Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Ngôi nhà xưa và ký ức về bà

Nguyễn Trần Đức Anh 16:44 03/08/2026

Tôi không nhớ lần đầu tôi được bố tôi đưa về quê nội là năm tôi mấy tuổi, chỉ nhớ là rất bé. Thế nhưng những ấn tượng của những ngày thơ ấu ở quê thì tôi vẫn nhớ, vẫn còn nguyên trong ký ức. Tôi nhớ cái cổng nhỏ với hàng rào dâm bụt, nhớ ngôi nhà mái ngói, khoảng sân rộng với hai cây cau cao vút, căn bếp luôn thơm nồng khói lửa…; nhớ ông tôi rất nghiêm, bà tôi rất hiền và cô tôi (tất nhiên khi đó chưa lấy chồng) thì rất tuyệt vời!

Quê tôi, chính xác là làng tôi nằm bên quốc lộ Bắc – Nam, cách Hà Nội 42 cây số tính từ km số 0 ở Bờ Hồ (mà bây giờ người ta vẫn đang tranh luận về vị trí chuẩn của điểm số 0 này); xưa thuộc Hà Tây, nay là huyện ngoại thành Hà Nội. Đó là một khoảng cách quá ngắn so với thời bây giờ; nhưng trong con mắt trẻ thơ của tôi ngày đó, và vào thời kỳ còn khó khăn nhiều về phương tiện giao thông thì về quê là một hành trình dài đáng kể, và hơi… sợ - bởi tôi bị say xe. Mỗi lần về quê hồi đó là một cuộc “hành quân” khá gian nan và vất vả. Bình thường, mấy bố con hay đi “xe tuyến” của cơ quan bố - là xe đưa cán bộ nội trú về nhà cuối tuần – đi thứ 7, về chủ nhật. Chúng tôi thường là những người xuống xe đầu tiên trên xe tuyến quốc lộ 1A, với khoảng cách (từ cơ quan) xấp xỉ 40km. Mỗi khi có việc, hoặc muốn ở lại quê lâu hơn, đương nhiên phải đi xe khách ở ngoài. Quãng thời gian êm đềm đó cứ như thế, như thế cho tới khi tôi học hết cấp 2. Bao nhiêu năm, ngôi nhà vẫn vậy, bình yên, dung dị và hào phóng đón tôi trở về. Có những mùa hè (hồi đó học sinh nghỉ hè 3 tháng) chúng tôi về quê tới một vài tuần. Phải nói thêm rằng: Tôi không được sinh ra ở đây, tôi cũng không sống ở đây. Bố mẹ tôi đi học rồi thoát ly, sinh con ở thành phố. Nói chính xác thì đó là ngôi nhà của ông bà nội tôi. Với chị em chúng tôi, về nơi đó - nói và hiểu một cách đơn giản là về quê.

Lên cấp 3, tôi thường về quê một mình bằng những chuyến tàu chợ. Mọi việc đi lại đã đơn giản hơn nhiều. Ông tôi đã mất, rồi cô tôi muộn màng mãi cũng đã lấy chồng làng bên – có thể tranh thủ chạy qua chạy lại. Dẫu vậy thì nhà vẫn cứ vắng vẻ, có một mình bà tôi. Biết vậy! Bố tôi thì bận việc; tôi thì cũng bận học, và tuổi trẻ mải chơi… Tất nhiên khi đó, dù không còn là đứa trẻ nữa thì tôi về quê vẫn mang tâm thế của kẻ đi chơi, đi nghỉ, đâu phải băn khoăn nhiều chuyện người lớn!?

Cuộc đời có những éo le, mỗi con người là một số phận. Lá xanh rụng trước lá vàng. Thật ra đó không phải là điều gì hiếm gặp hay quá ghê gớm, nhưng vẫn là xót xa. Tôi mất thăng bằng một thời gian dài, và tôi hiểu rằng sức chịu đựng của bà tôi đáng khâm phục đến mức nào. Ở thời điểm đó, tôi là sinh viên những năm đầu, chưa đủ là một người chín chắn và từng trải đế gánh một trách nhiệm như thế. Và sau đó, về quê với tôi không còn là những chuyến đi nghỉ, đi chơi nữa. Tôi thay bố tôi làm những phận sự mà tôi biết mãi mãi chẳng thể tròn. Cuộc sống thì càng ngày càng nhanh hơn, hối hả hơn; tôi cũng bận hơn. Căn nhà vắng hơn, cũ hơn, và bà tôi yếu hơn. Mỗi khi về nhà, nhìn bóng bà lặng im và nhỏ bé giữa căn nhà trống vắng, thấy nghẹn lòng… Nhưng có lẽ những lần tôi về hồi đó là những khoảng thời gian rất đẹp của hai bà cháu. Ngoài những lần có việc trong năm, thì như lời hẹn, tôi có mặt ở nhà vào chiều 29 hoặc sáng 30 Tết, gần 10 năm như vậy. Cô tôi giúp bà chuẩn bị mọi việc, nhưng có một việc bà luôn chờ tôi cùng làm, đó là lau dọn bàn thờ tất niên. Từ những năm tháng ấy, ngôi nhà đã trở nên thiêng liêng với tôi. Đó không chỉ là yếu tố tinh thần, mà với con mắt của người làm nghề, tôi hiểu rằng đây là ngôi nhà đẹp nhất với một cấu trúc chuẩn mực còn lại ở làng, và sẽ là ngôi nhà cuối cùng. Trong đó có bộ bàn thờ cùng đồ thờ cổ và đẹp nhất làng, chính người làng nói vậy. Làng tôi, như bao nơi khác, đô thị hóa đã làm cho tất cả nham nhở, vụn nát. Những ngôi nhà cột kèo mái ngói biến mất với một tốc độ nhanh khủng khiếp, những mảnh vườn cũng như vậy. Những đường nét kiến trúc tinh tế của ông cha đang lùi vào dĩ vãng. Ngôi nhà của bà tôi, dẫu không phải là kiệt tác thì vẫn cứ là một ngôi nhà đẹp. Cụ tôi xây ngôi nhà năm 1945, cái năm diễn ra nạn đói khủng khiếp. Và cũng vì việc này, cụ tôi bị quy là địa chủ, sau sửa sai thành thành phần trung nông, nhưng điều đó cũng để lại nhiều hệ lụy. Bây giờ trên vòm cổng vẫn còn chữ “1945” đắp nổi…

Rồi cô chú tôi chuyển về ở cùng để tiện chăm sóc bà. Tôi yên tâm và cảm thấy nhẹ lòng hơn. Mỗi khi về cũng vui hơn, không còn vắng vẻ như trước nữa. Nhưng ngôi nhà cũ dần dần không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của cuộc sống, và đã có những đổi thay. Nếp nhà ngang xưa là nhà bếp – cách nhà chính một khoảng sân có giàn mướp đã bị phá đi, cô chú tôi xây thay thế vào đó một gian nhà mái ngói cao và rộng hơn để cô tôi dạy học. Chái nhà chính phía bên ấy trở thành nhà bếp kiểu mới – đun bếp gas, nối liền với nhà để xe và khu vệ sinh khép kín - tất nhiên có đầy đủ thiết bị hiện đại. Điều đó tốt hơn cho cuộc sống, và tốt hơn cho sinh hoạt của bà tôi, vì bà yếu rồi. Nhưng tôi vẫn cứ tiếc. Tôi tiếc gian bếp với vách đất xiêu xiêu, cùng những kèo, xà tre ám khói; và tiếc bếp lửa bập bùng bao nhiêu kỷ niệm với những câu chuyện của bà… Tôi tiếc tòa nhà chính 3 gian hai chái không còn nguyên vẹn - độc lập với 2 ô cửa sổ ở chái nhà nhìn ra sân; nay vị trí đó ở chái phía trong là cửa đi xuống nhà xe và nhà vệ sinh… Lối vào từ cổng và sân cũng được lát lại để tiện đi xe máy. Mỗi lần sửa cái gì, cô chú đều gọi điện hỏi ý kiến tôi. Tôi buồn nhưng chẳng biết làm thế nào, đành nói với cô chú rằng xây cất thêm cái gì cũng được, nhưng cố gắng đừng làm sai lệch gì kiến trúc nhà chính và cái cổng.

Lại nói về cái cổng. Cái cổng ấy đẹp đến nao lòng với những đường nét, với rêu phong, với những mảng tường gạch cũ. Biết bao lần tôi ngẩn ngơ ngắm và xoay tới xoay lui cùng chiếc máy ảnh. Ba chữ Hán trên trán cổng, tôi nhờ anh bạn chuyên ngành Hán - Nôm đọc hộ, là “Đồng Gia Cát”; nghĩa là cả nhà cùng may mắn - một thông điệp giản dị và ý nghĩa. Từ khi còn bé tí về quê, tôi vẫn biết và vẫn nhớ cổng có hai cánh bằng tre, đóng bằng cách… buộc dây và tối đi ngủ “khóa” bằng một đòn tre phía trong gác ngang vào tường. Mấy chục năm, cánh cổng tre cũng xập xệ dần. Rồi một ngày cô tôi gọi điện bảo chuẩn bị thay cánh cổng sắt, vì cánh cổng tre hỏng rồi, cùng với việc trật tự an ninh ở làng bây giờ phức tạp, không như xưa nữa; về nhanh mà chụp ảnh. Tôi không thể cản, chỉ tiếc, rồi thu xếp về, cẩn thận ghi chép những hình ảnh cuối cùng. Sau đó, mảng tường rào cũ liền với cổng vỡ một mảng từ ngày xưa, xen với dâm bụt giờ cũng “bị” xây lại, trát lại phẳng phiu, thẳng tắp…

Bà tôi mỗi ngày mỗi yếu; cũng phải thôi, tuổi cao rồi. Nhiều lần bà nói chuyện với tôi về ngôi nhà, về “quyền lợi” cũng như phận sự, trách nhiệm của tôi. Những lần ấy tôi đều trốn tránh, lảng đi. Tôi bảo: Bà còn sống lâu, lo làm gì! Đúng là tôi sợ, sợ cái ngày ấy sẽ đến. Tôi muốn mãi mãi đây là ngôi nhà của bà, ngôi nhà luôn có bà và là nơi trở về của chúng tôi. Nhưng rồi cũng chẳng lần lữa được mãi, sau một trận ốm nặng, bà không muốn để lâu tình trạng này hơn nữa… Thế rồi bà, cô chú, tôi… tất cả ứa nước mắt ký vào bản di chúc của bà - bản di chúc mà tôi chấp bút (vì bà không biết chữ) xác nhận quyền thừa kế cho tôi; và tất nhiên cuối cùng là xác nhận của chính quyền. Từ đó, bà thanh thản lắm!

Rồi cái ngày ấy cũng đến, như lẽ thường ở đời. Tôi đứng ở vị trí của bố tôi, thay cho bố tôi. Bà đi rồi, căn nhà hoang vắng trống trải. Tôi nhìn lên bàn thờ, nhìn lên mái nhà, nhìn ra cổng… tất cả ký ức tuổi thơ, những năm tháng trôi qua như một cuốn phim quay chậm. Tôi chưa thể quen với ý nghĩ đây là ngôi nhà của tôi, là mảnh đất của tôi theo cách sở hữu. Đôi khi tôi cảm thấy quá sức của mình…

Một năm vài ba bận tôi lại trở về, trở về căn nhà ấy. Đó không phải là nơi tôi sinh ra và lớn lên, nhưng vẫn và mãi mãi là nơi trở về của tôi. Mỗi lần về lại thảng thốt, buồn và xót xa vì những viên ngói vỡ, những cột kèo, khung cửa cứ cũ dần, mọt dần, yếu dần… Cuộc sống nơi thành phố và công việc thì cứ cuốn đi, mải miết, mải miết.

Tôi cứ đi về phía trước. Căn nhà cũ hơn và như đang lùi lại phía sau… Nhà xưa! Tôi gọi nhà xưa - bởi lẽ khi tôi trở về, tôi được chậm lại và lùi lại, để chạm vào quá khứ - không chỉ của riêng tôi. Ở đó tôi nhìn thấy hình bóng cụ tôi, ông bà tôi, bố tôi; thấy ngọn gió quê nhà thổi mãi!

Những hình ảnh gửi theo bài là ngôi nhà ở quê và bà nội của tác giả:

nhaxua-06-.jpg
nhaxua-05-.jpg
nhaxua-04-.jpg
nhaxua-03-.jpg
nhaxua-02-.jpg
nhaxua-01-.jpg
Bài liên quan
  • Đình Nội Bình Đà: Lưu giữ ký ức thiêng liêng về Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân
    Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, có những vùng đất không chỉ lưu giữ dấu tích của thời gian mà còn cất giữ trong mình ký ức thiêng liêng về cội nguồn dân tộc. Với tôi, đình Nội Bình Đà không chỉ là ngôi đình cổ của quê hương, mà còn gắn với tuổi thơ, với những mùa lễ hội tháng ba âm lịch và với niềm tự hào về vùng đất thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, vị thủy tổ của dân tộc Việt Nam.
(0) Bình luận
  • Khi thành phố lên đèn
    Lang thang trên góc phố quen thuộc nhìn những ngọn đèn chiếu những tia sáng yếu ớt khiến bóng tôi đổ dài trên mặt đường. Tâm trí tôi lại nhớ về một thủa xưa cũ nào đó khi mà ánh sáng vẫn còn chút gì đó mới mẻ. Bởi thế mà tôi lại vô cùng thích thú khi được ngắm nhìn cảnh Hà Nội lên đèn. Từng ngọn đèn được bật sáng chiếu rọi con đường tôi đi ngang qua. Hàng cột điện thẳng tắp nối đuôi nhau thắp sáng khiến tôi thấy có chút háo hức mong chờ. Chờ đợi khoảnh khắc ấy. Khoảnh khắc tưởng chừng như rất đơn giản, rất đỗi bình thường và vẫn diễn ra hàng ngày ấy. Bây giờ ánh sáng có thể nhìn thấy bất kỳ đâu, bất kỳ chỗ nào và đủ mọi màu sắc nhưng trước kia thì khác. Ánh sáng là một điều gì đó rất xa xỉ.
  • Đình Nội Bình Đà: Lưu giữ ký ức thiêng liêng về Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân
    Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, có những vùng đất không chỉ lưu giữ dấu tích của thời gian mà còn cất giữ trong mình ký ức thiêng liêng về cội nguồn dân tộc. Với tôi, đình Nội Bình Đà không chỉ là ngôi đình cổ của quê hương, mà còn gắn với tuổi thơ, với những mùa lễ hội tháng ba âm lịch và với niềm tự hào về vùng đất thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, vị thủy tổ của dân tộc Việt Nam.
  • Có một Hà Nội trên những chuyến xe
    Tôi đã đi nhiều chuyến xe trong đời nhưng có lẽ những chuyến xe buýt đối với tôi có nhiều kỉ niệm gắn bó, giống như tôi gắn bó với Hà Nội vậy.
  • Nhớ gói xôi đỗ đen nơi góc phố
    Ra trường đã nhiều năm, nếm trải bao món ngon Hà thành nhưng tôi vẫn luôn vấn vương hương vị gói xôi đỗ đen gói trong tầu lá sen của cô hàng xôi nơi cổng trường đại học.
  • Sầm uất chợ Đồng Xuân
    Đang chộn rộn niềm vui chung cùng cả nước về Đại Thắng Mùa Xuân, chúng tôi bất ngờ nhận tin vui, tươi mới hơn cả mong đợi: “Những đồng chí đang học dở đại học và những đồng chí có giấy gọi nhập học đại học được xuất ngũ về trường học tiếp”.
  • Thu Hà Nội
    Mới ngày nào còn đi giữa cái nắng chói chang của mùa hè, hay trong cơn mưa rào như trút nước; vậy mà một buổi sáng ra đường chợt thấy lành lạnh - mới hay ta đang đi giữa mùa thu…
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Di sản làng nghề “kết duyên” sáng tạo
    Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Bộ ba ấn phẩm phẫu thuật tim mạch: Cột mốc mới trong đào tạo y khoa thực hành
    Trong y học hiện đại, phẫu thuật tim mạch luôn được coi là một trong những đỉnh cao về kỹ thuật và bản lĩnh lâm sàng. Tuy nhiên, mọi thành tựu nếu chỉ dừng lại ở bàn mổ sẽ khó tạo nên tính bền vững cho nền y tế chung. Chuyển hóa những kinh nghiệm từ thực tiễn thành nguồn tri thức học thuật bài bản, chuẩn hóa chính là chìa khóa then chốt để đào tạo thế hệ kế thừa. Mới đây, bước tiến ấy đã được cụ thể hóa bằng sự ra mắt của bộ ba ấn phẩm y học chuyên ngành do PGS.TS. Nguyễn Sinh Hiền – Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội chủ biên, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong công tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ phẫu thuật tim tại Việt Nam.
  • Khi thành phố lên đèn
    Lang thang trên góc phố quen thuộc nhìn những ngọn đèn chiếu những tia sáng yếu ớt khiến bóng tôi đổ dài trên mặt đường. Tâm trí tôi lại nhớ về một thủa xưa cũ nào đó khi mà ánh sáng vẫn còn chút gì đó mới mẻ. Bởi thế mà tôi lại vô cùng thích thú khi được ngắm nhìn cảnh Hà Nội lên đèn. Từng ngọn đèn được bật sáng chiếu rọi con đường tôi đi ngang qua. Hàng cột điện thẳng tắp nối đuôi nhau thắp sáng khiến tôi thấy có chút háo hức mong chờ. Chờ đợi khoảnh khắc ấy. Khoảnh khắc tưởng chừng như rất đơn giản, rất đỗi bình thường và vẫn diễn ra hàng ngày ấy. Bây giờ ánh sáng có thể nhìn thấy bất kỳ đâu, bất kỳ chỗ nào và đủ mọi màu sắc nhưng trước kia thì khác. Ánh sáng là một điều gì đó rất xa xỉ.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Ngôi nhà xưa và ký ức về bà
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO