Kinh thành Thăng Long thời Lê

HNMCT| 08/09/2020 17:03

Sau chiến thắng quân Minh, tháng 4-1428, Lê Lợi từ dinh Bồ Đề vào thành Đông Đô. Ngày 29 tháng đó, ông lên ngôi hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt; năm 1430, vua đổi tên Đông Quan do nhà Minh đặt thành Đông Kinh.

Kinh thành Thăng Long thời Lê
Đình Tảo Sách (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ) xưa thuộc phường Nhật Chiêu, nằm ở phía Bắc kinh thành Thăng Long. Ảnh: Linh Tâm

Thành Thăng Long thời kỳ đầu nhà Lê vẫn là thành Thăng Long thời Lý, Trần. Tuy nhiên, do chiến tranh nên nhiều cung, lầu gác bị hư hỏng hoặc bị tàn phá khiến nhà Lê phải mất nhiều năm xây dựng lại. Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục năm 1474, vua Lê Thánh Tông cho sửa thành, đắp lại những chỗ tường thành hư hỏng, năm 1477 đắp vòng thành bên ngoài (tức thành Đại La).

Năm 1516, Hoàng thành được mở rộng thêm về phía Đông, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đắp thành to rộng mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía Đông đến phía Tây Bắc chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp Hoàng Thành, dưới làm cửa cống...”. Điện Kính Thiên được xây từ năm 1428 nhưng đến năm 1467 làm thêm hai lan can bằng đá chạm rồng. Trước điện Kính Thiên có điện Thị Triều - nơi các quan vào chầu vua. So với thời Lý, Trần thì Cung thành, Hoàng thành và Thị thành thời Lê đều rộng hơn.

Từ triều Lý đến triều Trần, an ninh kinh đô Thăng Long vô cùng nghiêm cẩn nhưng đến triều Lê có nhiều quy định hơn. Nhà Lê lấy hai viên quan võ cao cấp sung chức Chánh phó Đề lĩnh, chuyên trách việc canh phòng giám sát trong toàn kinh thành. Từ năm 1435 đặt ra lệ cấp giấy “lộ dẫn”. Phàm quân và dân ở các lộ muốn vào kinh đô có việc công, buôn bán hay nha thuộc ở kinh đô có việc đi các lộ đều phải do quan trên phát giấy chứng nhận. Ban đêm, các cổng thành đều đóng, ai muốn ra vào phải có thẻ “hành quân phù” lính canh mới mở cửa cho đi.

Năm 1510, vua Lê Tương Dực đặt chức Đề lãnh ở 4 cửa thành. Sử cũ chép: “Đặt chức Chưởng Đề lãnh, Đồng Đề lãnh và Phó Đề lãnh đều dùng chức quan trong hàng võ hàm tòng nhất, nhị phẩm để quản lãnh việc quân ở 4 cửa thành. Phàm những việc tuần phòng, nã bắt kẻ gian, tra hỏi kiện tụng và các việc ngăn cấm hỏa tai, việc cầu cống đường sá đều do viên Đề lãnh đảm nhiệm”.

Ngay từ thời kỳ đầu nhà Lê, trên mặt và ngoài cửa thành, triều đình cho đặt điếm cắt quân canh phòng ngày đêm. Mỗi phường lại lập đội canh tuần làm nhiệm vụ điều tra trong phạm vi từng phường. Việc bảo vệ Hoàng thành và Cung thành được nhà Lê tổ chức vô cùng nghiêm ngặt, phải có sắc chỉ của vua mới được ra vào cửa cấm của hai vòng thành. Kẻ nào lén mang gươm hoặc bất cứ đồ gì bằng sắt, đồng vào khu cung cấm đều bị xử tội chết. Lệ tướng sĩ hộ vệ các quan vào chầu vua cũng được quy định chặt chẽ, mọi người phải chờ ở cổng Đoan Môn, khi có trống mới được vào Cung thành.

Nhà Lê cũng quy hoạch lại kinh thành, từ 61 phường thời Lý, Trần rút lại còn 36 phường. Theo Dư địa chí Nguyễn Trãi viết năm 1435: “Thượng kinh là kinh đô có một phủ, hai huyện. Phủ là Phụng Thiên, hai huyện là Vĩnh Xương và Quảng Đức. Mỗi huyện có 18 phường”. Phường là đơn vị hành chính cơ sở tương đương như xã ở nông thôn. Như vậy, Thăng Long là tên gọi có tính biểu trưng, còn cụ thể về kinh đô, hành chính là một phủ có tên Phụng Thiên. Tuy nhiên, 36 phường đời Lê tên gọi là gì, vị trí địa lý so với thời nay ra sao cần phải tìm hiểu thêm, nhưng 36 phường này có thể chia ra 3 loại, gồm các phường: Nông nghiệp, sản xuất thủ công và buôn bán.

Các phường làm nghề nông hầu như không biến động, thậm chí còn giữ nguyên tên gọi và địa lý cho đến hôm nay. Phía Bắc có các phường: Yên Hoa (nay là Yên Phụ), Quảng Bá, Nghi Tàm, Tây Hồ, Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân). Phía Tây có Xã Đàn, Thịnh Quang, Nhược Công (nay là Thành Công). Phía Nam có Kim Liên, Đông Tác, Quan Trạm. Trong khi đó, các phường sản xuất thủ công và buôn bán xen kẽ với nhau, tập trung chủ yếu ở phía Đông thành, nằm hai bên bờ sông Tô Lịch, và bờ sông Hồng. Có phường chủ yếu buôn bán là Giang Khẩu (sau đổi thành Hà Khẩu) ở cửa sông Tô Lịch chảy ra sông Hồng (nay là Hàng Buồm và Nguyễn Siêu). Vì là cửa sông nên việc buôn bán ở đây nhộn nhịp.

Các phường sản xuất thủ công gồm hai loại, một loại ở khu riêng biệt như vùng Bưởi với Bái Ân, Trích Sài chuyên dệt lụa, gấm, lĩnh. Hồ Khẩu, Yên Thái chuyên làm giấy, Võng Thị trồng hoa và nấu rượu. Cũng trong Dư địa chí, nửa đầu thế kỷ XV, kinh đô Thăng Long đã có các phường sản xuất thủ công nằm lẫn với các phường chuyên buôn bán. 

Các cơ sở sản xuất thủ công bao giờ cũng có cửa hàng bán sản phẩm nên từ thời Lê, Thăng Long đã manh nha xuất hiện các phố (nghĩa là cửa hàng) mang tên “Hàng” sau này.

(0) Bình luận
  • Đình làng Văn Uyên - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa và dấu ấn Đức Thánh Nguyễn Siêu
    Nằm bên dòng sông Hồng, đình làng Văn Uyên (nay thuộc xã Nam Phù, TP. Hà Nội) là nơi nhân dân địa phương thờ Đức Thánh Nguyễn Siêu làm Thành hoàng làng. Trải qua nhiều thế hệ, ngôi đình không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa.
  • Bảo tàng Mỹ thuật ở giữa làng quê (huyện Ba Vì)
    Xứ Đoài là một vùng đất tối cổ - vùng địa văn hoá, địa thi hoạ - nơi mà con người có thể trải nghiệm đời mình trong hệ sinh thái tự nhiên của vùng đất, đi qua những truyền thuyết, cổ tích, để từ đó tạo nên tâm tính, giọng nói đặc trưng của con người xứ Đoài. Nắng và gió, núi và sông xứ Đoài đã gợi cảm hứng sáng tác cho một Tản Đà, một Quang Dũng và nhiều thi nhân, hoạ sĩ: từ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí đến Sĩ Tốt, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... và những thế hệ văn nghệ sĩ sau này, ở họ đều có những sáng tác xuất sắc về xứ Đoài.
  • Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (huyện Phú Xuyên)
    Đi khắp các vùng miền của Tổ quốc, những cựu tù binh Phú Quốc đã sưu tầm kỷ vật, di vật, tranh ảnh có liên quan đến các nhà tù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà đồng đội và các ông đã trải qua. Hơn 20 năm kiếm tìm và góp nhặt, Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, do chính những người cựu tù năm xưa thành lập là những minh chứng chân thực về một thời oanh liệt và hào hùng của dân tộc.
  • Bảo tàng Quê hương phong trào chiếc gậy Trường Sơn (huyệnỨng Hoà)
    Hoà Xá là một làng quê nằm sát bờ tả sông Đáy, thuộc vùng ven chiêm trũng Khu Cháy. Nơi đây sớm có phong trào cách mạng ngay từ những năm 1930, là hậu phương trung thành của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hòa Xá được xem là quê hương của phong trào động viên thanh niên lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và câu chuyện huyền thoại “chiếc gậy Trường Sơn”.
  • Khu Cháy, Bảo tàng Khu Cháy - một địa chỉ đỏ về truyền thống đấu tranh cách mạng ở Ứng Hoà, Phú Xuyên
    “Khu Cháy” là thuật ngữ để nói về một khu du kích trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 22 xã ở phía nam huyện Ứng Hoà và tây huyện Phú Xuyên, Hà Nội.
  • Bảo tàng Tổng cục II (quận Hoàng Mai)
    Toạ lạc tại số 322 đường Lê Trọng Tấn, quận Hoàng Mai, Hà Nội trên khuôn viên rộng 3.500m2, gồm 2 tầng nhà và phần trưng bày ngoài trời, Bảo tàng Tổng cục II hiện lưu giữ 5.830 hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý hiếm gắn liền với cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với chức năng phục vụ công tác nghiên cứu, tham quan học tập, giáo dục truyền thống, Bảo tàng Tổng cục II chính thức được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận nằm trong hệ thống các bảo tàng cấp 2 toàn quân.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giữ “miền sáng” của văn chương
    Những năm gần đây, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với sự nhập cuộc của các cây bút trẻ, sự đồng hành của các cơ sở giáo dục, các đơn vị xuất bản... Tuy nhiên, để “miền sáng” văn chương này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng thì vẫn cần thêm những cơ chế hỗ trợ, những môi trường sáng tạo thuận lợi và trên hết là những tác phẩm đủ sức chạm tới trái tim bạn đọc...
  • Người dân “trẩy hội” tại Bảo tàng Hà Nội xem triển lãm Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Hàng ngàn người dân và du khách chiều 29/6 đã đến với Bảo tàng Hà Nội thưởng lãm triển lãm Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là sự kiện thuộc khuôn khổ Hội nghị Công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư do UBND Thành phố Hà Nội tổ chức đã thành công tốt đẹp vào sáng cùng ngày.
  • Động lực đột phá mở ra giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội
    Nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị công bố quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 diễn ra sáng 29/6, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng khẳng định: “Động lực đột phá từ thể chế, không gian mới từ quy hoạch sẽ là bệ phóng hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô trở thành nơi hội tụ tri thức và công nghệ. Người dân được sống trong môi trường văn minh, an toàn và hạnh phúc”.
  • Hà Nội phân loại 5 mức độ chuyển đổi số đối với chính quyền cấp xã
    Bộ tiêu chí tập trung vào hai nhóm nội dung chính là Chính quyền số và Kinh tế số - Xã hội số, được phân chia thành 5 mức độ từ khởi động đến toàn diện. Quy trình đánh giá hằng năm được thực hiện từ bước đăng ký, tự đánh giá đến thẩm định và công nhận, trong đó ưu tiên sử dụng dữ liệu số trực tuyến và theo thời gian thực.
  • [Video] Phát huy giá trị sen Tây Hồ thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Trong không khí rộn ràng, phấn khởi, tại đình Quảng Bá, phường Tây Hồ, các nghệ nhân, người làm nghề ướp trà sen làng Quảng Bá, đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận danh hiệu Làng nghề truyền thống “Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá” và Nghề truyền thống “Nghề ướp trà sen Quảng An”. Sự kiện là cột mốc có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa hoa sen của vùng đất Tây Hồ mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của một nghề truyền thống giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô, góp sức phát triển công nghiệp văn hoá Hà Nội theo mục tiêu Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đừng bỏ lỡ
Kinh thành Thăng Long thời Lê
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO