Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 03/07/2021 16:39

Tiếp nối các loại báo chí nghiêng về khảo cứu văn hóa đầu thế kỷ XX, vào chặng cuối thời thực dân và đêm trước của Cách mạng tháng Tám 1945 đã xuất hiện thêm hai cơ quan ngôn luận học thuật đặc biệt quan trọng là Thanh nghị (1941- 1945) và Tri tân tạp chí (1941 - 1945). Nói riêng tạp chí Tri tân là tờ tuần san được ấn bản tại Hà Nội, khuôn khổ 20 x 26 cm, dung lượng phần nhiều 24 trang. Số tạp chí Tri tân đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 3/6/1941 đến số cuối ra ngày 22/11/1945, cộng 212 số. Trên thực tế, tạp chí Tri tân còn được “tục bản” với tên gọi Tri tân mới nhưng chỉ in được đúng 2 số (ra ngày 6/6/1946 và 16/6/1946). Như vậy, tạp chí Tri tân xuất bản được tổng cộng 214 số.

Sáng tác gắn với lịch sử quốc gia, dân tộc

Bên cạnh bộ phận khảo cứu, nghiên cứu văn học vốn làm nên đặc tính của tạp chí Tri tân thì các sáng tác cũng có những đóng góp quan trọng. Có một điểm dễ thấy là hầu hết các sáng tác nghiêng về tính duy lý, hướng tới những đề tài nghiêm túc, gắn với lịch sử quốc gia, dân tộc. Cùng là thơ ca nhưng ở đây nhấn mạnh cảm hứng lịch sử, kịch thơ lịch sử, rất hiếm lối thơ trữ tình lãng mạn kiểu Tự lực văn đoàn. Cùng là văn xuôi nhưng các tác phẩm ở đây thiên về ghi chép lịch sử, du ký, truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử (kiểu các tiểu thuyết An Tư, Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng; Bà Quận Mỹ, Cháy cung Chương Võ, Thoát cung vua Mạc của Chu Thiên Hoàng Minh Giám…). Cùng là kịch nhưng ở đây là kịch lịch sử (kiểu như Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Hưng Đạo của Trần Văn Bích…). Có thể thấy rất rõ cảm hứng lịch sử trong toàn bộ các sáng tác trên tạp chí Tri tân vào giai đoạn đêm trước của Cách mạng tháng Tám.

Với sáng tác tác văn học, vai trò chủ thể tác giả bao giờ cũng giữ một vị  trí đặc biệt quan trọng và điều này càng sắc nét hơn ở các tác phẩm du ký in trên tạp chí Tri tân. Bởi lẽ với du ký, bản thân tác giả phải là nhân vật thứ nhất, chủ thể trực tiếp đi, xem, nghe, trải nghiệm và tường tả lại chuyến du hành theo quan niệm và cách thức của mình. Khác với nhiều thể loại, thể tài văn học khác, văn du ký có thể bay bổng nhưng xa lạ, dị ứng với mọi sự hư cấu, tưởng tượng đi quá xa sự thật. Thêm nữa, khác với các thể tài, tiểu loại ký - phóng sự khác, chủ thể tác phẩm du ký đa phần là các ký giả nhà văn, trí thức, quan chức và tầng lớp trên nên có điều kiện du ngoạn, đi xa thăm thú, tìm hiểu, khám phá các vùng đất mới. Nói khác đi, đây là thể tài cơ bản gắn với tầng lớp trên, tầng lớp hữu sản và nhiều phần hướng đến mỹ cảm “vị nghệ thuật”, những cuộc thăm viếng, du hành, du lịch và mở mang kiến thức.

Nhìn rộng ra, tạp chí Tri tân đã in trên bốn chục bài viết theo phong cách ký, ký sự, du ký, ghi chép, hồi ức liên quan đến đề tài du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, sinh thái, mỹ thuật, điều tra xã hội học... Các tác phẩm này cung cấp kiến thức  liên quan đến các di tích lịch sử lớn trong nước (từ vùng Tây Bắc, hồ Ba Bể, Sa Pa, vùng Hà Nội - Huế - Nam Trung Bộ - Sài Gòn - Tây Nguyên...); có ý nghĩa địa chí phong tục và dân tộc học, ghi nhận chứng tích các địa chỉ lịch sử - văn hóa một thời, giúp người đọc sống trong tâm thức “khảo cổ” về đời sống tinh thần dân tộc giai đoạn 1941 - 1945. Các thiên du ký này thực sự có giá trị lâu dài, góp phần phục vụ các chuyên ngành khoa học xã hội, các cơ sở văn hóa, các hướng dẫn viên, học sinh ngành du lịch cũng như người yêu văn học nói chung.

Luôn theo sát đời sống văn học

Khác với các công trình khảo cứu, tiếng nói phê bình trên tạp chí Tri tân chủ yếu hướng tới trao đổi, luận bình, đọc sách, điểm sách, trong đó chiếm phần quan trọng là các bài phân tích, giới thiệu các tác giả - tác phẩm cụ thể.

Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí
Số mở đầu của tạp chí Tri tân. Ảnh tư liệu. 

Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí
Tròn 80 năm tạp chí Tri tân được xuất bản ở Hà Nội. Ảnh tư liệu.

Bên cạnh việc đăng trọn vẹn cả công trình văn học sử, tạp chí Tri tân cũng luôn chú trọng đến giới thiệu thành quả viết văn học sử đến công luận. Mối quan tâm, theo dõi sát sao này thể hiện rõ ở nhiều bài viết mang tính thời sự, cập nhật thông tin. Chẳng hạn trong phần Văn chương ở sách Đại Việt văn học lịch sử, Nguyễn Sĩ Đạo có điểm danh các tác giả chính song hết sức sơ lược, vắn tắt và hầu như không phân tích tác phẩm nên Hội Thống Vũ Văn Lợi trong bài Đọc “Đại Việt văn học lịch sử” đã chỉ trích về nỗi “tóm tắt quá”, “quyển Đại Việt văn học lịch sử chỉ có thể gọi được là Đại Việt văn học sử lược”, “gọi là văn học sử lược có lẽ đúng hơn” (tháng 7/1941). Thêm nữa, việc tác giả nhấn mạnh đề mục Các nữ thi sĩ ở phần Cận cổ thời đại - dấu hiệu ảnh hưởng rõ nét từ Nữ lưu văn học sử, kể cả những sai lẫn về tư liệu - đã khiến Long Điền Nguyễn Văn Minh lên tiếng phê bình, đính chính trong bài Từ quyển “Nữ lưu văn học sử” của ông Sở Cuồng đến quyển “Đại Việt văn học lịch sử” của ông Nguyễn Sĩ Đạo (tháng 12/1941)... 

Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí

Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí
Số 205 của tạp chí Tri tân đăng tin đoàn nhà báo gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Vào đầu năm 1942, những tập đầu bộ Việt Nam văn học của Ngô Tất Tố đã đến tay bạn đọc. Theo công bố ở bìa 4 thì bộ sách gồm 6 tập: Lý triều văn học, Trần triều văn học (I và II), Lê triều văn học (I và II), Nguyễn triều văn học. Ngoài phần Lời bàn chung và Kết luận, sách giới thiệu “tất cả 23 tác gia, vừa vận văn vừa tản văn trên ba chục bài”... Tiếp đến Tập 2, Quyển 1 có tên Văn học đời Trần (1942) giới thiệu 7 tác gia và một nhà vô danh. Ưu điểm chung của phần viết này chủ yếu là các tư liệu được sắp xếp theo thứ tự, tác phẩm được in cả nguyên văn chữ Hán, có đủ phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú dẫn. 

Tuy nhiên, ngay khi sách mới ra đời, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đã có ý kiến: “Nếu dụng công tra xét tìm tòi, thì bộ Việt Nam văn học là một bộ sách có giá trị lắm, vì ông Ngô Tất Tố đã sưu tầm được nhiều tài liệu; nhưng ông không chịu kê cứu, cho nên còn nhiều khuyết điểm”, đồng thời nêu ra những chỗ sai dị về tư liệu cũng như dịch thuật (tháng 8/1942). Sự thể này khiến cho hai ông Văn Tố và Tất Tố cùng “tố” nhau đến gần mươi trang tạp chí Tri tân. Song vấn đề quan trọng nhất do Nguyễn Văn Tố đưa ra: “Như thế là một thứ “Việt Hán văn tuyển”, chưa hẳn là “Việt Nam văn học sử” đã được Ngô Tất Tố xác nhận kèm theo lời giải thích và phản bác: “Không, tôi chỉ soạn sách “Việt Nam văn học”, không hề nhận nó là “Việt Nam văn học sử”. Vì sợ người ta hiểu lầm, nên ở bài tựa tập một, tôi đã nói rõ thế rồi. Nhưng gọi nó là “Việt Hán văn tuyển” thì rất không đúng” (tháng 9/1942). Điều này cho thấy ngay người đương thời cũng nhận thức rõ sách Việt Nam văn học chưa đảm bảo tính cách một bộ văn học sử và bản thân khoa văn học sử vẫn đang đi những bước ban đầu.

Những bài phê bình văn học đương đại trên tạp chí Tri tân có số lượng khá lớn với trên mười cây bút phê bình, trong đó có nhiều cây bút đã được khẳng định chắc chắn như: Nguyễn Văn Tố, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi…; nhưng cũng có một số tác giả giờ đây còn ít được biết đến và chắc chắn phải có một vị trí nhất định trong lịch sử phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX như: Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Hoàng Thiếu Sơn, Phạm Mạnh Phan… Tạp chí luôn tỏ ra theo sát đời sống văn học: bình luận, phê bình những tác phẩm mới ra, phỏng vấn các nhà văn, ghi lại các cuộc diễn thuyết văn học, tổ chức kỷ niệm các danh nhân văn hóa dân tộc. Hầu hết các tác phẩm đáng chú ý xuất hiện vào những năm đó đều đã được giới thiệu, phê bình kịp thời: Quê người (Tô Hoài), Thiếu quê hương (Nguyễn Tuân), Chân trời cũ (Hồ Dzếnh), Chồng con (Trần Tiêu), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân)… 

Rất đáng chú ý là các bài bình điểm toàn cảnh văn học các năm 1941, 1942, 1943, 1900 -1940 do Lê Thanh và Kiều Thanh Quế thực hiện. Bên cạnh giá trị văn học sử, các bình giả còn nêu tấm gương về về ý thức nghề nghiệp, sự chuyên môn hóa tự nguyện của người làm phê bình văn học. Ngoài ra, Tri tân cũng nhiều lần công kích những tác phẩm kém, đạo văn, viết ẩu, những văn phẩm khiêu dâm, loại ấn phẩm đầu độc tinh thần thanh niên… Tiêu biểu cho tiếng nói phản biện có Phạm Mạnh Phan: Văn hóa chân chính: Bài trừ những cán bút có hại (số 5), Kết án những nhà xuất bản vô lương (số 7), Chữa nạn thanh niên trụy lạc: Hãy đốt hết những sách khiêu dâm (số 10), Hội Thống Vũ Văn Lợi: “Tùy bút” hay là “Thi vị cuộc sống” (số 10), Hoa Bằng: Vài cái liệt điểm của một số nhà văn ta (số 54), Kiều Thanh Quế: Cuộc kỳ ngộ của Lan Khai - Zweig: “Tội và thương” gặp “La peur” (số 43), Phê bình quảng cáo (số 98), Phê bình vở “Jalousie” của Sacha Guitry biến thể trong “Ghen”, kịch ba hồi của Đoàn Phú Tứ (số 76)…

Trên cả hai phạm vi sáng tác và phê bình, tác tác giả trên tạp chí Tri tân không chỉ hướng đến đề cao tinh thần dân tộc, yêu nước, tự hào về truyền thống văn hiến ngàn năm mà còn tích cực lên tiếng đấu tranh, phê phán mạnh mẽ những xu thế, nhóm phái và tác phẩm sai trái, lệch lạc. Dù chưa đi vào trung tâm đời sống chính trị, đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng những định hướng và thực tiễn các tác phẩm in trên tạp chí Tri tân nói trên cũng thực sự có ý nghĩa, có đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc đương thời và lưu lại những sử liệu quý giá cho đời sau.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Tây Hồ lấy ý kiến người dân về quy hoạch tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ Tây
    Ngày 7/9, UBND phường Tây Hồ phối hợp với Viện Quy hoạch và Kiến trúc đô thị - Trường Đại học Xây dựng cùng Công ty TNHH Thành phố Mặt Trời tổ chức Hội nghị báo cáo, xin ý kiến cộng đồng dân cư đối với Quy hoạch phương án tuyến, vị trí công trình theo tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ Tây và Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh quy hoạch khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận
    Từ ngày 7/9 đến hết ngày 26/9/2026, UBND phường Hoàn Kiếm chủ trì phối hợp UBND phường Cửa Nam tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư về Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B (khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận), tỷ lệ 1/2.000 và một phần Quy hoạch phân khu đô thị H1-1C, tỷ lệ 1/2.000 kết hợp giải pháp Quy hoạch chi tiết, tỷ lệ 1/500 cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Hà Nội cấp gần 55 tấn gạo hỗ trợ học sinh dân tộc nội trú năm học 2026- 2027
    Thành phố Hà Nội đã phê duyệt cấp 54.960 kg gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ cho 916 học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú trong học kỳ I năm học 2026-2027 (bao gồm cả bổ sung học kỳ trước). Chính sách đảm bảo mức 15 kg/học sinh/tháng trong 4 tháng, nhằm chia sẻ khó khăn và chăm lo cho học sinh vùng dân tộc thiểu số.
Phê bình văn học trên Tri tân tạp chí
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO