Kỳ 1: Vai trò của văn nghệ sĩ trong phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV của Đảng) là dấu mốc thể hiện bước trưởng thành trong nhận thức của Đảng, chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo, định hướng thành hành động. Đảng đã có những tổng kết 40 năm đổi mới và rút ra lý luận sắc bén để soi đường đưa đất nước bứt phá. Đảng đã chủ động tạo động lực mới hoàn thiện thể chế, phát huy tối đa nguồn lực đặt văn hoá vào vị trí trung tâm, trụ cột phát triển.


Văn hóa, con người với những tinh hoa giá trị đặc biệt của một thời đại sẽ còn lại mãi mãi mai sau, vì vậy trong các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn đề cao vai trò văn hóa, coi đó là nguồn vốn to lớn mà tiền nhân để lại, cần gìn giữ và vận dụng phát triển đất nước. Tiêu biểu cho tinh thần ấy đã được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với những chủ trương mang tính cách mạng để tái cấu trúc, hệ thống nguồn lực “tạo bệ phóng lịch sử” đưa đất nước vươn mình. Tuy nhiên, xuất phát từ âm mưu lợi dụng văn học nghệ thuật vào ý đồ bất chính nên các thế lực thù địch vẫn cố tình đưa ra các luận điệu xuyên tạc chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa là “bóp nghẹt cảm xúc” sáng tạo của văn nghệ sĩ.
Tạp chí Người Hà Nội xin giới thiệu loạt bài viết được phân tích từ góc độ Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng được soi chiếu dưới ánh sáng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để khẳng định đường lối của Đảng ta luôn mang tính lịch sử cụ thể chứ không phải do ý chí chủ quan của bất kỳ ai như rêu rao của lực lượng phản động. Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất mới chủ nghĩa xã hội.

Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV của Đảng) là dấu mốc thể hiện bước trưởng thành trong nhận thức của Đảng, chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo, định hướng thành hành động. Đảng đã có những tổng kết 40 năm đổi mới và rút ra lý luận sắc bén để soi đường đưa đất nước bứt phá. Đảng đã chủ động tạo động lực mới hoàn thiện thể chế, phát huy tối đa nguồn lực đặt văn hóa vào vị trí trung tâm, trụ cột phát triển.

Trong đề cương văn hóa năm 1943, Đảng ta đã xác định trọng tâm để lãnh đạo văn hóa; coi một trong những thành tố tạo thành văn hóa là tư tưởng, học thuật và nghệ thuật. Như vậy, nghệ thuật trở thành một trong 3 lĩnh vực rất cơ bản của đời sống văn hóa mà giai đoạn này cần tập trung xây dựng để đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
Hội nghị TW 5 khóa 8 (7/1998), Đảng ta xác định, “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”. Trong nền văn hóa ấy, văn học nghệ thuật là “những lĩnh vực đặc biệt tinh tế của văn hóa, là tiếng nói của tình cảm của lương tri và khát vọng chân, thiện, mỹ của con người”. Tinh thần này tiếp tục được phát triển trong Hội nghị TW9, khóa XI (5/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tiếp tục khẳng định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” …

Tuy nhiên, nhận thức của Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn khi tại Đại hội XIV, Đảng khẳng định “phát triển văn hóa, con người là nền tảng”, tức là có cả vật chất chứ không chỉ là nền tảng tinh thần. Đây là quan điểm đột phá về phát triển văn hóa của Đảng phù hợp với tư tưởng của Bác khi xác định văn hóa không chỉ là tinh thần mà còn bao hàm cả giá trị vật chất.
Năm 1943 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa . Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Đánh giá sức mạnh to lớn của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Quan điểm thống nhất về văn hóa giữa các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đều xác định rõ con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa và lao động sáng tạo là cội nguồn của văn hóa.

Trong báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai vào năm 1948, vận dụng quan điểm mácxít, đồng chí Trường Chinh cũng phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với kinh tế và chính trị như sau: “Người ta sinh ra, ăn, mặc, ở trước rồi mới hát, múa, vẽ, viết, bàn triết lý sau. Kinh tế là nền tảng của một xã hội, là cơ sở hạ tầng. Chính trị, pháp luật, văn hóa là những cái xây dựng lên trên cơ sở ấy, là kiến trúc thượng tầng của xã hội”.
Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức xã hội với nhau (văn hóa nghệ thuật và chính trị), đồng thời cũng là mối quan hệ giữa các hình thái ý thức xã hội với cơ sở hạ tầng văn hóa nghệ thuật và chính trị với kinh tế.

Đến tinh thần trong nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, văn hóa không còn là yếu tố hỗ trợ, góp phần nữa mà đã trở thành một trong các trụ cột, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội. Đã là trụ cột tức là không thể thiếu; xem nhẹ. Phát triển văn hóa, con người là một bộ phận cơ bản trong sự nghiệp cách mạng dân tộc là nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay. Như vậy, vai trò của văn hóa ngày càng được Đảng nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn. Đảng đã xác định rõ vị trí của văn hóa trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác trong chiến lược phát triển đất nước. Văn hóa là trụ cột, con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội. Phát triển bền vững đất nước đòi hỏi sự hợp lực chung của cả dân tộc bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng đối ngoại trong đó, văn hóa được coi là trụ cột.
Bản chất văn hóa luôn luôn thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực và lan tỏa trong mọi mặt, các mối quan hệ xã hội, cộng đồng đời sống. Văn hóa phải tích hợp vào tất cả các chính sách chính trị, kinh tế… Vì vậy, trên cơ sở văn hóa là hệ điều tiết điều hòa các mối quan hệ, con người với tự nhiên, với xã hội, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Các giá trị chân - thiện - mỹ phải là giá trị hàng đầu xem xét, đánh giá, điều chỉnh quá trình phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội.

Con người khi sinh ra đã được kế thừa di sản tri thức, trí tuệ, những sáng tạo… truyền từ đời này sang đời khác. Phát triển văn hóa không chỉ sáng tạo những sản phẩm mới mà còn làm tăng giá trị từ “cái cũ”. Đảng đã nhận thức sâu sắc việc bảo tồn giá trị di sản làm tiền đề cho sự phát triển, nghĩa là di sản tĩnh cần được phát huy, “khoác áo mới” để đem lại lợi ích mới cho đất nước. Đặc biệt trong sự cạnh tranh “sức mạnh cứng” an ninh, quốc phòng, kinh tế… giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng hiện rõ việc chúng ta có nguồn lực “sức mạnh mềm” văn hóa được tích lũy từ hàng nghìn năm lịch sử, sẽ là lợi thế to lớn.


Vai trò của văn hoá ở nước ta hiện nay được biểu hiện qua “sức mạnh mềm” đang tác động mạnh đến sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Dòng chảy văn hoá dân tộc (truyền thống và hiện đại, hữu hình và vô hình) là cơ sở nền tảng về tư tưởng đạo đức và cảm xúc, niềm tin và ước mơ, ý chí và khát vọng đang có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành động, hành vi xã hội của con người Việt Nam hiện nay. Đây chính là bản lĩnh, cốt cách tâm hồn Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh to lớn của dân tộc ta đã hình thành và dung dưỡng trong suốt chiều dài lịch sử.
Các thành tố văn hoá luôn gắn bó tương tác tạo thành “sức mạnh mềm” để hỗ trợ, tiếp biến giữa các luồng văn hoá... Từ việc xác định bản sắc góp phần định vị giá trị văn hoá Việt Nam trong hệ giá trị toàn cầu; tham gia vào dòng chảy văn minh nhân loại…

Song song với việc đề cao vai trò văn hóa, Đại hội XIV của Đảng cũng xác định rõ vai trò các chủ thể xây dựng phát triển văn hóa, con người là văn nghệ sĩ, trí thức... Văn nghệ sĩ là lực lượng sáng tạo những giá trị văn hóa mới, truyền bá, lan toả bảo vệ những giá trị văn hóa là người nêu gương và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các phương trâm chỉ đạo của Đảng về phát triển văn hoá. Vì lẽ đó, các chủ trương của Đảng ban hành nhằm thúc đẩy vai trò của văn nghệ sĩ tham gia tích cực hơn vào nhiệm vụ chấn hưng văn hóa.
Văn hóa là sản phẩm của con người do con người sáng tạo ra và quay lại phục vụ con người. Tuy nhiên con người phải hoạt động ở cơ chế đặc biệt mới tạo ra văn hóa. Con người có các hoạt động như: viết chữ, ăn, ở, mặc, đi lại… nhưng những hoạt động thiết yếu này trở thành văn hóa, khi: Viết chữ thành sáng tạo văn chương, ăn uống thành nghệ thuật ẩm thực, mặc thành thiết kế thời trang… Thông qua việc con người tạo ra, sử dụng sản phẩm cũng đồng thời định vị giá trị con người ấy. Tức là con người càng tạo ra nhiều sản phẩm, hoạt động thụ hưởng tinh tế thì càng nâng cao giá trị.
Đáp ứng nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp, đọc truyện, xem múa hát ha… nên phải có người cung cấp, sản xuất món ăn ngon, may áo đẹp, viết văn hay, nghệ sĩ múa đẹp, hát hay,… Những người làm ra sản phẩm chất lượng giá trị cao đòi hỏi khả năng sáng tạo lớn, phải có tố chất tinh hoa như nghệ sĩ. Không phải ai hát, múa cũng trở thành nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, trong làng nghề không phải ai cũng là nghệ nhân… Như vậy, người nghệ sĩ có vai trò chủ thể trong việc làm tăng giá trị văn hóa. Làm tăng giá trị văn hóa, tức là phát triển văn hóa và phát triển văn hóa cũng tức là phát triển giá trị của con người. Bản chất giá trị là những gì có lợi cho con người phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người; nhu cầu càng cao thì giá trị càng phát triển.


Giá trị văn hoá và các giá trị khác của đời sống xã hội muốn phát triển (kiến tạo giá trị mới) phải thông qua năng lực sáng tạo của con người tinh hoa. Văn nghệ sĩ là lực lượng nòng cốt tinh hoa tham gia sản xuất tác phẩm tinh xảo phục vụ nhu cầu thưởng thức trải nghiệm và xây dựng môi trường sống nhân văn. Vì vậy, phát triển văn hoá, con người theo tinh thần của Đảng tức là hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới…

Đại hội Đảng XIV xác định, “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”. Hệ giá trị dân tộc bao hàm: (1). Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, (2). Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết con người - gia đình - làng xã - Tổ quốc, (3). Lòng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình, (4) Tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống (5). Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động. 5 yếu tố có tính bền vững, tạo thành hệ giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Bản sắc là điểm khác biệt, phân biệt quốc gia này và quốc gia khác, dân tộc này và dân tộc khác. Đây là giá trị các thế hệ người Việt gìn giữ bồi đắp, tạo thành sức mạnh dựng nước và giữ nước.

Trong bảng giá trị này, quan trọng nhất là lòng yêu nước. Tinh thần yêu nước được soi chiếu từ trong kho tàng văn nghệ dân gian đến đời sống văn học nghệ thuật hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các di tích, tín ngưỡng, lễ hội của người Việt có liên quan đến những người có công mở mang, bảo vệ quê hương đất nước. Từ truyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, đến những bài ca đi cùng năm tháng trong những năm chống Pháp, Mỹ… Cha ông ta không chỉ dùng những áng văn hào hùng để đánh giặc mà còn để đánh thức lòng tự tôn dân tộc, với những tác phẩm nổi tiếng, như: Tinh thần và khát vọng độc lập, tự chủ, tự cường, bảo vệ cương vực lãnh thổ của nhà Lý (Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt), hào khí Đông A chống giặc ngoại xâm, tinh thần “Sát thát” của vua tôi nhà Trần (Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo), tinh thần đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” quyết chiến quyết thắng chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn qua “Đại Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi và “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến từ lâu”. Chúng ta còn thấy ý chí quyết tâm sắt đá, thần tốc táo bạo bất ngờ trong chiến dịch đại phá quân Thanh của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ qua tác phẩm (Hịch đánh quân Thanh - Quang Trung) và các tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh sâu sắc truyền thống yêu nước, yêu chuộng hoà bình của dân tộc ta từ ngàn đời…
Với bản sắc dân tộc có tinh thần yêu nước nồng nàn, thời hiện đại chúng ta có nền văn học nghệ thuật cách mạng. Giữa chiến trường, các chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ vẫn cất cao giọng hát cổ vũ tinh thần “sẵn sàng hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Thử hỏi có dân tộc nào những người con mới mười chín đôi mươi tuổi rời làng quê băng mình vào mưa bom bão đạn mà hừng hực khí thế phấn chấn vui tươi qua hình ảnh: “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ mà lòng phơi phới dậy tương lai”, rồi “đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”… Nếu nói lịch sử dân tộc ta là những cuộc chiến tranh vệ quốc hào hùng mà anh dũng thì văn nghệ sĩ đã trở thành chiến sĩ giữ mạch nguồn bất khuất về tình yêu nước. Đó là bản sắc đã ăn vào tâm cốt của mỗi người từ khi mới lọt lòng mẹ “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”… Có biết bao nhà văn, nhà thơ cũng đồng thời là những nhà cách mạng, như Bác Hồ - người sáng lập Đảng ta đồng thời cũng là một nhà thơ, nhà văn hoá lớn, và các bậc lãnh đạo tiền bối, như: Trường Chinh, Tố Hữu, Văn Cao,… Đến đây có thể khẳng định tình yêu nước từ xa xưa đã trở thành một đề tài giữ nguồn cảm hứng bất tận cho văn nghệ sĩ sáng tác và cũng chính những tác phẩm văn học nghệ thuật ấy lại quay lại phục vụ đời sống, ấp ủ nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong trái tim người Việt./.
.png)
Thực hiện: Trần Văn Chung/ Thiết kế: Minh Hương
21/10/2026 17:02