Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Mùa thu ở số 101

Hà Vinh Tâm 31/08/2026 11:50

Hà Nội với tôi trong mùa thu này bắt đầu từ một con số: 101. Gần đúng những ngày này một năm trước, tôi đã đi tìm con số ấy trong một trận mưa tầm tã. Bác ruột chở tôi đến số 101 Trần Hưng Đạo để dự tuyển nghiên cứu sinh. Quanh đó đang có những đoạn đường thi công, lối vào bị chắn, hai bác cháu cứ vòng đi vòng lại giữa mưa. Hà Nội sau màn nước nhòe đi. Tôi ngồi sau xe, ôm túi hồ sơ trước ngực, vừa sợ muộn giờ, vừa thấp thỏm trước một ngưỡng cửa mà khi ấy chưa biết có mở ra cho mình hay không. Một địa chỉ giữa lòng Hà Nội, hôm ấy, sao mà khó tìm đến thế.

Một năm sau, cũng tháng Tám, tôi trở lại. Lần này, tôi đã là một nghiên cứu sinh. Qua cánh cổng số 101 Trần Hưng Đạo, phố xá dường như lùi lại phía sau. Ngôi nhà cổ mang dáng kiến trúc Pháp đứng trầm tĩnh giữa khuôn viên nhiều cây xanh. Tường vàng, cửa xanh, những ô cửa chớp, những bậc cầu thang trải thảm đỏ, khoảng ban công đầy lá... Tất cả có vẻ đẹp trầm mặc, tự tại như thể thời gian ở đây đã biết cách đi thật khẽ. Sau này tôi mới biết ngôi nhà chính được xây vào khoảng những năm 1910-1911. Hơn một thế kỷ đã đi qua trên những bức tường ấy. Nhưng điều khiến tôi yêu 101 trước hết không phải tuổi của ngôi nhà, mà là cảm giác mỗi sáng bước vào cổng, lòng mình tự nhiên chậm lại. Người đầu tiên tôi quen ở đây là bác bảo vệ. Ngày đầu đến học, bác tận tình chỉ cho tôi lên tầng năm khu C. Từ đó, mỗi sáng tôi thường dừng lại chào bác trước tiên. Một lời chào, một nụ cười, đôi câu hỏi han. Chỉ vậy thôi mà người từ xa đến dần thấy một nơi xa lạ trở nên gần gũi.

Tháng Tám ở 101 có một cách chuyển mùa rất khẽ. Tôi chưa dám gọi đó là mùa thu. Thu khi ấy còn mỏng lắm. Chỉ là sau những trận mưa, không khí bỗng dịu đi. Những vòm cây xanh thẫm hơn. Trước cổng, đôi khi một quả hồng xiêm chín rụng xuống, lớp vỏ nâu còn ướt, mùi thơm ngọt thoảng quanh lối vào. Bên tòa nhà chính, cây khế thả những chùm hoa tím li ti. Gần khu nhà ăn có một cây phượng rất lạ. Hoa không đỏ rực như những mùa phượng trong sân trường tôi từng biết, mà phớt hồng, có cánh nhạt gần sang trắng, thấp thoáng giữa vòm lá. Từ tầng năm nhìn xuống, tôi thấy cả tán cây ấy. Những hôm mưa, hoa ướt mềm, sắc hồng tím dịu lại. Có hôm trời vừa hửng, vài khoảng sáng lọt qua tán lá. Mùa hạ dường như vẫn còn nấn ná đâu đó, còn mùa thu đã đứng rất gần, chỉ chưa gọi thành tên.

bai-1-hinh-1-cay-phuong-hong-tu-tang-5.jpg
Cây phượng hồng nhìn từ tầng 5
bai-1-hinh-2-cay-phuong-hong-truoc-nha-an.jpg
Cây phượng hồng trước nhà ăn

Tôi thích những bậc cầu thang dẫn lên tòa nhà chính, căn phòng họp trang nghiêm có tượng Bác Hồ, những cánh cửa cũ và khoảng ban công xanh. Có buổi học xong, tôi đứng lại bên ô cửa tầng năm. Phía dưới là tán cây; xa hơn là một Hà Nội vừa qua mưa. Hà Nội ở độ cao ấy bỗng bình yên hơn. Tôi cũng yêu hơn Hà Nội.

Lớp chúng tôi chỉ có bốn nghiên cứu sinh: Hằng ở Hà Nội, chị Liên từ Tuyên Quang, Mai từ An Giang, còn tôi từ Nghệ An. Bốn người phụ nữ từ bốn miền đất, mỗi người mang đến tầng năm một giọng nói, một công việc, một gia đình, những lo toan và những câu chuyện riêng. Rồi chẳng biết từ bao giờ, bốn người gần nhau như chị em. Những giờ học đưa chúng tôi đi rất xa khỏi căn phòng nhỏ: từ chương trình giáo dục phổ thông của các quốc gia trở về với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; từ phương pháp, đánh giá đến dạy viết, viết sáng tạo và những đổi thay của thời đại trí tuệ nhân tạo. Có buổi tranh luận đến quên giờ. Những điều từng quen thuộc sau nhiều năm đứng lớp bỗng có thêm những phía nhìn mới. Tôi đặc biệt nhớ những người thầy, người cô của mình. Có lúc tôi tự hỏi vì sao những người uyên bác đến thế lại có thể gần gũi đến thế! Thầy cô kiên nhẫn nghe từng câu hỏi, chỉ dẫn tường tận ở những chỗ chúng tôi còn lúng túng, tinh tế nhận ra cả một thoáng mệt mỏi mà học viên không dám nói. Ở họ, tri thức không tạo thành một khoảng cách. Trái lại, càng học, tôi càng thấy mình được khuyến khích bước tới gần hơn.

bai-1-hinh-3-thay-vien-truong-gs.ts-le-anh-vinh-nghien-cuu-sinh-cua-vien.jpg
Thầy Viện trưởng GS.TS- Lê Anh Vinh & Nghiên cứu sinh của Viện
bai-1-hinh-4-ts-do-thu-ha-ncs-cua-vien.jpg
Giảng viên và NCS của viện trong giờ ra chơi

Tôi đã đi dạy nhiều năm, vậy mà ở đó vẫn có những phút ngồi nghe và thấy mình bé lại. Cảm giác ấy thật lạ ở tuổi ngoài bốn mươi. Suốt nhiều năm, tôi đã quen đứng trước học sinh. Bốn năm qua, ngoài những giờ lên lớp, tôi còn mở những khóa đào tạo dành cho giáo viên, cùng đồng nghiệp nói về một giờ Ngữ văn, một cách dạy đọc, một cách dạy viết, về những điều có thể làm khác đi và gần hơn, sáng hơn cho học trò. Tôi quen chia sẻ, quen gợi mở, quen đặt câu hỏi cho người khác. Ở 101, tôi lại được ngồi xuống. Mở một cuốn sổ. Nghe. Ghi chép. Và hỏi.

Có những điều tôi từng nghĩ mình đã hiểu, nay phải trở lại từ đầu. Có những kinh nghiệm từng giúp mình thành công trong lớp học, khi đặt dưới ánh sáng nghiên cứu, lại cần được nhìn bằng một góc nhìn khác bài bản hơn, hệ thống hơn. Càng học, những dấu chấm than trong tôi càng ít đi. Những dấu hỏi nhiều hơn. Tôi thích sự thay đổi ấy.

Một hôm từ tầng năm đi xuống, tôi dừng lại trước tấm biển đá ghi dấu lịch sử của số 101. Từ đó, con số tôi vẫn đọc như một địa chỉ bỗng có thêm một chiều sâu khác. Tháng Tám năm 1945, nơi đây còn mang địa chỉ 101 phố Gambetta. Sáng 16 tháng 8, tại ngôi nhà này, đồng chí Nguyễn Khang triệu tập cuộc họp với Thành ủy Hà Nội để phổ biến Nghị quyết của Xứ ủy về việc thành lập Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, tức Ủy ban Khởi nghĩa. Sáng sớm ngày 18, Ủy ban chuyển vào nội thành, đặt trụ sở tại 101 để kịp thời chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8. Tấm biển đá trước khu nhà hôm nay vẫn ghi dấu ngày ấy. Tôi đọc những dòng chữ rồi ngẩng lên. Vẫn bức tường vàng. Vẫn những ô cửa. Vẫn khoảng sân mà mỗi ngày chúng tôi đi qua với sách vở trên tay. Hơn tám mươi năm trước, cũng những ngày tháng Tám, trong ngôi nhà này là những cuộc họp khẩn trương giữa lúc vận mệnh thành phố chuyển động từng giờ. Ngày 17 tháng 8, cuộc mít tinh trước Nhà hát Lớn đã biến thành một cuộc tuần hành của quần chúng cách mạng. Ngày 19, dòng người từ Quảng trường Nhà hát Lớn tiến đi trong khí thế giành chính quyền. Những con phố Hà Nội hôm nay bình thản dưới những vòm cây từng chứng kiến một mùa thu mà mỗi bước chân đều mang theo nhịp đập của lịch sử.

Tôi không biết sáng tháng Tám năm ấy trời Hà Nội thế nào. Chỉ biết hơn tám mươi năm sau, tôi đang bình yên bước trên những bậc cầu thang của nơi này với một chiếc máy tính và một cuốn sổ trong tay. Có những lúc lịch sử không đến với ta bằng những trang sách dày. Nó lưu lại nơi ký ức mà mình đặt chân đến. Từ tấm biển đá, tôi đi lên tầng năm. Căn phòng vẫn sáng. Trên bàn là sách, máy tính, những trang tài liệu còn mở. Một câu hỏi về giáo dục đang dang dở từ buổi học trước. Khoảnh khắc ấy, quá khứ và hiện tại không hề đứng cạnh nhau một cách ồn ào. Chúng chỉ lặng lẽ soi vào nhau. Tôi không dám đem những câu hỏi nhỏ bé của lớp học hôm nay đặt cạnh những câu hỏi lớn lao của lịch sử năm 1945. Tôi chỉ bỗng thấy sự bình yên mình đang có không hoàn toàn là điều hiển nhiên. Được ngồi trong một căn phòng, được đọc, được nghĩ, được tranh luận; được dành nhiều giờ chỉ để tìm một cách dạy tốt hơn cho học trò - những việc tưởng rất bình thường bỗng trở nên đáng quý.

Lịch sử của 101 vì thế không nằm lại trên tấm biển đá. Nó làm cho hiện tại có chiều sâu đặc biệt. Và hiện tại, bằng những con người đang sống tử tế trong ngôi nhà ấy, lại làm cho lịch sử có hơi ấm. Tôi yêu Hà Nội ở 101 cũng từ những điều như thế.

Một thành phố có thể lưu giữ trong cùng một khuôn viên một ngôi nhà hơn trăm tuổi và một lớp học trên tầng năm; một tấm biển của mùa thu cách mạng; những bậc cầu thang đã cũ và bước chân của những người đang đi tìm điều mới mẻ cho giáo dục. Ở 101, tôi nhớ những bắp ngô, củ khoai, chùm nhãn, quả chôm chôm, quả ổi được chuyền tay nhau giữa giờ. Nhớ một quả thị thơm khiến căn phòng đầy sách vở bỗng phảng phất mùi tuổi thơ “Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện”… và nhớ gói xôi cốm Hằng mang đến lớp. Mở gói xôi ra, màu xanh non nằm dịu trước mắt. Tôi nhón một miếng. Vị dẻo mềm, thơm và ngọt nhẹ. Hằng là người Hà Nội. Tôi là người xứ Nghệ. Chúng tôi ngồi trên tầng năm của một khu nhà đã đi qua hơn một thế kỷ, giữa một buổi tháng Tám, chia nhau một món quà của mùa. Tôi đã từng đọc, từng nghe, từng dạy học trò biết bao câu thơ, bài hát về mùa thu Hà Nội. Nhưng sáng ấy, mùa thu chỉ là một miếng xôi cốm nhỏ trong tay. Thế mà đủ thơm.

Buổi trưa, bốn chị em kê ghế cạnh nhau để nghỉ. Bốn người phụ nữ đã đi qua tuổi học trò từ lâu, vậy mà có hôm thầy cô cho nghỉ sớm năm, mười phút, cả lớp vui như trẻ nhỏ. Có hôm nghe được nghỉ một ngày, không phải làm bài tập, chị em nhìn nhau hớn hở. Tôi bật cười vì chính mình. Ngoài bốn mươi tuổi, tôi mới biết có những mùa tựu trường không bắt đầu bằng tiếng trống. Người học trò ở tuổi này không còn được mẹ sửa cổ áo trước khi đến trường. Trong chiếc túi mang tới lớp, ngoài sách vở còn có công việc, gia đình, những đứa con và bao trách nhiệm của tuổi trưởng thành. Vậy mà ngồi trước thầy cô, tôi vẫn có thể vui vì được nghỉ sớm vài phút. Cô học trò ngày nào hóa ra chưa biến mất.

Những hôm Hà Nội mưa, bốn chị em xuống nhà ăn của Viện. Bữa cơm giản dị mà chúng tôi cứ thấy ngon như cơm mẹ nấu. Ngoài cửa, mưa rơi. Trong này, bốn người vừa ăn vừa kể cho nhau chuyện công việc, gia đình, những vui buồn riêng. Có những điều chẳng ai giải quyết được cho ai, nhưng một người chịu ngồi nghe cũng đã là một cách ở bên nhau. Tôi đã quen nấu cơm cho gia đình, quen chăm sóc người khác, quen đứng trước học trò, trước những lớp giáo viên mình đào tạo. Ở đây, đôi khi chỉ cần ngồi xuống trước một bát cơm nóng, nghe tiếng mưa ngoài cửa, tôi lại thấy mình được bé đi một chút. Được phép bé đi - có lẽ cũng là một niềm vui của việc trở lại làm học trò.

bai-1-hinh-5-khu-nha-an-cua-vien-khoa-hoc-giao-duc-viet-nam.jpg
Khu nhà ăn của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam

Từ 101 nhìn ra, Hà Nội tháng Tám có những hàng cây lâu năm, mái nhà cũ thấp thoáng sau lá, tường vàng, cửa chớp xanh, một khoảng trời vừa mưa xong đã hửng. Kiến trúc giữ dấu thời gian; còn con người làm những không gian ấy có hơi ấm. Bác bảo vệ nhớ mặt những người đi học. Thầy cô uyên bác mà không tạo khoảng cách. Bạn bè từ bốn miền đất chia nhau một củ khoai, một quả ổi, một gói cốm. Những câu chuyện gia đình được nghe bằng sự cảm thông hơn là tò mò. Không ai nói về sự tử tế. Người ta chỉ tự nhiên sống như thế.

Một cánh cửa cũ được giữ lại. Một tấm biển đá không bị lãng quên. Một người biết dừng lại để chào một người. Một người khác nhớ mang phần quà của mùa đến lớp. Và nếp sống, cũng như kiến trúc, là một cách thành phố lưu giữ linh hồn mình.

Cuối tháng Tám, Hà Nội có những buổi sáng dịu hơn.

Sau mưa, cây cối xanh đến lạ. Dưới những vòm cây còn xanh đã lác đác vài chiếc lá vàng. Cái mát lành chạm vào da. Một chiếc lá khô vỡ rất khẽ dưới bước chân. Hương cốm của một buổi sáng nào đó tưởng đã tan rồi, đôi lúc lại trở về trong trí nhớ. Tôi bắt đầu nhìn mọi thứ lâu hơn. Bậc cầu thang trải thảm đỏ. Khoảng ban công xanh. Tấm biển đá dưới sân. Quả hồng xiêm chín trước cổng. Những chùm hoa khế tím. Tán phượng hồng nhìn từ tầng năm. Những chiếc ghế bốn chị em từng kê cạnh nhau vào buổi trưa. Khi biết một điều sắp trở thành ký ức, hình như người ta thường muốn nhìn nó thêm một chút.

Rồi những ngày học ấy sẽ hết. Chị Liên trở về Tuyên Quang. Mai về An Giang. Tôi lại về Nghệ An. Hằng vẫn ở Hà Nội. Căn phòng trên tầng năm rồi sẽ đón những người học khác. Những chiếc ghế sẽ được xếp lại. Ngoài ô cửa, cây vẫn xanh. Chỉ tháng Tám của chúng tôi là đi qua. Tôi đến 101 với một dự định khá rõ ràng: học, nghiên cứu và viết luận án. Nhưng đến lúc sắp rời Hà Nội, tôi thấy điều mình mang về có lẽ không chỉ nằm trong những trang ghi chép. Tôi nghĩ đến những học trò đang đợi mình trở lại lớp. Nghĩ đến những giáo viên tin yêu từng ngồi cùng tôi trong những khóa học suốt bốn năm qua. Tôi không biết sau quãng thời gian này mình sẽ nói với họ được thêm bao nhiêu điều. Chỉ mong mình biết nghe nhiều hơn. Biết hỏi kỹ hơn. Và trước một điều tưởng đã hiểu, còn đủ bình tĩnh để nhìn lại một lần nữa.

Một buổi chiều, tôi đứng bên ô cửa tầng năm. Cây phượng phía dưới vẫn xanh. Những chùm hoa hồng tím nép trong tán lá. Sau một trận mưa, vài giọt nước còn đọng trên cành. Xa hơn là một khoảng Hà Nội vừa hửng sáng. Tôi đứng đó một lúc rồi khép cửa. Một năm trước, tôi đội mưa đi tìm số 101. Năm nay, cũng vào những ngày tháng Tám, tôi đã thuộc từng lối nhỏ ra cổng. Vậy mà bước chân bỗng chậm. Tôi ngoái lại. Ngôi nhà đứng yên sau những vòm cây. Tầng năm thấp thoáng qua lá. Bức tường vàng còn ánh lên chút nắng sau mưa. Trước cổng, đâu đó vẫn phảng phất mùi hồng xiêm chín. Tôi chợt nhớ buổi sáng một năm trước, hai bác cháu cứ vòng đi vòng lại giữa Hà Nội mà không tìm thấy lối vào. Bây giờ thì tôi đã thuộc đường. Chỉ có điều, khi đi tìm một địa chỉ, tôi đâu biết rằng phía sau cánh cổng ấy có một ngôi nhà hơn trăm tuổi, một mùa thu của lịch sử, một lớp học trên tầng năm, những người thầy, những người bạn, một gói xôi cốm và một phần mình tưởng đã đi qua từ rất lâu - cô học trò vẫn còn nguyên niềm vui được học.

Số 101, cuối cùng, không còn là một con số. Nó đã thành một nơi để nhớ về Hà Nội. Tôi bước ra phố. Hà Nội sau mưa vừa hửng nắng. Và mùa thu, đến lúc ấy, hình như đã thật sự bắt đầu! ./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Hà Vinh Tâm. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Hà Nội trong mắt thế hệ mới
    Có một Hà Nội đang hiện ra trước mắt thế hệ trẻ với một diện mạo khác. Những cây cầu mới nối đôi bờ sông Hồng, những tuyến vành đai mở rộng không gian đô thị, những đại lộ kéo dài về phía ngoại thành, những khu đô thị và công trình mới đang từng ngày làm thay đổi cách người Hà Nội đi lại, làm việc, vui chơi và hình dung về tương lai. Hà Nội không còn chỉ nhìn về phía những gì đã làm nên mình mà đang bắt đầu nhìn xa hơn về phía chân trời.
(0) Bình luận
  • Hà Nội trong mắt thế hệ mới
    Có một Hà Nội đang hiện ra trước mắt thế hệ trẻ với một diện mạo khác. Những cây cầu mới nối đôi bờ sông Hồng, những tuyến vành đai mở rộng không gian đô thị, những đại lộ kéo dài về phía ngoại thành, những khu đô thị và công trình mới đang từng ngày làm thay đổi cách người Hà Nội đi lại, làm việc, vui chơi và hình dung về tương lai. Hà Nội không còn chỉ nhìn về phía những gì đã làm nên mình mà đang bắt đầu nhìn xa hơn về phía chân trời.
  • Những người “giữ lại” Hà Nội
    Có những buổi sáng, Hà Nội thức dậy bằng những âm thanh rất khẽ. Tiếng chổi tre trên vỉa hè, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng xe đạp lướt qua con phố còn bảng lảng sương. Và đâu đó, giữa 36 phố phường, vẫn có những âm thanh mà tưởng như đã thuộc về một Hà Nội xa xưa: Tiếng búa gõ vào đe, tiếng giấy sột soạt dưới bàn tay người viết chữ, tiếng gọi nhau mua gói cốm, tiếng người bán hoa báo mùa đang tới.
  • Yêu một Hà Nội
    Ai yêu Hà Nội không? Ai yêu Hà Nội nào? Tôi muốn reo lên những tiếng rao tinh nghịch ấy như muốn khoe với cả thế giới rằng trong trái tim mình có một Hà Nội. Hà Nội nghìn năm văn hiến, đẹp thơ mộng và ngọt ngào, cứ vấn vít lòng tôi một nỗi thương nhớ khôn nguôi. Nơi đó có phố, nơi đó cũng có làng. Phố và làng sánh bước bên nhau, làm nên một Hà Nội nhộn nhịp, êm đềm và tràn đầy sức sống.
  • Sáo ngữ Hà Nội
    Sáng ngôi hóng mát ở bờ hồ Hoàn Kiếm bỗng thấy hai cháu người miền Nam nói chuyện với nhau:
  • Hồ Gươm mãi xanh biếc trong lòng tôi
    “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời. Càng toả ngát hương thơm hoa thủ đô…”. Bài hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng” của nhạc sĩ Phan Nhân được chàng sinh viên trường Đại Học Y Huế cất lên trong cuộc thi “Tiếng hát sinh viên, học sinh” vào những năm 77, 78 đã thôi thúc tôi, làm dậy trong tôi niềm khát khao đến với Hà Nội. Tôi muốn về Hà Nội để được ngắm thủ đô ngàn năm văn hiến, để được nhìn hồ Gươm, một địa chỉ nổi tiếng, một “đặc sản” riêng của Hà Nội, một bông hoa giữa lòng thành phố đã đi vào trong nhiều bài hát làm xao xuyến lòng người.
  • Ngọn đuốc rối nước quê
    Lâu ngày chưa về quê, một sáng mùa hạ, trời trong xanh, mây trắng bồng bềnh, gió thoảng nhẹ như mùa thu, một ngày đẹp trời rất hiếm trong tháng 6 khắc nghiệt của mùa hè. Bữa đó tôi rủ lũ bạn thân sống trong lòng Hà Nội nơi phố phường hào nhoáng nhưng ồn ào, bụi bặm đến nghẹt thở, về thăm quê mình “Làng nghề truyền thống múa rối Đào Thục” xã Thư Lâm ngoại thành, một vùng đất có truyền thống văn hóa, giầu lòng yêu nước ở Kinh Bắc xưa. Đặc biệt hàng trăm năm nay làng tôi giữ một kho báu hiếm có là di sản nghệ thuật múa rối nước rất độc đáo của vùng lúa nước đồng bằng Bắc bộ. Đó là niềm tự hào của dân làng tôi...
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
Mùa thu ở số 101
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO