Điều chưa biết về làng cổ Bình Vọng cận kề thành Thăng
Làng cổ này ngày xưa rất nổi tiếng nhưng thời nay ít người biết đến, đó là làng cổ Bình Vọng, cận kề với kinh thành Thăng Long. Thượng tá Công an Trần Đình Hưng là anh trai làng Bình Vọng, về thăm quê hương đúng vào ngày làng có việc: ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm.

Ngồi cùng xe, anh tranh thủ giới thiệu: Bình Vọng là một làng cổ, có nhiều dấu tích lịch sử gắn với chiến công hiển hách. Thời Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông mạnh nhất thế kỷ XIII ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết trước khi tiến về giải phóng kinh thành Thăng Long. Nơi Quang Trung tập kết quân để đánh đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi. Làng có tới ba vị Thần từ thời Lê đã xét phong tặng là “Thượng đẳng Thần tối linh”. Tướng quân Trần Nhật Duật là một trong ba vị thần linh thiêng đó. Một sự trùng hợp lý thú: Kinh thành Thăng Long có 5 cửa ô thì Bình Vọng có 5 cổng làng với 5 con đường khá rộng dẫn khách vào tận cửa Đình và Chùa Bình Vọng. Muốn hiểu rõ hơn, Hưng sẽ dẫn anh đến gặp Đại tá Lương Văn Tăng. Thời chiến tranh chống Mỹ, ông công tác tại Bộ Tư lệnh Thông tin. Ông Tăng cũng tuổi Canh Thìn như anh (1940), ông là một pho sử sống của làng Bình Vọng. Ông nghiên cứu chuyên sâu, viết lịch sử làng cổ Bình Vọng khá chi tiết với cách nhìn khoa học, biện chứng, dựa trên sử sách qua các triều đại, trích dẫn những điều nhà nghiên cứu văn hoá lớn, đại thi hào Nguyễn Trãi từng viết trong sách “Dư địa chí” về làng Bình Vọng.
Cuộc đối thoại với nhà giáo - Đại tá Lương Văn Tăng
Trước hết tôi với ông cùng tuổi Canh Thìn (1940) cùng làm nghề giáo, trước khi bước vào cuộc đời binh nghiệp và cùng trở thành nhà báo.
- Sinh ra từ làng Bình Vọng, ông nói gì về quê hương mình đi chứ?
Ông cười, gật đầu và đôi mắt nhìn xa xăm:
- Bình Vọng quê tôi chắc chắn là một làng cổ, rất cổ, có từ thời tiền Thăng Long. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”: Bình Vọng thuộc tổng Hà Hồi, phủ Thường Tín, mà phủ Thường Tín nguyên là đất quận Giao Chỉ (đời Hán). Bình Vọng đến hôm nay vẫn là một quần thể Di tích lịch sử, cảnh quan kiến trúc, Văn hoá Nghệ thuật gần như còn nguyên vẹn, có thể trở thành điểm du lịch khá hấp dẫn, lại gần kinh thành Thăng Long. Đi trên đường hoặc từ trên cao nhìn xuống, cảnh quan Bình Vọng vẫn vô cùng đẹp. Các cụ cao niên của làng thường truyền tụng từ đời này qua đời khác, tự hào về quê hương mình và nhắc nhủ con cháu: Bình Vọng quê ta nằm trên thế đất “Quần sơn la bái”. Tương truyền, một lần cụ Tả Ao, người nổi tiếng về xem phong thuỷ, đi qua làng đã nói: “Bình Vọng tựa như vân tàn. Thế địa linh tất sinh nhân kiệt!”
Quả là như vậy. Chùa Bình Vọng có từ thời Lý, sớm nổi tiếng là linh thiêng. Chùa có nhiều công tích giúp cho “Quốc Thái-Dân an” nên được vua ban cho bốn chữ: “Hiển linh báo quốc”. Tại toà thượng điện vẫn còn một bức hoành phi sơn son thếp vàng có 5 chữ: “Quốc tự thanh danh cổ” (Chùa của quốc gia có tiếng đã từ lâu). Trong chùa vẫn còn tấm bia “Bình Vọng Tự bi văn” do Tiến sĩ Nguyễn Tư Hiền soạn năm Cảnh Hưng thứ 41 (1789) ghi rõ “Chùa Bảo Quốc có từ thời Lý, rất linh thiêng, từng âm phù giúp nước an dân”.
Tọa lạc bên cạnh chùa là đình Bình Vọng. Theo văn bia ở Đình, được tạc vào năm Vĩnh Tộ thứ ba (1613): Đình Bình Vọng được xây dựng từ thời Lê. Trong cuốn thần phả ghi sự tích của ba vị thần được tôn thờ là “Thành Hoàng làng” có sắc phong là “Thượng Đẳng thần”. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến một vị thần có liên quan đến sự kiện lịch sử chống ngoại xâm, đó là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Trần Nhật Duật (1253-1330) là con thứ 6 của vua Trần Thái Tông-người có công lớn, cùng với Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Trần Quang Khải chỉ huy quân dân nhà Trần ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, được vua phong là “Thái uý Quốc công”.
Năm 1285, trên đường ra trận, Ngài cho quân sĩ trú quân tại Linh Từ Bình Vọng, làm lễ cầu đảo tại chùa. Đêm ấy, “Ngài nằm mơ thấy Thần phù giúp, ắt thắng to!”.
Quả nhiên, trận ấy thắng to thật. Quân dân nhà Trần đã đánh bại quân Nguyên ở cửa Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, từ đó tiến lên giải phóng kinh thành Thăng Long.
Trong tài liệu khảo tả của Bảo tàng Hà Tây được biết nơi đây vẫn còn dấu tích một con đường chính đạo rộng lớn. Hai bên là hai hàng cây muỗm cổ thụ, xếp thẳng hàng, dẫn vào khu trung tâm đất rộng, bằng phẳng trước cửa Đình và Chùa. Phải chăng đây là nơi đặt bản doanh tập kết quân, luyện tập và lập đàn cầu đảo trước lúc xuất trận.
Khi người mất, dân làng thấy hiển linh, làm sớ tâu vua Trần, xin được tôn thờ Ngài. Triều đình phê chuẩn, cho phép dân làng Bình Vọng lập miếu thờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật được đèn hương cúng tế hàng năm.
Sự kiện lịch sử thứ hai chưa được ghi chép trong chính sử nhưng qua các cụ già truyền lại từ đời này qua đời khác rằng: “Vua Quang Trung, Ngài đã từng tập kết đại quân ở đây”. Cạnh làng hiện còn các địa danh như “Đình thượng”, “Đình hạ”, “Nhà giáo” (nơi để vũ khí)... Rất có thể vùng đất rộng trước cửa Đình và chùa Bình Vọng là nơi tập kết, luyện tập và xuất quân? Đường chính đạo có thể là con đường lớn để ngài duyệt đội quân danh sự. Trong sân Đình còn dấu tích chỗ để voi, ngựa. Các cụ còn truyền lại rằng: khi nghe tiếng chuông chùa Bình Vọng ngân vang, ngài nhận định: Đây là hiệu lệnh của thần linh và tức thì phát lệnh xuất quân tiến đánh Hà Hồi, Ngọc Hồi và chiến thắng vang dội đã làm cho quân Thanh hoang mang cực độ. Để tạ ơn thần linh, ngài đặt tên chùa Bình Vọng là “Chùa Báo quốc”!
Và cũng từ đây, đại quân Quang Trung Nguyễn Huệ tiến về giải phóng kinh thành Thăng Long vào ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu-1789. Ngài cưỡi voi đi giữa kinh thành và mặc áo hoàng bào còn ám mùi khói súng.
Bình Vọng - Một làng quê sớm phát triển kinh tế và văn hóa
Vào thế kỷ XV, Bình Vọng có đặc sản rượu sen, rượu cúc là loại rượu ngon nhất nước dùng để “Cung tiến vua”, được Nguyễn Trãi ghi trong sách “Dư địa chí”. Thế kỷ XVII, Bình Vọng nổi tiếng là đất tổ nghề vẽ sơn thếp, do Tiến sĩ Trần Lư truyền dạy cho dân làng. Trần Lư đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Tuất (1502) niên hiệu Cảnh Thống thứ 5, đời Lê Hiến Tông (1498-1564), làm quan đến chức Hiến sát sứ. Hai lần được nhà vua cử đi sứ Trung Hoa thành công, Trần Lư còn nắm bắt được bí truyền của nghề vẽ sơn thếp, về truyền nghề cho dân làng và nhiều địa phương khác. Dưới ngọn bút tài hoa của Trần Lư đã làm cho nhiều đồ vật trở nên có hồn. Cụ “vẽ Rồng như đang bay”, “Vẽ Phượng như đang múa”. Nhiều đền đài, dinh thự, cung điện của Thăng Long được những thợ sơn tài hoa làng Bình Vọng trang trí, tô điểm thêm vẻ uy nghi tráng lệ. Hơn 100 năm sau Bình Vọng lại có cụ Lê Đình Vịnh (1665-1726) làm quan đứng đầu cục Hoạ (tương đương với chức Giám đốc xưởng Mỹ thuật quốc gia ngày nay) dưới triều Lê Huyền Tông, niên hiệu Cảnh Trị (1663-1671). Cụ Vịnh được giao trông coi việc sơn thếp và sửa sang các dinh thự, cung điện, đền đài ở kinh thành Thăng Long.
Từ xa xưa, Bình Vọng đã có chợ Bằng rất nổi tiếng. Qua văn bia chùa Bình Vọng: Chợ Bằng được xây dựng và mở rộng từ triều Lê Cảnh Hưng (1740-1786). Trong văn bia “Bình Vọng thị minh văn” soạn năm 1780 và sách “Đại Nam nhất thống chí” nhận xét: “chợ Bình Vọng ở huyện Thượng Phúc phố xá đông đúc, là một chợ lớn trong phủ Thường Tín, tục gọi là “Chợ Bằng”. Những năm đầu thế kỷ XX, nhất là khi đường quốc lộ số một và đường sắt Bắc-Nam thông thương thì chợ Bằng càng phát triển, có thêm cả chợ bán trâu bò, buôn bán lợn, gà, vịt...Trong các phiên chợ chính họp ngày mồng ba và ngày tám âm lịch hàng tháng, nhiều sản vật quý từ Thanh Hoá, Nghệ An, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai, Lạng Sơn, Móng Cái...được chuyển về bày bán ở chợ Bằng, đủ biết chợ Bằng xưa lớn và buôn bán sầm uất biết nhường nào!
- Nhưng chợ Bằng ngày nay chỉ còn trong ký ức, phải không cụ Tăng?
- Đúng vậy, do nhiều nguyên nhân: do chiến tranh, sự chuyển vùng kinh tế, do tổ chức hành chính và hình thái xã hội nên chợ Bằng cũng chỉ “Vang bóng một thời” mà thôi.
- Tôi muốn trở lại lời tiên tri của cụ Tả Ao và đôi lời bình luận của nhà giáo, nhà báo, đại tá Lương Văn Tăng?
- Lời cụ Tả Ao nếu có thì quả là linh nghiệm. Trong lịch sử thi cử qua các triều đại, Bình Vọng có nhiều người học rộng, tài cao. Tiêu biểu là 5 vị thi đỗ đại khoa, được nêu tên trong bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám, đó là Trần Lư, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Tuất (1502); Nguyễn Hữu Đăng, đỗ Tiến sĩ năm Đinh Mùi (1667); Lê Nguyên Thường, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772); Lê Thông Quang, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Ngọ (1822) và Nguyễn Tông (Nguyễn Trữ), đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1829).
Ngày nay nhiều người con của quê hương Bình Vọng đã trưởng thành, trở thành cán bộ cao cấp, những nhà khoa học, Giáo sư Tiến sĩ như: Anh hùng quân đội, Giáo sư Tiến sĩ-Thiếu tướng Lê Thế Trung. Ông Phan Hiền, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ông Trần Huy Chương, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Campuchia, ông Nguyễn Văn Tâm, nguyên uỷ viên BCH TW Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Hà Tây...
Toàn thôn hiện nay có 12 Giáo sư Tiến sĩ, phó Giáo sư Tiến sĩ khoa học, trên 20 cán bộ cao cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, còn sinh viên đại học thì nhiều, rất nhiều.
Cuộc đối thoại giữa tôi với Đại tá Lương Văn Tăng đôi lúc bị gián đoạn, thiếu tập trung bởi sáng sớm mai ông Tăng còn giữ chức Trưởng Ban tổ chức lễ mừng thọ các cụ cao tuổi làng Bình Vọng. Toàn thôn có trên 100 cụ từ 70 tuổi đến 102 tuổi. Hai cụ bà là Hoàng Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Thị Tý đã 102 tuổi nhưng mắt vẫn tinh, tai vẫn thính. Kết thúc lễ mừng thọ trở về, tôi hỏi cụ Nguyễn Thị Tý: “Hồi còn trẻ cụ đã thấy hàng cây muỗm, cây sấu và cây cầu cổ này chưa?”. Cụ cười móm mém, phát âm có phần thều thào: “Những cây muỗm, cây sấu và cây cầu đã có từ lâu. Đời cha mẹ tôi khi còn trẻ cũng đã thấy hàng cây muỗm, cây sấu và thường ra chơi ngồi trên chiếc cầu này rồi?”.
Câu trả lời của cụ Tý thật vô giá. Chưa có sự xác định bằng khoa học để xác minh độ tuổi của cây nhưng qua câu trả lời của mẹ và căn cứ vào sự khảo tả di tích của Bảo tàng Hà Tây cuối thế kỷ trước đã từng nhận định: “Hàng cây muỗm và cây sấu cổ thụ làng Bằng (Bình Vọng) ước chừng đã vài trăm năm” cùng với sự sống hiện tại của chúng là có lý.
Thấy tôi có vẻ hài lòng về buổi làm việc, ông Tăng cười và gặng hỏi:
- Vậy còn điều gì băn khoăn nữa, hỡi ông Hoàng nhà báo?
Tôi muốn hàng cây muỗm, cây sấu cổ thụ làng Bình Vọng trở thành "hàng cây di sản"
Cả hai chúng tôi cùng bắt tay nhau vì đều có chung ý nghĩ như vậy!
Hàng cây cổ thụ làng Bình Vọng là chứng tích cuộc chiến tranh chống quân xâm lược. Tán cây của nó đã từng che mát cho những đoàn quân, chứng kiến những đoàn quân ra trận, đã từng mang hơi thở, nghe giọng nói hào sảng của vị Hoàng đế Quang Trung, tiếng hô của những ông tướng, khi thực thi chỉ lệnh của vua, chỉ huy quân tiến đánh Hà Hồi, Ngọc Hồi và tiến về Thăng Long kết liễu 29 vạn quân Thanh đúng ngày mồng 5 tháng giêng tết Kỷ Dậu-1789.
Hàng cây cổ thụ ấy từ đời này qua đời khác nó mang lại không khí trong lành làm tăng sức khoẻ và tuổi thọ cho con người Bình Vọng. Người Bình Vọng coi chúng như những người bạn thân thiết, luôn bảo vệ nó nên nó đã sống thọ đến ngày nay, vẫn sum xuê, đơm hoa kết trái. Hai cây muỗm già lụ khụ ở đầu cầu là hai chiếc ô khổng lồ che mưa, che nắng cho cây cầu, giữ gìn cho cây cầu tăng thêm tuổi thọ.
Tôi ngắm nhìn cảnh quan thiên nhiên, cụm di tích: Đình và Chùa Bình Vọng, đền thờ tướng quân Trần Nhật Duật, chiếc cầu cổ còn nguyên vẹn, đặc biệt là hai hàng cây cổ thụ vẫn xanh tươi, đang trổ hoa và soi bóng xuống con cù, ao đình Bình Vọng mà giật mình nghĩ đến mới năm trước, có kẻ đắp tâm ra lệnh “Hạ sát” hàng nghìn cây cổ thụ ở thủ đô Hà Nội làm chấn động dư luận một thời nhưng lại mừng vì hàng cây cổ thụ làng Bình Vọng vẫn nguyên vẹn.
Thiết nghĩ, đã đến lúc chính quyền và nhân dân Bình Vọng cần lập hồ sơ đệ trình Unesco xin công nhận quần thể cây cổ thụ Bình Vọng là “Hàng cây di sản”.
Nên chăng, nhà giáo, nhà báo, Đại tá Lương Văn Tăng cần chấp bút viết một cuốn sách về “Làng Bình Vọng” quê mình cho thoả những ngày bỏ công sức trí tuệ ra nghiên cứu, sưu tầm hàng chục năm qua.
Ngài đại tá Lương Văn Tăng cả cười và bắt tay tôi thật chặt để chào tạm biệt! Nhưng rất tiếc rằng cuốn sách được in xong, cụ Tăng đã đột ngột ra đi./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Hoàng Kim Đáng. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.