Nhớ anh tôi!
Anh thứ hai của tôi - Phạm Huy Thơ sinh ra ở một vùng quê ven sông Hồng (thôn Tử Lý, xã Đông Ninh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trước đây; nay là xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên). Tuổi thơ của anh em chúng tôi lớn lên giữa thiếu thốn đủ bề. Nhà đông con, ruộng ít, năm nào nước sông dâng cao là cả làng lại trắng đồng. Cái đói, cái nghèo không phải điều gì ghê gớm bởi chúng tôi quen với nó từ thuở nhỏ.
Nhưng chính trong những tháng năm gian khó ấy đã rèn giũa cho anh em tôi sự bền bỉ, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ. Mẹ tôi kể, khi anh mới hai tuổi thì cha tôi đi bộ đội (ông gắn bó với quân ngũ từ năm 1962 cho tới khi về hưu với quân hàm Trung tá, giữ chức Phó Hiệu trưởng trường Cơ yếu Quân đội). Ở hậu phương, mẹ tôi cũng tham gia du kích, tham gia hội phụ nữ. Bà từng là Chủ nhiệm Hợp tác xã, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Đông Ninh liên tục 3 nhiệm kỳ cho tới khi nghỉ hưu.

Bố đi xa biền biệt, mẹ bận công tác địa phương nên hằng ngày anh vừa đi học, vừa phụ mẹ việc đồng áng và nuôi dạy các em. Anh khỏe mạnh, nhanh nhẹn, học giỏi và rất tháo vát. Nhà thiếu ăn, anh biết bắt cá, bắt tôm những mùa nước nổi để thêm bữa cho cả nhà. Trong năm anh em, anh là người hay lam, hay làm, luôn vui vẻ lạc quan và cũng là người mang lại tiếng cười nhiều nhất cho gia đình.
Anh cả tôi (Trung tướng Phạm Huy Tập), anh Phạm Huy Thơ và tôi học chung một trường cấp ba, cách nhà hơn bảy cây số. Không có xe đạp, ngày nào anh em chúng tôi cũng đi bộ đi học. Mùa đông rét cắt da, mùa hè nắng cháy lưng, nhiều hôm đói đến lả người nhưng anh chưa bao giờ kêu ca, phàn nàn.

Hết cấp ba, anh thi đỗ Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Hưng rồi được phân công về dạy học tại Trường THCS Long Xuyên, Cẩm Bình, Hải Hưng (cũ). Cuối năm 1980, anh nhập ngũ. Trong quân đội, anh tiếp tục làm công việc gắn với giáo dục, trở thành giáo viên Trường Văn hóa Quân đoàn 2. Sau khi ra quân, anh về làm giáo viên của huyện Khoái Châu, từng đạt giải Nhất giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh đồng thời tham gia phụ trách công tác Đoàn - Đội nhà trường. Từ đó, anh được điều động làm công tác Đoàn, lần lượt giữ cương vị Phó Bí thư Huyện đoàn Châu Giang, Hải Hưng; chuyên viên, trưởng phòng Tổng hợp, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tiếp nối sau đó, anh đảm nhận các vị trí: Chánh Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Ban Tôn giáo Chính phủ. Dù ở đâu, trên cương vị nào, anh đều làm việc hết mình, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trở thành giáo viên, anh mang theo khát vọng trao truyền tri thức cho học trò, để các em trưởng thành và góp sức xây dựng quê hương, đất nước. Trong vai trò người chiến sĩ, nhà giáo, anh luôn rèn luyện phẩm chất bộ đội cụ Hồ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, sống giản dị, khiêm nhường. Những năm công tác tại Trung ương Đoàn, rồi sau này ở Ban Tôn giáo Chính phủ, anh luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, được sự đồng nghiệp tin cậy và quý mến.
Dù từng đảm nhiệm những cương vị quan trọng nhưng trong gia đình, anh vẫn là người con hiếu thảo; người chồng, người cha mẫu mực; người ông nhân từ và độ lượng. Với anh em, anh luôn là người đứng giữa, dung hòa, nhường nhịn. Chính cách sống ấy khiến mọi người luôn thấy an tâm, ấm áp khi có anh ở bên.
