Hà thành, đêm trên phố
Bây giờ, Hà Nội trong tôi còn có một khoảng lặng, sâu lắng khó quên, đó là những đêm trên phố cổ. Thoạt nghe, ý niệm ấy có vẻ hơi cường điệu. Bởi vì người ta thường nghĩ về một Thủ đô ngàn năm văn hiến với những nét tĩnh lặng, cổ kính, rêu phong trong ánh nắng ban mai mơ màng buông xuống “ba mươi sáu phố phường”; nên có lẽ, sẽ ngỡ ngàng, nếu ai đó khi nghe thấy nơi này được gọi là “thành phố của những đêm thâu”.

Thế nhưng, chỉ cần một lần thức cùng phố cổ bạn sẽ hiểu vì sao người ta lại say đắm đêm Hà thành đến thế. Khi bóng tối buông xuống và đèn đường bừng sáng, thành phố như trút bỏ lớp áo hối hả ban ngày để sống một cuộc đời thứ hai. Mặt nước Hồ Gươm lung linh trong màn đêm và không gian những khu phố xung quanh cũng trở nên huyền ảo với ánh điện lấp lánh tựa ngàn sao sa của một miền cổ tích. Lặng lẽ theo dòng thời gian, ta sẽ thấy, khi chạng vạng và tiến vào màn đêm, phố phường sôi động, nhộn nhịp bao nhiêu thì khi chìm vào trong đêm sâu lại trở về với những vẻ dịu dàng, tĩnh mịch đáng yêu bấy nhiêu. Chầm chậm và bình tâm lắng nghe nhịp sống diệu kỳ ấy, ta sẽ nhận ra một Hà Nội vừa mang hơi thở trẻ trung của thời đại vừa giữ vẹn nguyên cốt cách lịch lãm, hào hoa vốn có tự bao đời của mảnh đất kinh kỳ.
Trung tâm của phố đêm Hà Nội là Hồ Gươm, nơi khơi nguồn huyền thoại trả gươm thần thiêng liêng trên mảnh đất lắng hồn sông núi ngàn năm; nơi cũng được mệnh danh là lẵng hoa của thành phố, trái tim của thủ đô. Nhớ lại, có lần ngồi ở ban công tòa Hàm Cá Mập, ngắm ngày tàn trên mặt nước xanh màu lục tảo, tôi bỗng nhận ra những nét kỳ diệu từ bức tranh hai mặt của phố phường. Đó là sự giao thoa của thời gian, của cái tĩnh và cái động. Nó được hiện hữu qua những thanh âm, hình ảnh của quá khứ và hiện tại. Đó là những mái nhà màu ngói thâm nâu nằm im lìm trong những con ngõ nhỏ; Tháp Rùa rêu phong, đền Ngọc Sơn cổ kính trầm mặc soi bóng xuống dòng nước thuỷ lục ngàn năm, đang mờ dần theo ánh chiều tà loang trên mặt hồ nhấp nhô sóng gợn. Và đối lập với sự bình yên ấy là nhịp sống hối hả, ồn ào, náo nhiệt của phố phường trong những tiếng xe, tiếng người rộn rã phía bên dưới lòng đường. Đó cũng là sự giao thoa của những sắc màu, của ánh sáng và bóng đêm. Cuối ngày, bầu trời thành phố chuyển dần từ sắc vàng chanh sang hồng cam rồi tím thẫm. Theo đó, ánh mặt trời cũng khuất dần sau những rặng cây cổ thụ già nua trên đường Lê Thái Tổ. Từng vệt nắng tàn lung linh như dát vàng; yếu ớt, rớt xuống và loang trên mặt nước sóng sánh, rồi tan dần vào sắc xanh lấp lánh của các loài tảo lục. Khi màn đêm buông xuống, cả không gian như chìm sâu vào tấm thảm nhung màu đen khổng lồ, đầy huyền bí. Nhưng rồi, như có phép màu đã được sắp đặt, chỉ trong phút chốc, ánh sáng từ các cột đèn cao áp ven đường bắt đầu thắp lên, rồi cứ thế loang dần, giăng lối quanh hồ. Những ô cửa kính từ các tòa nhà cao tầng cũng theo nhau tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp; hòa cùng muôn nghìn tia sáng đèn xe rực rỡ, di chuyển chậm rãi rồi cuộn xoáy thành một dòng sông ánh sáng lộng lẫy trước quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Trên tầng cao ban công, tôi lặng ngắm mặt hồ đang từ từ lột xác trong muôn ngàn ánh điện lung linh hắt ra từ các nhà hàng. Đặc biệt là dải sáng huyền ảo ở đền Ngọc Sơn và Tháp Rùa - thứ ánh sáng màu son, không chói lòa mà bảng lảng tựa sương mờ, như đánh thức được cả những tầng rêu phong cổ kính, khiến cả không gian tâm linh hiện lên như thực như mơ, vừa thâm nghiêm vừa ma mị giữa lòng đêm đất thiêng Thăng Long. Theo đó tôi cũng chầm chậm thả mình theo từng giọt cà phê tí tách và lặng người mơ màng về một Hà Nội xa xưa. Chợt đâu đó trong ký ức thấy vang lên tiếng leng keng của những chuyến tàu điện năm nào, để rồi cứ thế mà nhấm nháp cái hồn cốt nhẹ nhàng, thanh tao của miền đất kinh kỳ thuở trước. Và, cũng chính trong không gian huyền ảo đó, tôi chợt ngộ, hóa ra ta đến đây không chỉ được ngắm nhìn một danh thắng, cái lẵng hoa yêu kiều của thủ đô mà còn được chạm vào từng nhịp đập, hơi thở của trái tim thành phố. Dường như thế vẫn chưa đủ, ta còn được sống lại với cả ký ức một thời đã qua của mảnh đất chứa đầy trầm tích. Thế đấy, một khoảnh khắc chạng vạng bên Hồ Gươm đâu chỉ là bức tranh thủy mặc để ngắm nhìn mà còn là một miền nhớ để ta thương mãi khôn nguôi.

Theo dòng thời gian, khi thành phố lên đèn, Tháp Rùa và đền Ngọc Sơn tựa như hai viên ngọc lung linh, tỏa sáng giữa lòng hồ sao sa tĩnh lặng. Cách đó không xa, các tuyến phố đi bộ quanh hồ và khu phố cổ phụ cận lại mở ra một không gian sống động khác biệt, nhất là vào những ngày cuối tuần. Nơi đây thực sự biến thành những con đường không ngủ. Đêm Hà thành dường như được lấp đầy bằng các tông màu rực rỡ của thế giới ánh sáng lấp lánh, muôn sắc diệu kỳ và hoà cùng những giai điệu khi trầm bổng, du dương lúc lại rộn ràng, náo nức từ các “sân khấu ngàn sao” của các nghệ sĩ đường phố; xen lẫn những thanh âm vui nhộn bất tận của các đám đông trong các khu trò chơi dân gian đang được hồi sinh trên các lề đường. Đắm mình vào cái thế giới ấy, ta có cảm giác rũ bỏ được bao nét trầm mặc của thủ đô lúc hoàng hôn để hòa mình vào một sân khấu khổng lồ ngập tràn năng lượng trẻ trung. Cứ thế mà tôi thấy thành phố của mình lúc này không còn là bức tranh thủy mặc tĩnh tại nữa. Nó đã nhanh chóng chuyển mình thành một đêm hội của những âm thanh, sắc màu và sự gắn kết. Một khoảng trời thênh thang như vừa được gột rửa để trả lại cho màn đêm cái sự nguyên sơ và dịu ngọt. Ở đó, mọi người chẳng thấy còn vương một chút khói bụi hay những tiếng ồn ã động cơ của thường ngày phố thị. Và, ai nấy dường như đều nhận ra, trong sâu thẳm, tiếng lòng của mình đang đồng điệu cùng với sức sống thanh xuân cuồn cuộn dâng trào qua những màn diễn như thể muốn cháy hết mình. Cứ thế, cái nguồn nhựa sống ấy len lỏi qua từng góc phố, kết thành một sợi dây vô hình, trìu mến nối nhịp trái tim bè bạn khắp muôn phương vào chung một nhịp đập để mọi người đều có chung một cảm giác vô cùng ấm ấp, xoá nhoà đi mọi khoảng cách.
.jpg)
Đêm ở phố cổ của Hà Nội trong mắt những kẻ mộng mơ luôn ẩn chứa một sự quyến rũ đến lạ kỳ. Nhớ lại, có lần, sau khi nhấm nháp vị đắng nhè nhẹ của ly cà phê Giảng trên đường Nguyễn Hữu Huân, tôi thong thả dạo bước ra hồ Lục Thuỷ hít thở bầu không khí trong lành, để cho làn gió mát hong khô những suy tư bộn bề. Cứ thế, bước chân thong dong đã đưa tôi hoà vào không khí rộn ràng của những tuyến phố xanh mát quanh hồ. Và ngay trên những lối đi quen thuộc này, tôi chợt vỡ òa khi gặp lại tuổi thơ mình trong các trò chơi ngày xưa. Giống như một thước phim tư liệu bất ngờ được bấm nút quay lại, sống động và nguyên bản, hình ảnh những ngày thơ ấu hiện ra ngay giữa lòng thủ đô cổ kính mà tráng lệ. Những mảng màu ký ức thi nhau sống dậy: tiếng cười giòn tan từ các ô bàn cờ ăn quan, tiếng que chuyền lách cách, tiếng nhảy dây chan chát đập xuống mặt đường hòa cùng tiếng hò reo cổ vũ cho đám đông đang ra sức kéo co, đầy náo động. Rồi ở một góc khác, tôi còn trông thấy những đôi mắt trong veo, tròn xoe đang chăm chú nhìn người nghệ nhân già biến hoá những khối bột màu thành những chiếc tò he vô cùng sinh động. Thế giới kỳ diệu ấy còn có cả những tiếng nói cười hòa cùng nhịp múa sạp rộn ràng, rạo rực đang vang vọng khắp lối. Cứ vậy mà cái không gian bên hồ ấy không chỉ là một điểm dừng chân mà còn là một khoảng lặng thần kỳ, nơi thời gian ngưng lại để quá khứ và hiện tại nhẹ nhàng giao nhau, đánh thức và đong đầy những hoài niệm nguyên sơ, đẹp đẽ nhất trong mỗi tâm hồn. Thế giới ấy quả là một “tấm vé đi tuổi thơ” đầy nhiệm màu, đưa ta về lại với những miền ký ức trong veo, tưởng như đã chìm sâu dưới lớp bụi mờ của dòng đời hối hả.
Đã không ít lần tôi dạo bộ quanh Hồ Hoàn Kiếm để được hoà mình vào cái sân khấu ngoài trời với những đêm nhạc đầy mê hoặc. Trong những khoảnh khắc như thế mà tôi đã nhận ra, đôi khi sự gần gũi, phóng khoáng của thiên nhiên lại đem đến những ngẫu hứng bất tận, khiến cho các nghệ sĩ dạt dào cảm hứng. Trên những đường phố đi bộ thoáng đãng, không khói bụi ấy, bất kỳ góc nhỏ nào cũng có thể trở thành “thánh đường” cho những người yêu thích nghệ thuật. Từ không gian rộng lớn của nhà Bát Giác, khu tượng đài vua Lý Thái Tổ, cho đến các giao lộ Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liệt – Gia Ngư, quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục hay Tràng Tiền Plaza, tôi đã bắt gặp muôn vàn gương mặt nghệ sĩ. Họ không giống nhau ngành nghề, từ chuyên nghiệp đến nghiệp dư, thuộc mọi lứa tuổi nhưng cùng giống nhau niềm say mê âm nhạc. Tất cả cùng chung một nhịp đập đam mê. Có nhóm du ca của giới trẻ, chỉ với vài ba dụng cụ như cây đàn guitar, trống cajon, loa mic đơn giản nhưng họ đã lôi cuốn rất nhiều bạn trẻ, cuốn vòng trong vòng ngoài cùng nhau hò hát, cổ vũ rợp trời. Nhưng cũng có những nghệ sĩ liên kết với nhau thành các câu lạc bộ. Họ đến đây với các dụng cụ biểu diễn chuyên nghiệp hơn. Ngoài những nhạc cụ thông dụng như guitar, piano, trống… còn có saxophone, trumpet, violon, cello, keyboard, đàn bầu, đàn nguyệt, nhị… Cứ thế, mỗi tối, mỗi góc phố giống như được khoác lên mình một màu sắc rất riêng, nơi rộn ràng vũ điệu, chỗ trầm lắng khúc ca, đan xen từ nhạc nhẹ, dân ca cho đến những chiếu ca trù, hát xẩm và những giá chầu văn huyền bí. Họ hát cho nhau nghe, diễn cho nhau xem một cách hết mình. Đã có không ít đêm tôi lặng người trước giai điệu du dương, da diết; khi trầm khi bổng, vang vọng vào màn đêm của các ca khúc “Hà Nội một trái tim hồng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”, “Có phải em mùa thu Hà Nội”, “Em ơi Hà Nội phố”, “Lãng đãng chiều đông Hà Nội”… qua tiếng đàn violon hoà quyện cùng tiếng kèn saxophone… Mỗi lần xuống phố như thế, tôi thấy mình không chỉ được trải nghiệm những cung bậc rung cảm âm nhạc thuần tuý mà còn cảm thấy sợi dây tình cảm của mình ngày càng gắn bó, thắt chặt sâu lặng với mảnh đất kinh kỳ. Và, tôi cũng nhận ra rằng, những “sân khấu ngàn sao” quanh Hồ Gươm ấy không chỉ kết nối những tâm hồn đồng điệu mà còn làm cho du khách mọi miền hiểu hơn về một Hà Nội thanh lịch, hào hoa để cùng thương và yêu nhau hơn. Thế giới âm nhạc ấy cứ thế nhẹ nhàng dẫn lối cho người ta trở về với những miền hoài niệm ngọt ngào và khơi dậy trong tôi những ký ức ngỡ như đã ngủ quên để rồi lan tỏa một tình yêu bất diệt với mảnh đất này.

Thức đêm cùng Hà Nội, ta không thể không đến “phố Tây” Tạ Hiện, nơi được gọi là “Phố bia” hay “Ngã tư quốc tế”. Bên cạnh đó, khu phố cổ ở thủ đô thân yêu của chúng ta còn nổi tiếng với những con đường ẩm thực khác như Hàng Buồm, Mã Mây, Lương Ngọc Quyến, Đinh Liệt… hay những cửa hàng bán quần áo và đồ lưu niệm ở Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Chiếu, Hàng Đường. Những con phố này ban ngày vốn đã náo nhiệt, nhưng khi đêm về, dưới ánh đèn lung linh như muôn vàn ánh sao, chúng lại càng trở nên lộng lẫy và sôi động gấp bội. Ngập tràn trên các tuyến phố ấy là những tiếng cười nói rộn ràng hoà cùng hương vị nồng nàn, ngầy ngậy, ngọt ngào, quyến rũ của khói phở đêm, khoai tây chiên, bò khô, nem nướng vỉa hè … khiến khách phương xa không khỏi níu giữ đôi bàn chân. Trong số những phố đêm ở Hà Nội, tôi thích nhất là Tạ Hiện, một con phố từng được nhiều người nước ngoài biết đến. Phố Tạ Hiện là con đường từ Hàng Buồm thông ra phố Hàng Bạc, cắt ngang phố Lương Ngọc Quyến. Con phố ấy ngắn ngủi, chỉ gần ba trăm mét chiều dài, nhưng lại sở hữu một năng lượng vô tận để được mệnh danh là “phố không ngủ”. Ngay từ chập tối cho đến hai, ba giờ sáng, đoạn đường này lúc nào cũng tấp nập người qua người lại vui chơi, ăn uống. Nơi đây cũng không chỉ là điểm hẹn hò của giới trẻ Việt Nam mà còn thu hút rất nhiều người ngoại quốc đến từ khắp các châu lục. Thật lạ, chẳng có những nhà hàng sang trọng, phần lớn chỉ là quán vỉa hè với các loại bàn ghế đơn sơ, chủ yếu là đồ nhựa nhưng cái “Ngã tư quốc tế” này không khi nào vắng khách. Mọi người đến đây, hoà vào với nhau, không phân biệt quốc tịch hay màu da, vừa ăn uống vừa vui vẻ chuyện trò rôm rả. Đồ ăn thức uống ở đây vô cùng phong phú với các loại rượu, bia, chân gà nướng, nem lụi, nem chua, nem rán hay phô mai que... Trong đó, nổi tiếng nhất phải kể đến bia cỏ và chim cút nướng mật ong. Tôi từng có những đêm hè trên con phố ấy. Nhớ lại, có lần ngồi uống bia và thưởng thức không khí ăn nhậu của những anh Tây ba lô mà tôi nhận ra cái hồn cốt của đêm Hà Nội trên con phố này. Đó là hương thơm của mạch nha ướp lạnh trong các chai bia hoà sủi bọt cùng tiếng hò reo cụng ly trong tiếng nhạc xập xình của “con phố không ngủ”. Có lẽ, mức giá ở đây phải chăng cùng vị trí đắc địa mà các hàng quán luôn chật kín người ngồi. Họ túm năm tụm ba trên vỉa hè, trước cửa nhà một cách rất hồn nhiên và thân thiện. Hình như nhờ cái nét văn hóa này mà phố Tạ Hiện đã trở thành một “viên ngọc” quyến rũ của đêm Hà Thành. Và cũng chẳng biết từ khi nào, trong tâm trí của những “cú đêm” của cả Tây lẫn Ta, nơi đây đã trở thành một điểm đến không thể bỏ lỡ khi khám phá màn đêm của thủ đô Hà Nội.
Dạo bước trong đêm Hà Thành, người ta không tìm thấy cái sôi động, cuồng nhiệt đến quên lối về như phố đêm ở thành phố Hồ Chí Minh; cũng chẳng thấy nét e dè, trầm mặc đến khép mình như bóng đêm xứ Huế. Đêm phố cổ ở thủ đô mang một dáng vẻ hào hoa và nét quyến rũ độc bản, chẳng thể hòa lẫn. Nó nhộn nhịp nhưng không ồn ã; cổ kính, trang nghiêm mà tuyệt nhiên không u tịch, đìu hiu. Đó là một không gian vừa đủ náo nhiệt để cảm nhận được nhựa sống căng tràn, lại vừa đủ khoảng lặng để lắng nghe tiếng vọng của lịch sử thăng trầm. Nói cách khác, phố đêm ở mảnh đất kinh kỳ này chính là bản giao hưởng hoàn hảo, nơi dòng chảy hiện đại hòa quyện nhịp nhàng cùng chiều sâu văn hóa ngàn năm của đất Thăng Long cổ kính./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.