực và nhân văn.
Ngoài phim tài liệu, Lê Thi còn tham gia đạo diễn một số phim truyện: “Hà Nội 12 ngày đêm” (đạo diễn chính Bùi Đình Hạc), “Tiếng cồng định mệnh” (đạo diễn chính Khắc Lợi). Và câu chuyên trong bộ phim tài liệu “30/4 - Ngày thống nhất” do ông đạo diễn, dù đầy tiếng súng vẫn chan chứa tinh thần hòa hợp dân tộc, bởi ông tin rằng “không có bên thắng cuộc hay bên thua cuộc”.
Với vai trò tổng đạo diễn “Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - Biên niên sử truyền hình” (90 tập), Lê Thi cùng ê-kíp tái hiện quá trình phát triển của dân tộc từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay một cách bao quát, khách quan, sâu sắc, giàu tính sử thi. Ông cho rằng, sức hấp dẫn của phim nằm ở sự chân thực và chính xác lịch sử; mỗi loại hình nghệ thuật đều có sức mạnh riêng, và phim tài liệu về chiến tranh cách mạng có đối tượng khán giả đặc biệt.
Với gần 50 năm miệt mài trên mặt trận văn nghệ, năm 1997, Đại tá, đạo diễn, NSƯT Lê Thi được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, năm 2012 ông được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân và năm 2017, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật./.