Kết quả, ý nghĩa cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Việt Nam
80 năm trước, ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngay sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.

Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội; ban hành Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; ban hành Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử.
Công tác chuẩn bị cho Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài; nền kinh tế - xã hội đến mức hết sức khó khăn. Cuộc Tổng tuyển cử lúc đầu dự kiến là ngày 23/12/1945 nhưng để thực hiện chủ trương thống nhất và hòa giải, có thêm thời gian cho công tác chuẩn bị và các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn, đi vận động tranh cử; ngày 18/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946.
Việc tổ chức Tổng tuyển cử, các ban bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do Ủy ban Nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhiệm. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện cho mình, hạn chế những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức.
Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 6/1/1946: toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.
Kết quả, ý nghĩa lịch sử của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra an toàn.

Tại Hà Nội đã có 91,95% cử tri của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả, có 6 trong số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).
Các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của thực dân xâm lược lúc bấy giờ. Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, thắng lợi đó là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.

Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, thi hành chủ trương của Trung ương về việc tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 6/1/1946, từ tháng 12/1945, Tỉnh ủy Hưng Yên và Tỉnh ủy Thái Bình đã lãnh đạo và tổ chức quán triệt chủ trương của Trung ương mở đợt tuyên truyền cổ động rộng khắp các địa phương trên địa bàn, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc bầu cử. Khắp nơi như một ngày hội lớn, khắp thôn xã, phố phường rực rỡ cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu cổ động cho ngày bầu cử. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta được tự do lựa chọn người vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, từ tỉnh lỵ đến nông thôn, công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc... đều nô nức đi bỏ phiếu.
Số đông cử tri vừa dự các lớp xóa nạn mù chữ cấp tốc, cầm lá phiếu có in quốc kỳ, tay cầm bút, miệng bập bẹ đánh vần, tên các ứng cử viên hiện dần trên mỗi lá phiếu. Ai ai cũng suy nghĩ lựa chọn những đại biểu có đủ đức, tài đại diện cho nhân dân bầu vào Quốc hội. Chị em phụ nữ dưới chế độ cũ bị coi thường, có ai dám đến chốn đình chung, nay dưới chế độ mới, họ được bình đẳng như nam giới, được tự lựa chọn những người bầu vào cơ quan cao nhất của cả nước, ai cũng vui mừng, phấn khởi, xúc động. Những cử tri tuổi cao sức yếu, cố gắng chống gậy hay được người nhà dìu đến nơi bỏ phiếu. Một số nơi, quân Tưởng và tay sai phản động định giở trò phá hoại, nhưng chính quyền và nhân dân ta đã kiên quyết đấu tranh ngăn chặn kịp thời.
Kết quả 90% tổng số cử tri tỉnh Hưng Yên đã đi bỏ phiếu, bầu được 7 đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên thuộc khu vực tỉnh Hưng Yên, gồm các ông, bà: Phạm Quốc Dân, Lương Hiền, Nguyễn Ngọc Xuân, Trịnh Khắc Đông, Bồ Xuân Luật, Lê Xuân Hựu và Cao Thị Khương.
Tiếp sau đó, theo Sắc lệnh 63 của Chính phủ, tháng 4/1946 nhân dân Hưng Yên đi bầu Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân xã. Kết quả 30 đại biểu chính thức và 5 đại biểu dự khuyết đã trúng cử vào Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa I. Hội đồng Nhân dân xã có từ 15 đến 20 đại biểu. Ngày 9/5/1946, Hội đồng Nhân dân tỉnh họp phiên đầu tiên bầu Ủy ban Hành chính tỉnh Hưng Yên. Nhiều xã đã hợp nhất, toàn tỉnh từ 305 xã cũ còn 180 xã mới.
Ở tỉnh Thái Bình, đã có trên 95% số cử tri đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt tới 100%. Ở những vùng có đồng bào theo đạo thiên chúa, việc bầu cử có gặp khó khăn nhưng cũng đã có trên 80% cử tri đi bầu. 13 đại biểu khu vực bầu cử Thái Bình đã trúng với số phiếu cao như các ông: Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Văn Phiếm, Bùi Đăng Chi... Sau khi bầu cử Quốc hội nhân dân toàn tỉnh lại phấn khởi tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh khóa I vào tháng 3-1946. Các cử tri đã lựa chọn được 30 đại biểu chính thức và 13 đại biểu dự khuyết bầu vào Hội đồng nhân dân tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh họp phiên đầu tiên bầu Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình. Toàn tỉnh Thái Bình lúc này có 829 xã, 12 huyện, 1 thị xã.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam. Bên cạnh đó, thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử cũng đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.