Lý luận - phê bình

Cảnh và tình trong thơ Nguyễn Trọng Nghĩa

Nhà thơ Vũ Xuân Hoát 07:08 17/09/2025

“Chuyện hàng rào có hoa” đã mở ra một viễn cảnh giữa bề bộn của cuộc sống nơi hàng rào đầy tĩnh lặng. Sự sống cấp tập, chen lấn. Nhưng trong chớp mắt, một khoảng không ùa ra, tua tủa những mầm tươi nõn ngỡ như từ một thế giới khác hiện hình, thẳm xa hừng lên. Thảng thốt trước màn ảnh sân khấu khổng lồ, ngần sáng, các cảnh sắc và các nhân vật chính diện cứ tự nhiên hoá tình, đánh thức kỷ niệm, tưởng như trong cổ tích bước tới.

Bài thơ được tác giả lấy làm tiêu đề cho tập thơ gồm ngót nghét bảy chục thi phẩm thơ văn xuôi. Đây là một trong nhiều bài thơ hay, đặc sắc, đậm hồn cốt Việt, giàu nhịp điệu; mỗi chữ đứng riêng một vị trí, mỗi chữ một vần, tạo câu thơ có nhiều vần. Hoa cứ nở theo mùa, bén rễ hàng rào, lớn lên; người cứ sớm khuya chăm bẵm. Sum vầy và chia ly… thảy đều được thơ phác họa đậm nét. Hương ở đâu đó không nhìn thấy nhưng phả thơm. Thơ Nguyễn Trọng Nghĩa là một thứ hương mang cảnh tình riêng - vừa thấy vừa không, xao động chất miền. Gợi. Thưởng ngoãn mùi vị dịu dàng, nũng nịu, thoát tơ: “… Tiếng gà nào cục tác“.

1.jpg

Sân khấu hàng rào, rất nhiều loài hoa, rù rì cánh ong tìm đến, khiến người thơ hình dung, giả định: “Khóm hoa dại đâu như nhà hàng xóm. Bên ấy có cô gái tuổi mới lớn. Tròn xoe mắt nhìn qua hàng rào có hoa“. Hoa (cảnh) - hương (tình). Nhà thơ tả những trạng thái khác nhau, hòa quyện nhau… Tâm diễn trong một Sát-na. Ở đấy lưu giấu điều giản dị: “Chỉ có hoa biết được. Lời tỏ tình mùa xuân“. Thơ lấy tình làm gốc. Nguyễn Trọng Nghĩa đem tới chất tình mới lạ. Thật mới lạ, hiếm gặp ở dòng thơ lâu nay: “Hàng rào có hoa, đẹp như cổ tích. Hoa hồng leo sóng sắt mời chào. Nụ chúm chím, chen cùng mắt lá. Có một bông đang nở, tít trên cao… Những hàng rào có hoa, gặp đâu đó một lần. Để nhớ về giậu mùng tơi ngày xưa hái quả tím làm mực. Đêm về, nắn nót trên trang vở ô-li, chuyện hàng rào có hoa…” (Hàng rào có hoa)

Thơ Nguyễn Trọng Nghĩa được làm bằng cảm giác tự thân từng trải nghiệm. Mỗi bài một khúc đoạn trường, một cách biểu đạt thông qua con mắt của người nghệ sĩ, ẩn chứa, hướng nội. Hà Nội xưa nay kỳ ảo lắm thay: “Hà Nội ở trên cao, nhuộm màu cổ kính. Cột cờ rêu phong. Sương phủ mặt hồ. Gió nắng thênh thang lô xô mái ngói. Văn Miếu dưới kia ai đó đọc thơ…” (Hà Nội ở trên cao)
“Thu gõ cửa“ là một cách nói sáng tạo. Trời đất đổi mùa. Lá và lá bay theo chiều linh cảm, hàm chứa những hình ảnh bất giác đến sững sờ. Thơ tạo dựng sắc, thanh (sắc diện và giọng nói). Thốt gọi mở ra sự trong trẻo, tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng thôi xao, giàu biến động. Nhà thơ khẳng định: “Rồi lá lại xanh thôi/ Cái quy luật của đất trời/ Có cuộc hẹn mà em không đến/ Có heo may buồn/ Và có giấc mơ xa“ (Rồi lá lại xanh thôi)

Thơ Nguyễn Trọng Nghĩa là thơ trở về nguồn cội, thơ của mạch thẳm của thổ nhưỡng, của hoàn cảnh nơi sinh thành, dưỡng dục. Thơ ghi dấu về cảnh sắc, tình nhân thế… rất nhiều bài, nhiều câu thơ hay về Hà Nội, về bốn mùa (nhiều nhất vẫn là mùa thu). Tình mẫu tử, xóm giềng, gia đình, bè bạn cũng rất cảm động: “Mẹ ơi, mai là ngày của mẹ/ Con thắp nén hương trầm và nhớ mẹ nhiều hơn“ (Mai là ngày của mẹ)

Tôi chọn ra một bài thơ mà tôi cho là hay nhất trong tập này, bởi nhìn ở góc độ nào cũng thấy hiển hiện phẩm chất nghệ thuật, bóng dáng của thời đại. Cách biểu đạt rất lạ, cũ và mới đan kết. Câu hỏi đặt ra khó giải mã… thay đổi biến theo cơ chế thị trường, thời cuộc:
“Nơi cũ bây giờ/ Cỏ thảm/ Xanh rêu/ Người qua lại/ Không lót dép ngồi bệt/ Cá lặn sủi tăm/ Phao câu vờn nước/ Nơi cũ bây giờ/ Không người yêu nhau”

Nơi cũ bây giờ/ Thảm cỏ/ Rêu xanh/ Bằng lăng vẽ lên trời hoa tím/ Tím một thuở, một thời hò hẹn/ Một thời đi yêu người yêu nhau.
Nơi cũ bây giờ nào có còn đâu/ Đêm… không tối đèn/ Ngày… không góc vắng/ Nơi cũ bây giờ/ Đâu còn tĩnh lặng/ Đâu còn như ngày ta yêu nhau…” (Nơi cũ bây giờ)

Bạn đọc sẽ tìm thấy, khám phá, chiêm ngẫm… đặng thấy mình trong mỗi câu thơ đặc trưng Nguyễn Trọng Nghĩa.
Thời vội vã và chậm rãi lắng đọng trong thơ Nguyễn Trọng Nghĩa ở bài “Khi đứng tuổi ta bỗng nhiên chậm lại“. Con người ở tầm tuổi nào đó mới đủ cảm suy, nghĩ tưởng điều này:

“Khi đứng tuổi ta bỗng nhiên chậm lại.
Từ bước chân, đến nhịp thở mỗi ngày.

Có những lúc, ngay cả trong giọng nói. Cũng không còn rõ tiếng thuở trẻ trai…/ Mỗi khi gặp điều chướng mắt, nghịch tai. Ta ngoảnh mặt quay đi, không nghe nữa. Quên ưu phiền, nghĩ về điều tử tế. Gom trong ngày lấm bụi những niềm vui./ Nhặt nhạnh xung quanh tiếng hát, nụ cười. Thả lòng mình cùng cỏ cây hoa lá. Vùi đầu vào những sách xưa, chuyện cũ. Ngược về ngày rất xa riêng với mình thôi…/ Ta hồn nhiên cùng cháu gái, cháu trai. Chúng hay hỏi những điều đơn giản nhất. Không vướng bận hơn thua, hay được mất. Giúp ta sống nhẹ mình mỗi sớm mai./ Khi đứng tuổi ta bỗng nhiên chậm lại. Chậm cả khi buồn, chậm cả lúc vui. Và cứ thế, ngày mỗi ngày ta sống. Là mỗi ngày an nhiên, lặng lẽ trôi…“ (Khi đứng tuổi ta bỗng nhiên chậm lại)

Cảnh và tình là đây chứ đâu xa, gần gũi, thân thiết. Tưởng không có gì mà lại có… Cỏ muôn đời ngời xanh trước ta, cỏ từng ngấm bao vạn nỗi người, bao kiếp vạ, những đắng ngọt mưu sinh, mát mềm, nâng đỡ bước trường. Cỏ mang riêng thân phận cỏ: nhỏ nhoi, cao vợi, cựa mầm vạn ý niệm. Con người trước thiên nhiên, trước chiến tranh, dịch bệnh. Vì sao không có gì! Thơ lẩy diệu, khoát luận về cách sống, cách tìm, vượt thoát mọi hoàn cảnh của tư duy logic, tính phi lý của thi ca…

“Không có gì, chỉ có cỏ. Và có người trồng cỏ mà thôi. Khi gặp những bàn tay, cả ớt cay cũng ngọt. Cả hoa cà cũng tím, chào mời.
Không có gì, chỉ có con thuyền nhỏ mồ côi. Đến gió cũng ngập ngừng chậm thổi. Chỉ có cỏ rất xanh và bối rối. Cho dù không có người.

Không có gì, chỉ có lá vàng rơi. Giẫm lá sợ lá đau, một thời nghĩ thế. Đâu biết, lá rụng gọi mầm xanh nơi cỏ. Lá chỉ đau khi chậm vào mùa.

Mai rồi về lại với phố xa. Rồi lại nhớ nơi không có gì, chỉ có cỏ. Nhớ con thuyền không người, không bến đỗ. Bao giờ lại cỏ, cỏ ơi…” (Ở nơi chỉ có cỏ)

Không thể điểm xuyết hết những gì có trong tập thơ này, nhưng có thể khẳng định: nó thật lay động, đa chiều, nhiều thể thơ, không lặp lại. Thơ Nguyễn Trọng Nghĩa giàu hình ảnh liên tưởng, ngổn ngang Sự - Lẽ - Tình và đôi khi dự báo: Sẽ…

Một tập thơ mới về hình thức, phong phú về nội dung. Rất đáng tìm đọc./.

Bài liên quan
  • Khám phá 54 sắc màu văn hóa trong "Chung một ngôi nhà"
    Nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (2/9/1945 – 2/9/2025), Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu ấn phẩm đặc biệt “Chung một ngôi nhà – Atlas 54 dân tộc Việt Nam” do tác giả Võ Thị Mai Chi biên soạn, họa sĩ Hồ Quốc Cường minh họa. Cuốn sách mang đến cho độc giả cái nhìn sinh động về văn hóa và đời sống tinh thần phong phú của 54 dân tộc, đồng thời là hành trang tinh thần giúp thế hệ trẻ gìn giữ bản sắc, nuôi dưỡng tình yêu quê hương và tự tin hội nhập quốc tế.
(0) Bình luận
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
Cảnh và tình trong thơ Nguyễn Trọng Nghĩa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO