Bài 2: Bệ phóng thể chế khai mở động lực phát triển làng nghề Hà Nội
Với sự ra đời của Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội, Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, các Nghị quyết thực hiện Luật Thủ đô của HĐND Thành phố Hà Nội, đã phá bỏ rào cản, hơn hết đặt nền móng, kiến tạo bệ phóng để làng nghề Hà Nội bứt phá, đóng góp tích cực hơn vào quá trình phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.



Nghệ nhân Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội, chia sẻ, để các làng nghề Thủ đô phát triển bền vững và khai thác được hết tinh hoa cũng như tiềm lực của mình, cơ chế và chính sách hỗ trợ đóng vai trò quan trọng.
Những vấn đề như mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến cần được quan tâm hơn nữa. Cơ chế, chính sách tốt là cú hích để làng nghề đổi mới, phát triển mạnh mẽ hơn.

“Nếu có cơ chế, chính sách phù hợp, đó sẽ là nguồn hỗ trợ rất thiết thực giúp các làng nghề đổi mới, phát huy tiềm năng sẵn có và phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Và tất nhiên, các làng nghề không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc” - nghệ nhân Hà Thị Vinh cho biết thêm.
Trong bối cảnh đó, Luật Thủ đô, Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng như các Nghị quyết của HĐND Thành phố Hà Nội thi hành Luật Thủ đô, đã thay đổi tư duy quản lý hành chính, “không quản được thì cấm”, chuyển sang tư duy “kiến tạo phát triển”, chấp nhận rủi ro có kiểm soát vì mục tiêu đổi mới sáng tạo. Đối với lĩnh vực di sản và bảo tồn làng nghề, tinh thần này được cụ thể hóa bằng việc cho phép Hà Nội áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và quyền chủ động thiết lập các “Khu phát triển thương mại và văn hóa”.

Đây là một hành lang pháp lý quan trọng và có ý nghĩa to lớn lớn. Từ trước đến nay, một ý tưởng mới nào về kinh doanh dịch vụ văn hóa, giải trí đêm, hoặc ứng dụng công nghệ mới tại các khu vực di sản đều phải trải qua nhiều thủ tục hành chính, do thiếu khung pháp lý điều chỉnh từ các điều luật chung áp dụng cho cả nước.
Giờ đây, với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, Hà Nội được phép khoanh vùng, tạo ra một khung pháp lý an toàn ngay tại vùng lõi các làng nghề có giá trị di sản đặc biệt để thí điểm những mô hình kinh tế văn hóa, dịch vụ sáng tạo chưa từng có tiền lệ.

Đó có thể là việc thí điểm mô hình bảo tàng tương tác số ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) giúp du khách “xuyên không” về quá khứ xem tổ nghề chế tác; là việc phát hành các tài sản kỹ thuật số bảo chứng cho các tác phẩm thủ công độc bản; hay các hình thức kinh doanh lưu trú homestay kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực hành di sản phi vật thể. Thời gian thử nghiệm tối đa lên tới 5 năm (có thể gia hạn), đủ dài để các nhà đầu tư, các nghệ sĩ sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa yên tâm đổ vốn, chất xám vào nghiên cứu và tối ưu hóa mô hình.
Quan trọng hơn, việc thành lập các “Khu phát triển thương mại và văn hóa” tại các làng nghề trọng điểm như lụa Vạn Phúc, gốm Bát Tràng hay làng cổ Đường Lâm được quy định rõ phải lấy sự đồng thuận của cộng đồng dân cư làm nền tảng cốt lõi (yêu cầu trên 50% người dân đồng thuận). Quy định này của Thành phố mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc vì trao quyền tự quyết, quyền làm chủ thực sự cho những người đang trực tiếp sống cùng di sản.

Khi cộng đồng đồng thuận, chính quyền địa phương được quyền linh hoạt điều chỉnh, nới lỏng các thủ tục hành chính về cấp phép hoạt động, nới rộng khung giờ kinh doanh dịch vụ, tổ chức các không gian nghệ thuật đường phố, các chợ phiên thủ công nghệ thuật. Cơ chế này gắn kết chặt chẽ quyền lợi kinh tế của người dân với việc gìn giữ cảnh quan, kiến trúc chung, tạo ra một hệ sinh thái văn hóa tự quản văn minh và đầy sức sống.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, bên cạnh những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế, kết quả điều tra môi trường tại các làng nghề cho thấy trong nước thải có các chỉ số COD, BOD, Nitrat, Amoni vượt giới hạn nhiều lần; trong khi đó, nồng độ bụi PM2.5, PM10 trong không khí vượt mức cho phép từ 1,4 đến 6,7 lần. Đáng chú ý, 46% số làng nghề có môi trường bị ô nhiễm do nước thải sản xuất xả thẳng ra môi trường mà không qua hệ thống xử lý.
Để giải quyết tình trạng này, cụ thể hóa Luật Thủ đô, HĐND Thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/HĐND quy định một số chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn trên địa bàn Hà Nội. Nghị quyết này có các quy định, chính sách đặc thù, mang tới giải pháp đồng bộ để kích hoạt “làng nghề xanh” trên diện rộng.

Thay vì sử dụng các biện pháp hành chính thường đối mặt với một số khó khăn nhất định trong thực thi, Nghị quyết của HĐND Thành phố sử dụng “đòn bẩy” lợi ích kinh tế. Trong đó, HĐND Thành phố quyết định các chính sách ưu đãi vượt khung quy định hiện hành để khuyến khích các cơ sở sản xuất rời khỏi nơi chật hẹp, tiến vào các Cụm công nghiệp làng nghề được quy hoạch bài bản, có hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt chuẩn.
Thời gian qua, nhiều dự án cụm công nghiệp đã và đang được Thành phố Hà Nội triển khai nhằm hiện thực hóa chủ trương này. Điển hình là Dự án Cụm công nghiệp Song Phượng tại xã Đan Phượng với quy mô 6,67ha, góp phần giải quyết nhu cầu mặt bằng sản xuất cho các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở trong làng nghề chuyển vào khu sản xuất tập trung với hạ tầng đồng bộ. Bên cạnh đó Hà Nội cũng thúc đẩy triển khai nhiều dự án cụm công nghiệp khác như Cụm công nghiệp Thanh Đa tại xã Hát Môn, các Cụm công nghiệp: Võng Xuyên, Liên Hiệp (giai đoạn 2), Nam Phúc Thọ (giai đoạn 1), Tam Hiệp và Long Xuyên.

Chính sách ưu đãi của Thành phố tạo sự yên tâm tuyệt đối cho các doanh nghiệp và hộ gia đình tại làng nghề, làng có nghề. Các cơ sở sản xuất di dời được hưởng chính sách miễn toàn bộ tiền thuê đất lên tới 10 năm đầu tiên. Đây là một khoảng thời gian đủ dài để các cơ sở ổn định sản xuất, thu hồi vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng mới. Đối với toàn bộ thời gian thuê đất còn lại của dự án, cơ sở tiếp tục được giảm 50% tiền thuê đất, qua đó xóa tan nỗi lo lớn nhất của người dân về chi phí mặt bằng khi vào cụm công nghiệp.
Bên cạnh đó, áp dụng Luật Thủ đô, Thành phố Hà Nội không để người dân phải gánh chịu chi phí vận chuyển mà sẽ có mức hỗ trợ kinh phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt lại máy móc, thiết bị được quy định 50.000 đồng/m² diện tích nhà xưởng cũ bị di dời, với tổng mức hỗ trợ tối đa lên đến 500 triệu đồng cho mỗi cơ sở sản xuất.

Thành phố Hà Nội cũng có cơ chế chính sách tài trợ đổi mới công nghệ sâu rộng. Để khuyến khích các cơ sở chuyển đổi từ sản xuất thô sang chế tác tinh xảo, ứng dụng tự động hóa và sản xuất sạch, Thành phố tài trợ 50% kinh phí đầu tư (với mức trần tối đa 500 triệu đồng cho một dự án) khi các đơn vị này mua sắm máy móc tiên tiến, công nghệ xử lý môi trường khép kín.
Có thể khẳng định, gói “đòn bẩy kinh tế” nói trên biến một yêu cầu bắt buộc trở thành một cơ hội tái cấu trúc cho làng nghề Hà Nội trong thời kỳ phát triển mới. Các tổ chức, cá nhân hoạt động tại làng nghề sẽ có đủ tiềm lực tài chính để thay đổi, vươn lên mạnh mẽ, mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Ở chiều ngược lại, khi các xưởng sản xuất gây ảnh hưởng môi trường sống được rút đi, không gian lõi của làng quê sẽ được trả lại sự trong lành, bình yên, sẵn sàng cho việc tái thiết cảnh quan phục vụ du lịch di sản mà làng nghề đóng vai trò trọng tâm.

Đặc biệt, dù máy móc, công nghệ hiện đại cỡ nào thì trong nền kinh tế sáng tạo, con người vẫn là yếu tố quyết định, là chủ thể và là trung tâm của mọi giá trị văn hóa. Thấu hiểu nghệ nhân là chủ thể sáng tạo duy trì "mạch máu" của di sản, Thành phố Hà Nội đã ban hành hệ thống chính sách đãi ngộ tốt hơn, cao hơn so với trước đây cả về vật chất lẫn tinh thần đối với các nghệ nhân làng nghề.
Thành phố Hà Nội biến việc tôn vinh, bảo vệ nguồn nhân lực di sản thành một nội dung chi thường xuyên, bắt buộc và ưu tiên của ngân sách Thành phố. Sự trân trọng của Nhà nước và xã hội được cụ thể hóa bằng định mức rõ ràng, minh bạch. Các cá nhân khi được phong tặng danh hiệu sẽ nhận mức hỗ trợ một lần để khích lệ tinh thần lao động sáng tạo: 40 triệu đồng đối với Nghệ nhân Nhân dân; 30 triệu đồng đối với Nghệ nhân Ưu tú; 20 triệu đồng đối với Nghệ nhân Hà Nội.

Tuy nhiên, tính đột phá và nhân văn nhất của Thành phố Hà Nội nằm ở chính sách giải quyết trực tiếp nguy cơ đứt gãy thế hệ. Thành phố quy định mức bồi dưỡng, trả thù lao trực tiếp cho các nghệ nhân khi tham gia quá trình truyền dạy nghề cho thanh niên, học sinh, thế hệ trẻ. Cụ thể, định mức thù lao được ấn định 500.000 đồng/người/buổi đối với Nghệ nhân Nhân dân và 300.000 đồng/người/buổi đối với Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Hà Nội.
Chính sách này mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, không chỉ cung cấp một khoản thu nhập bảo đảm đời sống vật chất để các nghệ nhân yên tâm gắn bó với nghề, mà cao hơn là sự định danh, thừa nhận lao động truyền dạy di sản cũng là một hình thức lao động chuyên gia chất lượng cao. Khi vị thế và lòng tự hào nghề nghiệp được trân trọng, các nghệ nhân của các làng nghề sẽ dốc hết tâm huyết, rút ruột nhả tơ để trao truyền “ngọn lửa nghề” và những bí kíp cho lớp trẻ. Sợi dây liên kết có nguy cơ "đứt gãy" nay đã được bện chặt lại, nhân văn và mang đậm hơi thở thời đại, góp sức đưa làng nghề Thủ đô được gìn giữ, tự tin vươn mình trong kỷ nguyên mới./.

Nội dung: Trung Kiên / Thiết kế: Phạm Hoa
22/07/2026 11:00