Ngoài công việc chuyên môn, anh còn rất say mê văn chương. Anh viết truyện, viết thơ từ rất sớm như một cách neo giữ ký ức và trò chuyện với chính mình. Những trang viết của anh thường được chắp bút trong những khoảng thời gian hiếm hoi rảnh rỗi, khi công việc tạm lắng, khi ký ức và yêu thương dội về, thôi thúc. Đến bây giờ, gia đình tôi còn giữ bài thơ anh viết tay với nét chữ mềm mại trên trang giấy đã ngả màu thời gian. Thơ anh mộc mạc, giản dị và chân chất như chính con người anh ngoài đời. Tôi còn nhớ, ngày cháu Ngọc Thủy - con gái anh đi thi học sinh giỏi toán vòng 2 của huyện Khoái Châu (5/12/1991), anh đã viết cho con bài thơ chất chứa bao yêu thương:
Hôm nay con đi thi
Lòng cha như có lửa
Cửa phòng thi rộng mở
Con bước vào vui không?
Rồi anh dặn con:
Biển học rộng vô bờ
Xa bờ càng sóng lớn
Thuyền bắt đầu rời bến
Đừng nao núng nghe con!
Không chỉ làm thơ, anh còn viết truyện cho thiếu nhi, trong đó có cuốn “Dòng sông tháng Ba” do NXB Kim Đồng ấn hành năm 2005. Tập truyện gồm 10 câu chuyện nhỏ viết về ông ngoại, về cậu, về ông lão ăn xin, thằng bé quét rác, người điên; về Tết ở quê mình, về những đêm thức cùng đom đóm, về dòng sông tháng Ba, bầu trời bao la và cả hoa đào biên giới. Qua từng trang sách, người đọc như được trở về với tuổi thơ, ký ức đầu đời bình dị, ngọt ngào của một cậu bé nơi miền quê xưa. Mỗi lần đọc lại những trang viết của anh, tôi như thấy bóng dáng của tuổi thơ mình trở lại, thấy anh tôi như hiển hiện đâu đây - một Phạm Huy Thơ luôn ăm ắp niềm tin yêu cuộc sống và những điều tử tế.
Anh ra đi khi vừa bước qua tuổi ngũ tuần vì trọng bệnh. Sự ra đi ấy đã để lại một khoảng trống lớn trong gia đình chúng tôi. Bố vợ anh - ông Vũ Đình Nhiên trong nỗi đau vô bờ đã bật lên những tiếng thơ đầy xót xa khi “chiếc lá xanh” đã sớm lìa cành. Bài thơ “Viếng con” được chép tay, nét chữ nắn nót như dồn nén tất cả nỗi đau của một người cha tiễn con rể về cõi xa. Trong bài thơ ấy, ông nhắc những năm tháng học tập, rèn luyện, đem sức mình phụng sự Đảng, nhân dân; nhắc lại một đời anh sống trọn tình với hai bên gia đình, với họ hàng, làng xóm. Tròn một năm sau ngày anh mất, trong dịp giỗ đầu của người con rể, ông viết tiếp bài “Nhớ con” như một nén tâm hương gửi vào chữ nghĩa, nối dài nỗi nhớ thương chưa khi nào nguôi. Bài thơ xâu chuỗi ký ức đời thường giữa người cha và người con, gợi lên hình ảnh người con hiền lành, tận tụy với gia đình, đồng thời xoáy sâu vào nỗi trống vắng của người ở lại:
Con đi, từ ấy đến nay
Đã ba trăm sáu lăm ngày rồi đây
Nhớ con, như rừng nhớ cây
Như sông nhớ nước, như mây nhớ trời.
Với tôi, sự ra đi của anh đã để lại một khoảng trống tinh thần không dễ nguôi ngoai. Có những việc trước đây tôi quen hỏi anh, chia sẻ cùng anh giờ mới thấy thật xót xa vì anh không còn nữa.
Bố mẹ tôi nay đã cao tuổi. Những năm anh còn sống, phần lớn đời sống tinh thần của gia đình đều do anh vun vén. Từ ngày anh đi xa, mọi thứ vẫn được tiếp nối nhưng niềm vui thì không còn trọn vẹn như trước. Dẫu vậy, những giá trị anh để lại vẫn hiện hữu trong từng nếp sinh hoạt của gia đình: sự gắn bó, tinh thần trách nhiệm và cách sống luôn nghĩ cho người khác. Hai người con của anh nay đã trưởng thành, học hành tử tế, công việc ổn định. Nhìn các cháu, tôi thấy thấp thoáng hình ảnh của anh.
Một mùa xuân nữa lại về, nhớ về anh, tôi lại nhớ tiếng cười của anh trong căn nhà nhỏ nơi miền quê xưa, nhớ những năm tháng anh em chúng tôi cùng chia ngọt sẻ bùi và nhớ cả những lời anh dặn dò giản dị mà thấm thía. Anh đã sống một đời không dài nhưng đủ đầy ý nghĩa. Với gia đình chúng tôi, anh vẫn luôn hiện diện - ấm áp như chính con người anh thuở nào./.