Những bài thơ bất yên
Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
Xuyên qua đó, điều đáng suy ngẫm sâu kỹ hơn và cũng là chút nhận ra thú vị khi tôi đọc tập thơ “Bản giao hưởng tháng Tư” (NXB Hội nhà văn, 2026), ấy là sự bất yên, là trạng thái bất ổn trong tâm hồn con người, trong niềm đắm đuối sáng tạo. Từ đây, tạo dựng nên những không gian, hình ảnh có phần khác lạ, kỳ ảo, mang chứa những phức cảm, thường trực một cảm giác xao động trong những bài thơ mượn ý tứ cuộc đời để kể suy tư nghệ sĩ.

*
Ngay ở đầu tập thơ với bài thơ cùng tên, nhà thơ, họa sĩ Đinh Minh Thiện viết về chim như phác một tượng đài của tiếng hót. Tinh thần của tự do vút lên khiến cho người nghe cảm thấy mình trở nên suy thoái, tha hóa. Mặc cảm bỗng dưng xuất hiện này không phải bởi con người vốn đã tệ hại, mai một như thế. Mà chính bởi sự mạnh mẽ, vô tư, hồn nhiên của tiếng chim và cái lẽ tự nhiên mà nó đại diện đã làm ta phải xấu hổ. Ta nhận ra sự thật giản dị về giá trị của tự nhiên, hay nhỏ bé thôi là giá trị của cánh chim để tự mình bớt đi sự ngạo mạn, giảm đi ý thức làm chủ, thống trị vạn vật. Từ góc độ nhận thức và văn hóa, cũng chính là đã ngộ được một điều đáng quý trong quan niệm sống, cách ứng xử. Khi ấy, như lời thơ thi sĩ:
“Hãy hót
như lời đánh thức…
tiếng hót xuyên không
tiếng hót xuyên thời.”
Qua nhiều bài thơ trong tập “Bản giao hưởng tháng Tư”, người đọc có thể nhận thấy tác giả có xu hướng gửi gắm triết lý. Nhưng tôi thích thơ mang sắc thái triết lý một cách tươi tắn bằng những hình tượng. Đinh Minh Thiện cho thấy sự nhuần nhuyễn trong thao tác này bằng cả một hệ thống hình ảnh và chuyển động mà nhà thơ tháo lắp, cài đặt đa dạng trong câu chữ của mình. Có lẽ đó là ưu thế tự thân, phổ biến hơn ở những người có tài hoa mỹ thuật. Nhưng từ hiệu ứng của quan sát với những xa gần, khối nổi, khối chìm, mảng sáng, góc tối, cách đặc tả khối chính nào đó trên bề mặt…, thi nhân làm cho khung cảnh và chi tiết của mình biến ảo hơn bằng hình dung về rung động nhiều chiều.
Dễ thấy những “bức tranh động” này qua một số bài thơ mà tên chỉ gọi một sự vật đơn giản nhưng nội dung của nó lại mang nhiều ý nghĩa phức tạp. Bài thơ “Mặt trời” độc đáo với trạng thái sinh ra của một mặt trời non nớt, có cách diễn đạt hiếm gặp khi mô tả mặt trời trên biển.
Một cảm giác thụ thai:
“Mặt biển cong gù như vung nổi”
Một cuộc sinh thành vừa kỳ vĩ vừa xinh xắn:
“mặt trời tuột ra từ lòng biển
nhoi lên ngơ ngác
ánh sáng ướt mặn
ánh sáng non nớt cô đơn”
Trải rộng cùng với đó, bài thơ xoải ra một cảm giác ngang ngang, mênh mang như đang lênh đênh trên biển, mắt rọi những vị trí cận kề cho đến phóng chiếu ngoài xa để bao quát không gian khoáng đạt. Nhưng khi đó, một cảm quan về hiện tại biến đổi, pha trộn đã tạo ra khung cảnh khác lạ:
“Thân tàu tiếp tuyến khẽ sượt vào da biển
da biển nhăn tiếc cơn ngái ngủ”
Và:
“Trái đất cong queo hiện thực
mặt trời ảo giác
đường chân trời đổ rạp
cánh buồm say.”
Như có gì đó không yên trong suy tưởng của người viết qua những câu thơ này, và ở nhiều bài khác. Ẩn chứa trong những bài thơ đó là một tâm hồn không ngừng xáo trộn, không ngừng băn khoăn, truy vấn về giá trị, sự chân thực, cách sống, cách để nắm bắt những chuyển động quanh mình.
*
Về nguyên cớ của trạng thái “cả nghĩ”, “tự gây rắc rối cho mình” ấy, tác giả tiếp nhận những vận động xã hội với không ít va đập, đột biến, suy giảm, suy thoái. Chúng gây ra những bất an, tổn thương trong tinh thần. Có thể nhận ra điều này ở những câu thơ gợi trăn trở trước xâm lấn thô bạo của đời sống công nghiệp, vật chất. Và sâu xa ẩn sau đó là những tham vọng thực dụng. Bài thơ “Giờ trái đất” ngấm những ví von bi hài, chua chát:
“công tắc điện tắt hờ vì sợ bị đàm tiếu
nước sông cạn trơ khó hiểu
than đá ngác ngơ vì ánh sáng mặt trời búa rìu
mũi khoan sàm sỡ trái đất
cánh quạt tua bin ghẹo gió lang thang.”
Đối lập dữ dội được khái quát qua mấy câu thơ:
“nền văn minh gặm nhấm sự hoang dã
người tôn thờ ánh sáng như thần
kẻ tôn thờ lợi nhuận”
Và rồi, lựa chọn của người viết:
“Một giờ trái đất bớt đau
tôi gác bút một giờ.”
Dừng viết thì còn gì có cơ hội sáng tạo! Và nếu nhận ra một phần nhờ thế mà trái đất bớt bị xâm hại thì tốt hơn hết là hãy gác bút mãi mãi, cũng tương tự như việc dừng mọi tác động vật lý, mọi hành động của con người và thiết bị để cho trái đất… được yên! Nhưng ở chọn lựa hơi khó hiểu này, người đọc có thể nhận ra nguyên cớ thứ hai cho những dằn vặt không ngừng. Đó là việc luôn luôn tự vấn, tự đối thoại, suy tư vào hành trình nội cảm. Đó là những xáo trộn nội tâm khi chủ thể tự khám phá chính thế giới tâm hồn mình. Nghĩa là nếu đời sống cứ tưng bừng nở hoa như mộng tưởng thì thi nhân vẫn chẳng thể an lòng. Bài thơ “Tết ngọt” đều đặn dìu dịu, êm nhẹ, tưởng rất thảnh thơi nhưng vẫn lấp ló dự cảm với những câu:
“Biển nay lặng lắm
phẳng đến nghi ngờ
hình như con sóng
ngạt trong giấc mơ.”
Bài thơ “Ngày nước rặc”, qua những ảnh hình hiện thực là cuộc đẩy đưa những xáo động trong người khi “tôi nhớ thủy triều/ khò khè bội thực loa phường”, khi “lòng biển lộ thiên/ lũ cò moi bí mật giấu kín trong lớp trầm tích/đàn cá loi choi hớp nắng nhớn nhác gác diều hâu”. Đặc biệt khi một phía là “nụ cười cô dâu trên cành hoa xấu hổ” còn một phía là trong nội tâm thi sĩ, thì: “xác pháo hồng xé tôi thành rác”. Trong bài thơ, ta gặp một kẻ đứng nhìn và có thể chợt thấy đám cưới đi qua, không nhất thiết phải là đám cưới người yêu cũ, mà chỉ tình cờ, vậy mà cũng phải bật lên một liên tưởng tan tác, bất toàn như thế. Chính là bởi cứ băn khoăn thường trực, cứ bất an, suy tưởng dai dẳng như vậy nên mới nảy sinh ra những hình dung không tròn vẹn. Như trong bài thơ “Cúc”, thi nhân viết về hoa bằng một ám ảnh thương cảm:
“Vàng thau chưa hẳn cho người
có khi hoa cố mỉm cười vì đau”
và dữ dội hơn nữa:
“Hoa tàn nuôi cánh bình minh
vàng như
day dứt
quyên sinh
mà vàng.”

*
Tôi không muốn nói rằng tác giả tự vận đời, vận vạn vật vào mình, hoặc đem những não nề bi thảm nào đó trong tâm hồn sướt mướt của thi nhân đa sầu đa cảm ra gán cho cảnh vật. Đọc một số bài thơ của Đinh Minh Thiện trong tập thơ này, tôi thấy thú vị ở cách nhà thơ “vẽ lại, diễn lại” tâm hồn bất yên của mình bằng tập hợp những hình ảnh chuyển động, rung động. “Thân phận, số phận” của những hình ảnh, trạng thái đó gợi ra những gì còn chưa xong trong cuộc đời, chưa xong một cách yên ổn, chưa kết thúc có hậu, mà vẫn cứ dai dẳng, day dứt để lại một vùng không gian chênh chao, bâng khuâng trước mặt.
Đó là thành công của người làm thi sĩ, họa sĩ trong mạch sáng tạo thường xuyên tự vấn, đòi hỏi bản thân như hành động tự gây vất vả trong khi đời sống thực thì ngược lại, có thể rất êm ái, ngọt ngào. Đó cũng là sức mạnh của người nghệ sĩ khi thực hiện quyền được biến hóa trong sáng tác. Các bài như “Mưa”, “Thông điệp chiếc bóng”, “Thu”, “Biển mùa đông”… cùng cất lên điều đó.
Bài “Mưa”, có những câu gợi mở nhiều ý rộng để tác giả sau này có thể đọc lại và phát triển thêm trong các bài khác:
“Tiếng ve tàng hình thút thít
…Hạt mưa vô tỷ
mỗi hạt hỗn độn rắc lên vỏ trái đất…”.
Tác giả phát huy mạnh những suy tưởng về nhiều sự vật, sự việc tưởng chừng không liên quan và ghép nối chúng với nhau, tạo dựng một hiện thực hỗn độn của thị giác, xúc giác, cảm giác, ngẫm ngợi, tâm tư. Vừa ở “Người cuộn mình trốn vào bốn bức tường/ hạt mưa thả bầm dập/ lũ kiến càng theo dòng ra biển”, đã đến “Tháng cô hồn/ vọng lời sám pháp/ vong linh chờ cháo thí/ chuông chùa mãn hạ/ bà Thanh Đề chờ vãng sanh”.
Còn bài “Thông điệp chiếc bóng”, sau cả chuỗi “còi tàu gắt gỏng”, “tôi già đi/ bóng tôi ngắn lại”, đến “tàu biển lừ lừ tải nền văn minh nghịch lý”, rồi “biển thành hồ/ tôi thành chiếc bóng”, hóa ra cuối cùng là “Ánh đèn quỵ xuống vỉa hè/ chiếc bóng truyền thông điệp câm…”.
Rồi bài “Thu”, bên cạnh những mướt mải, mênh mang “những hạt mưa tước không gian thành sợi”, “tim thu óng ả/ sóng thu nuốt những khuông chiều”, tác giả lại bứt rứt lên với những là “trở mình lũ dế mèn ngộp nước/quả trứng kiến tha cành ngược/ tim đỗi nhịp/ giật mình chim gãy cành cong”.
*
Có cảm tưởng như nhà thơ, họa sĩ Đinh Minh Thiện nhiều khi không yên lòng từ trong tâm cảm sáng tạo cho đến chính những bài thơ của mình, ngay cả khi đã đặt dấu chấm hoàn thiện, kết thúc. Một trong những bài thơ rất tiêu biểu cho tâm thế này, chính là “Họa sĩ”. Có thể coi đây là một sáng tác thành công của người dấn thân vào “kiếp” văn nghệ sĩ khi viết về chính giới nghề của mình, chính mình hay những kẻ “đồng bệnh” đắm đuối với cái đẹp. Bài thơ tái diễn một hành trình thao tác kỹ thuật, tưởng tượng, suy tư trong quá trình sáng tạo, những trạng thái tâm lý nảy sinh, tâm trạng khi chuyển giao - rời xa tác phẩm của mình… Song hành với quá trình đó, thật là một chuỗi phức cảm. Những khoảng trống rỗng, trống trải xuất hiện không chỉ khi hoàn thành hay chia tay tác phẩm mà ngay cả trong quá trình sáng tác.
Đó là khi nôn nao sợ mình không đủ tài hoa để biểu đạt đối tượng.
Đó là khi mơ hồ bất lực cảm thấy mình không đủ tài năng để nói lên hết những vẻ đẹp, tinh thần thanh cao, ý nghĩa tươi thắm của cuộc đời.
Đó là khi vừa sáng tạo vừa lo sợ về cái lẽ hữu hạn của đời nghệ sĩ, về sự mong manh khi thành quả sáng tạo, tinh hoa nghệ thuật được gửi trao vào cuộc đời, thuộc về tay người đời.
Thật đáng sợ theo những câu thơ cất lên. Khi “Mỗi nét cọ tôi mòn đi một nét” - ấy là đời không đủ; khi “sự hòa sắc có khi nào chưa đủ” - ấy là tài chưa tới; khi “Mỗi nét cọ tôi bỗng thấy trống không” - ấy là nỗi vô định ám ảnh; khi “tranh là những quãng đời ta ký gửi” - ấy là niềm thiết tha ngóng sự đồng điệu; và thật xa xót khi “chẳng bao giờ chẳng bao giờ vẽ hết/ giọt thời gian lặng lẽ gạch đầu dòng…” - ấy chính là nỗi đau của sự nhận ra vẻ đẹp vĩ đại, bao la của tạo hóa mãi cứ luôn ở đằng trước.
Bài thơ “Họa sĩ” như là tuyên ngôn nghề nghiệp của con người nghệ sĩ Đinh Minh Thiện. Cũng là cuộc trình hiện chân dung sáng tạo, là bộc bạch của tâm hồn văn hóa, đạo đức làm nghề. Ám ảnh sáng tạo, ám ảnh nghề nghiệp đó cũng chính là ám ảnh của trách nhiệm lao động nghệ thuật và ý thức nhập cuộc. Nhập vào cuộc đời và nhập vào dòng trôi sóng gió nghệ thuật không khi nào vơi cạn, không khi nào cập bến trọn vẹn. Đó quả là nỗi bâng khuâng dài lâu, trống trải mãi mãi, cũng là niềm hạnh phúc được nếm trải những hân hoan và đắng cay của chuyến đi dài từng bước hoàn thiện tay nghề, tôn lên phẩm chất và tô điểm tâm hồn nghệ thuật của mình. Đinh Minh Thiện còn tiếp tục vượt lên, mong anh bay đến nữa từ những bài thơ bất yên của mình. /.
Ngày 25/4 tại thành phố Hải Phòng, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng với vai trò phối hợp thực hiện của Hội nhà văn và Hội mỹ thuật thành phố đã tổ chức tọa đàm giới thiệu hai tập thơ mới “Bản trường ca tháng Tư” và “Chuông gió 68” của nhà thơ, họa sĩ Đinh Minh Thiện. Nhiều văn nghệ sĩ của thành phố cảng đã chia sẻ những cảm nhận nhiều chiều, thể hiện sự ngạc nhiên, trân trọng những nỗ lực lao động nghệ thuật của Đinh Minh Thiện, ghi nhận những sáng tạo đáng chú ý. Nhân dịp này, nhiều bức tranh theo phong cách tả thực và trừu tượng của anh cũng được trưng bày giới thiệu với người xem, góp phần lý giải về một hiện tượng sáng tạo mới mẻ, độc đáo của thành phố hoa phượng đỏ.

