Khát vọng thành thực - đường đến thơ
Có thể coi bài thơ “Tự bạch” là “căn cước thơ” của nhà báo kỳ cựu Đỗ Quảng khi sinh hạ liền ba tập thơ “Thương lắm Sài Gòn ơi”, “Vui buồn tháng Tư”, “Những lời nói thật”, in liền trong mấy năm gần đây (2022 - 2025). Ba tập thơ gối kề với gần 180 bài thơ là một “con số biết nói”.
Thơ thời cuộc...
“Tôi chỉ là nhà báo/ Chẳng phải nhà thơ/ Quỹ thời gian không còn nhiều/ Dùng thơ ghi lại chuyện đời nhớ quên/ Bài học nhập môn/ Người làm thơ phải biết/ Trước hết có tấm lòng/ Ai đọc tập thơ này/ Có gì không vui/Xin được lượng thứ...” (Tự bạch).

Có thể coi bài thơ “Tự bạch” là “căn cước thơ” của nhà báo kỳ cựu Đỗ Quảng khi sinh hạ liền ba tập thơ “Thương lắm Sài Gòn ơi”, “Vui buồn tháng Tư”, “Những lời nói thật”, in liền trong mấy năm gần đây (2022 - 2025). Ba tập thơ gối kề với gần 180 bài thơ là một “con số biết nói”. Khát vọng thành thực đã là đòn bẩy tạo đà, kích thích nhà báo Đỗ Quảng cầm bút làm thơ, mặc dù “làm thơ ta vốn không ham” so với viết tân văn (báo chí), nhất là thể loại phóng sự đến độ được phong là “cây phóng sự điều tra”. Tôi không rõ Đỗ Quảng có đinh ninh “nghề báo là nghề nguy hiểm” hay không, nhưng tôi dám chắc ông đã vượt qua rất sớm những lăn tăn, e ấp, quan ngại, lúng túng, thăng trầm ban đầu để nhanh chóng lặn sâu vào thực tiễn đời sống theo tinh thần “xuyên văn hóa”. Nói chính xác thì, Đỗ Quảng đã đạt tới mức “thấu thị” đời sống cả trong hai lĩnh vực báo chí và văn chương vì thế đầy ắp một thôi thúc nội tâm không thể không viết.

Vận dụng triết lý lão thực trong đời sống và hành nghề báo, Đỗ Quảng đã tạo cho mảng thơ thời cuộc - thế sự có màu đỏ chói (sáng rỡ) và hơi thở nóng rát (sục sôi) của đời sống
thời mở cửa, trong cơ chế thị trường lộ diện cả hai mặt sáng tối. Con người sống trong hòa bình nhưng chưa nhập tâm hết thanh bình vì những biến thiên có tính chất phi truyền thống của những đảo lộn, khủng hoảng đức tin, tha hóa, phi lý. Nhưng nếu nhà thơ chỉ “cập thời vũ” những mặt trái, khoảng tối, góc khuất, sự tan rã thì bức tranh đời sống dễ có nguy cơ rơi vào màu sắc u ám như “tang thương ngẫu lục”. Loại trừ những kẻ “hỗn ngôn”, “hèn”, “ác”, “tham nhũng” làm hại cho đồng bào mình, dẫu chúng là cả “một bầy sâu” đi chăng nữa, thì nhà thơ vẫn ưu ái, tin tưởng, ký thác, kỳ vọng vào đại đa số người dân lành, áo ngắn, tử tế, lương thiện. Vì thế bài thơ “Đêm tháng năm, viết bài thơ tưởng niệm” có thể coi như là một lưu dấu văn hóa của thơ Đỗ Quảng. Cũng bởi “tột cùng của văn hóa là con người”.
Thơ thời cuộc và thơ nói thật tuy hai nhưng là một, tạo nên căn đế vững chãi trong thơ, đặc biệt ưu trội trong tập thơ thứ ba - “Những lời nói thật”, có thể hiểu như một tuyên ngôn thơ của Đỗ Quảng. Vì thế ông đã viết những bài thơ thật không thể thật hơn như “Thư gửi Elise”, “Gửi người tôi yêu” (Tặng Tổng thống Hoa Kỳ Donanld Trump), “Những lời nói thật”, “Rượu rót đầy ly mà không uống”, “Một mình”, “Tái sinh”... Tập thơ thứ ba của Đỗ Quảng tựa vững trên nền tảng đạo lý “Lời nói thật/ Khai thông vận khí/ Khơi mọi mạch nguồn, thắp sáng niềm tin”. Đó là cách tôn vinh vẻ đẹp của cái đúng có sức chinh phục nhân tâm thời đại khi nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp lộng lẫy của sự thật.
Thơ thấu tình...
Mảng thơ “thấu tình”, như hình dung của tôi, có màu xanh và những hơi thở nhẹ, đôi khi như là những cơn “say nắng” có thể phút chốc làm ai đó bâng khuâng, run rẩy, thậm chí yếu mềm một chút. Nhưng không có hề hấn hay trầm trọng gì, vì “Con người là một cây sậy yếu ớt nhưng là cây sậy biết suy nghĩ” (Pascal). Mảng thơ thấu tình này được ví như cây xanh, cơn mưa, khí trời, nước uống, làn gió mát lành bồi bổ tâm hồn con người rất dễ có nguy cơ khô cằn trong một thế giới kỹ trị, thị trường, kinh tế số, không gian mạng, của những “nhân tai” nhiều hơn “thiên tai”... Tôi chợt nhận ra người thơ này đích danh chính hiệu là một “ông già đa tình”. Có đa tình mới làm thơ hay. Người ta hay nói về “tình buồn” phổ biến. Tất nhiên. Nhưng cũng có những “tình vui”, song le hiếm hoi như một quy luật bù trừ của tạo hóa. Cuộc đời vui hay buồn là tùy vào “tạng người”, nó quy định tạng văn. Tập thơ thứ hai của Đỗ Quảng có tên “Vui buồn tháng Tư”. Vậy thì cơn cớ gì mà ta gọi thơ Đỗ Quảng là thơ buồn hay thơ vui. Nhưng dẫu là buồn thì đó cũng là “nỗi buồn đẹp”, thánh thiện, thân ái, mở lòng vì nghiêng về tình đời, tình người dẫu lắm cung bậc, khi phát tiết thăng hoa, khi “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê” (Truyện Kiều - Nguyễn Du).
Tuy ít hơn về số lượng bài so với mảng thơ thời cuộc - thế sự, nhưng thơ về “nỗi buồn đẹp” của Đỗ Quảng có sức gợi, sức lay động, sức liên tưởng tới những trạng huống nhân tình thế thái, cao hơn đạt tới chiều sâu triết lý nhân sinh. Bài thơ “Người phán xử” nếu chỉ mới đọc nhan đề, cứ nghĩ là thơ thời cuộc - thế sự. Nhưng đọc hết thì lại ngẫm ngợi về cái gọi là “trữ tình riêng tư” với những câu thơ có cái tê buốt của tâm trạng, cảnh ngộ không được “tròn vành rõ chữ”, không được “cơm lành canh ngọt”, không được “trong ấm ngoài êm” giữa các bậc sinh thành đã đổ bóng xuống con cái “Suốt tuần con ở cùng bố/ Thứ bảy, chủ nhật con về với mẹ/ Tuổi lên mười sớm biết/ Phân thân nỗi buồn cắt đôi/ Cái vui chia nửa năm tháng đi tìm/ Câu hỏi/ Lỗi này thuộc về bố hay mẹ/ Thời gian trôi, khi tình yêu đến/ Con là người phán xử, con ơi!”. Hóa ra, cái “ông” Đỗ Quảng bề ngoài trông điềm tĩnh nhưng bên trong sục sôi tràn trề hơn cả trai trẻ khi “Lều tranh một túp, hai trái tim vàng. (...)/ Tình già, không gọi sao em tới/ Thế mới biết tình yêu kỳ lạ quá/ Đừng hỏi, tại sao yêu!” (Yêu). Ai cũng có số phận, nhưng nói lên được bằng thơ thì không phải ai cũng làm được. Đỗ Quảng nhìn trực diện vào nó - số phận - nên đã tự tay viết điếu văn cho mình lúc còn sống theo quy luật “sinh lão bệnh tử”, nào đã ai thoát. Cũng là một cá tính độc đáo “Chẳng cần chuông reo thức/ Dãy đèn vàng bên đường không còn sáng/ Cửa sổ mở toang cho gió ùa vào/ Ngai ngái mùi cỏ, ngai ngái mùi sương/ Ta sống thêm một ngày rồi/ Cảm ơn đời ta chưa chết/ Bạo bệnh ung thư/ Không xạ trị/ Không hóa trị/ Không viên thuốc/ Con gái chăm bố/ Cứ vậy sống/ Bằng niềm tin số phận/ Nhẩm tính từng ngày khi viết điếu văn/ Từng ngày cộng lại/ Tròn nghìn tám trăm ngày/ Đúng sinh nhật.../ Con mua áo tặng bố” (Số phận). Viết được những câu thơ gan ruột như thế là người thơ Đỗ Quảng đã đạt tới tự tại, tự tin, vô ưu của thiền.

Trong tập thơ thứ ba, Đỗ Quảng vẫn duy trì được mạch thơ thấu tình, giữ được ngọn lửa ấm được đốt nóng lên từ tình người “Em bỏ đi/ Rồi em trở về/ Cay đắng phiêu du/ Quá nửa đời người/ Mới ngộ ra lẽ sống/ Sướng khổ hơn thua đâu phải tiền bạc giàu nghèo/ Gia đình, Tổ quốc mới là nguồn cội/ Đầu bạc/ Đến cõi/ Hạnh phúc cuối/ Xin được nằm dưới cỏ ấm đất quê nhà” (Vô đề 2), hay “ Như ai gọi tên tôi trong gió/ Nỗi buồn rất khẽ ta nhớ tới/ Có phải lời gọi cuối một kiếp người/ Sao không thương nhau khi tim còn đập” (Ai gọi),...
Thơ khởi điệu nguồn dân gian
Thơ Đỗ Quảng giàu chất “hiện sinh”, “thế tục”, “dân dã”, “hồn nhiên” về đời sống, con người, tạo vật. Hơn thế, người thơ là một tính cách bộc trực, tiết tháo, mạnh mẽ, can trường, hào phóng, cả trong nghề báo, cả trong nghề văn nên ông tìm “điệu nói” để thơ trực tiếp, nhanh nhạy đến thẳng người đọc, dường như không đi đường vòng, hiệu quả cao, tức thì. Thơ tựa mũi tên đã rời dây cung bay thẳng vút tới hồng tâm. Ngay khi cảm xúc run bật cao độ tác giả vẫn cứ bình tĩnh “nói thơ”, kiểu như: “Già không ngủ được/ Lọ mọ nửa đêm dậy đốt nhang/ Rót tách nước nhạt vái ông bà/ Nhớ hai thằng em kế, hồi Mậu Thân chết trận/ Đứa nằm nghĩa trang, đứa chưa về/ Sông suối bìa rừng, khe núi, đồi cao - còn nằm đâu đó/ Nửa thế kỷ rồi mãi mãi biệt tăm/ Chung số phận hai trăm nghìn đồng đội chưa tìm thấy/ Đợi chờ. Mẹ hà hít ngắm con đôi mắt mờ khung ảnh cũ/ Nỗi đau khóc con khô nước mắt/ Hẹn nhắc lần cuối, hết giặc con về/ Thương mẹ/ Góc sân, đắp ngôi mộ giả/ Cũng bia đá, tên tuổi, ngày chết thuê khắc phố Hàng Chĩnh/ Ngày vui, ngày buồn và những ngày lễ thiêng/ Ngồi bên mộ, vặt cỏ xanh thì thầm chuyện mẹ con/ Chuyện gần, chuyện xa, chuyện cũ mới....Chuyện gì cũng tỏ/ Mộ giả, mẹ tin con nằm đó/ Con tim kết nối, hay nỗi đau tình mẹ mà tin” (Thương mẹ). Bài thơ tôi vừa dẫn toàn văn có thể coi là tiêu biểu cho tính chất “điệu nói” trong thơ Đỗ Quảng.
Vẻ đẹp thơ Đỗ Quảng tuân theo nguyên lý tối thượng “Cái đẹp là sự giản dị”. Đường đến thơ của Đỗ Quảng là đường đến tri âm, tri kỷ với người đọc, đường đến đích “Thơ cốt chơn” (chân) - khát vọng thành thực./.