Văn hóa

Tái định vị giáo dục văn hóa: Nền tảng để văn hóa trở thành động lực nội sinh, phát triển bền vững của đất nước

Trung Kiên 14:48 20/04/2026

Trong bối cảnh Việt Nam triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, việc tái định vị giáo dục văn hóa trở thành một yêu cầu cấp thiết. Từ đó, TS. Trần Thị Tuyết Sương – Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đề xuất các hàm ý chính sách nhằm định vị giáo dục văn hóa như một trục phát triển, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam bền vững trong kỷ nguyên mới.

Đổi mới quản trị, thể chế giáo dục văn hóa theo hướng liên ngành

TS. Trần Thị Tuyết Sương cho rằng, một trong những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của giáo dục văn hóa tại Việt Nam hiện nay nằm ở sự phân tách kéo dài giữa các lĩnh vực chính sách. Dù cùng hướng tới mục tiêu phát triển con người, các trụ cột như giáo dục, văn hóa và kinh tế sáng tạo vẫn vận hành theo những quỹ đạo tương đối độc lập, thiếu một cơ chế điều phối đủ mạnh để tạo ra tính liên kết hệ thống. Hệ quả là các chính sách thường dừng lại ở cấp độ “cùng tồn tại”, nhưng chưa đạt tới mức “cùng vận hành”.

tstuyetsuong.png
TS. Trần Thị Tuyết Sương – Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Vì vậy, vấn đề không thể giải quyết bằng việc gia tăng phối hợp mang tính hành chính, mà đòi hỏi một sự chuyển dịch sâu hơn về cách tiếp cận: từ quản lý theo ngành sang quản trị liên ngành được thể chế hóa. Nói cách khác, cần thiết lập một cấu trúc điều phối cho phép các nguồn lực, không gian và trách nhiệm được chia sẻ một cách có quy định và có tính ràng buộc. Điều này bao gồm việc tái cấu trúc vai trò của các thiết chế văn hóa - như bảo tàng, thư viện, trung tâm sáng tạo - từ những không gian “bổ trợ” thành những thành phần cấu thành của hệ thống giáo dục; đồng thời, chính thức hóa sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà trường trong quá trình giáo dục.

Đặt trong bối cảnh Việt Nam, điều này gợi mở một yêu cầu rõ ràng: cần thiết lập các công cụ pháp lý cụ thể như thông tư liên tịch - nhằm quy định việc sử dụng các thiết chế văn hóa trong hoạt động giáo dục chính quy, cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, ý nghĩa của sự thay đổi này không nằm ở bản thân công cụ chính sách, mà ở sự dịch chuyển tư duy: từ việc coi giáo dục văn hóa là một lĩnh vực cần “phối hợp hỗ trợ”, sang việc nhìn nhận nó như một hệ sinh thái cần được “tổ chức lại” để vận hành một cách thống nhất và hiệu quả.

Mở rộng, tái cấu trúc không gian học tập trong giáo dục văn hóa

Một trong những chuyển dịch đáng chú ý trong tư duy giáo dục văn hóa là việc phá vỡ ranh giới truyền thống của “không gian học tập”. Thay vì được giới hạn trong nhà trường, học tập được hiểu như một quá trình phân tán, diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau và gắn trực tiếp với đời sống văn hóa của cộng đồng. Theo đó, giáo dục văn hóa không còn là một hoạt động có địa điểm cố định, mà trở thành một dòng chảy liên tục giữa các không gian vật lý, xã hội và số.

Điều quan trọng không nằm ở việc “mở rộng địa điểm học”, mà ở việc thay đổi bản chất của việc học: từ tiếp nhận tri thức sang trải nghiệm và tham gia vào các thực hành văn hóa. Tại Việt Nam, nghịch lý không nằm ở sự thiếu vắng các không gian văn hóa, mà ở việc những không gian này chưa được tích hợp vào cấu trúc học tập.

vanmieuqtg.jpg
Các em học sinh tại Hà Nội tìm hiểu về Bia Tiến sỹ tại Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Bảo tàng, di tích, làng nghề hay các không gian sáng tạo vẫn chủ yếu tồn tại như những điểm đến tham quan, thay vì trở thành những “môi trường học” có chức năng giáo dục rõ ràng. Điều này cho thấy một khoảng trống không phải về tài nguyên mà về cách tổ chức và định nghĩa lại vai trò của các không gian văn hóa trong quá trình học tập. Từ góc độ chính sách, điều cần thiết không chỉ là tăng cường hoạt động trải nghiệm, mà là tái cấu trúc mô hình học tập theo hướng “xã hội hóa không gian học”. Khi đó, học tập không còn bị giới hạn bởi trường lớp, mà diễn ra trong chính đời sống.

Gắn giáo dục văn hóa với phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo

“Khi văn hóa được nhìn nhận như một lĩnh vực sản xuất thì giáo dục văn hóa đồng thời trở thành không gian nơi năng lực sáng tạo được phát hiện, nuôi dưỡng và chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội. Điều này kéo theo một thay đổi căn bản: người học không chỉ là người tiếp nhận di sản, mà còn là chủ thể có khả năng tái tạo, diễn giải và đưa văn hóa vào các chuỗi giá trị mới” - TS. Trần Thị Tuyết Sương, nhấn mạnh.

Ở nước ta, mối liên kết giữa giáo dục văn hóa và thị trường sáng tạo vẫn còn chưa chặt chẽ. Hoạt động giáo dục chủ yếu dừng ở việc truyền dạy kỹ năng hoặc tri thức văn hóa, trong khi con đường chuyển hóa những năng lực này thành cơ hội nghề nghiệp và giá trị kinh tế chưa được thiết lập rõ ràng. Bởi vậy dẫn đến một nghịch lý: tiềm năng sáng tạo tồn tại trong giáo dục, nhưng lại chưa được kết nối với các hệ sinh thái sản xuất và tiêu dùng văn hóa.

Từ góc độ chính sách, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển công nghiệp văn hóa như một lĩnh vực độc lập, mà là tái cấu trúc giáo dục văn hóa để trở thành một phần của chuỗi giá trị sáng tạo. Điều này bao hàm việc xây dựng các lộ trình học tập gắn với nghề nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo, phát triển các kỹ năng liên ngành (từ thiết kế, truyền thông đến công nghệ số), đồng thời thiết lập các cơ chế kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, không gian sáng tạo và thị trường văn hóa.

Ở bình diện rộng hơn, sự gắn kết này không nên được hiểu như một quá trình “thị trường hóa” văn hóa, mà là điều kiện để người học có thể tham gia một cách chủ động, có năng lực và có ý nghĩa vào đời sống kinh tế - văn hóa đương đại. Khi đó, giáo dục văn hóa không chỉ chuẩn bị cho việc hiểu văn hóa, mà còn mở ra khả năng sống và làm việc trong chính không gian văn hóa đang vận động.

Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển năng lực sáng tạo số trong giáo dục văn hóa

Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận, sản xuất và tái tạo văn hóa. Trong bối cảnh đó, giáo dục văn hóa không thể tiếp tục vận hành trên nền tảng của những phương thức truyền thống, nơi công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Thay vào đó, cần nhìn nhận công nghệ như một môi trường văn hóa mới - nơi các hình thức sáng tạo, biểu đạt và học tập được tái cấu trúc một cách toàn diện.

baotang2.png
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại Hà Nội đã, đang đẩy mạnh chuyển đổi số với các video minh họa, màn hình tra cứu thông tin mang đến cho du khách trải nghiệm hoàn toàn mới.

Theo TS. Trần Thị Tuyết Sương, Việt Nam cần hướng tới một bước chuyển sâu hơn: từ số hóa sang kiến tạo môi trường số cho giáo dục văn hóa. Các thư viện số về di sản phi vật thể, các nền tảng học tập tương tác 3D, hay việc ứng dụng AI để cá nhân hóa quá trình học tập nghệ thuật không chỉ giúp bảo tồn văn hóa, mà còn tạo điều kiện để người học tham gia vào các thực hành sáng tạo mới. Đây chính là điểm giao thoa giữa bảo tồn, giáo dục và đổi mới sáng tạo - nơi giáo dục văn hóa có thể đóng vai trò như một động lực quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế sáng tạo số.

Ở bình diện rộng hơn, chuyển đổi số không chỉ mở rộng công cụ, mà đang định hình lại cách con người hiểu và sống với văn hóa. Trong tiến trình đó, giáo dục văn hóa cần được tái định vị như không gian nơi các năng lực sáng tạo, tưởng tượng và biểu đạt được phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với công nghệ - những năng lực mà chính công nghệ không thể thay thế.

Tái cấu trúc cơ chế tài chính: từ hỗ trợ sang kích hoạt hệ sinh thái

TS. Trần Thị Tuyết Sương cho rằng, một trong những khác biệt mang tính nền tảng giữa các hệ thống giáo dục văn hóa phát triển và những hệ thống còn đang chuyển đổi không nằm ở quy mô đầu tư, mà ở cách thiết kế cơ chế tài chính. Khi văn hóa vẫn được nhìn như một lĩnh vực cần “hỗ trợ”, các chính sách thường tập trung vào cấp phát ngân sách cho hoạt động. Ngược lại, khi văn hóa được đặt trong logic của một hệ sinh thái sáng tạo, tài chính trở thành công cụ để kích hoạt nhu cầu, kết nối các chủ thể và hình thành thị trường.

Đối với Việt Nam, từ chỗ tập trung vào hỗ trợ hoạt động, cần hướng tới việc kích hoạt hệ sinh thái, nơi người học trở thành trung tâm của dòng chảy giá trị. Việc thí điểm các cơ chế như voucher văn hóa, quỹ công - tư cho sáng tạo hay các nền tảng kết nối giữa giáo dục và thị trường có thể là những bước đi ban đầu, nhưng quan trọng hơn là tạo ra một cấu trúc tài chính cho phép các nguồn lực được lưu chuyển, tích lũy và tái đầu tư trong hệ sinh thái văn hóa.

Bên cạnh đó, tái cấu trúc tài chính không chỉ nhằm giải quyết vấn đề nguồn lực, mà là điều kiện để giáo dục văn hóa thực sự trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo. Khi đó, giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn, mà còn được tái tạo và lan tỏa thông qua chính các cơ chế kinh tế được thiết kế phù hợp.

Phát triển nguồn nhân lực và tái định vị vai trò của các chủ thể văn hóa

Cách tiếp cận truyền thống, giáo dục văn hóa chủ yếu được triển khai thông qua đội ngũ giáo viên chính quy, với nội dung đã được chuẩn hóa. Điều này đảm bảo tính hệ thống, nhưng đồng thời cũng tạo ra một khoảng cách nhất định giữa tri thức được giảng dạy và đời sống văn hóa thực hành.

Trong khi đó, theo quan điểm của UNESCO, văn hóa là một quá trình sống, được duy trì và tái tạo bởi chính các cộng đồng và những người thực hành di sản. Vì vậy, các nghệ sĩ, nghệ nhân hay người nắm giữ tri thức bản địa không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà cần được nhìn nhận như những chủ thể giáo dục có vai trò trung tâm trong việc truyền tải “tri thức sống”.

ca-tru-7.jpg
Việc truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể ca trù cho thế hệ trẻ tại Hà Nội được duy trì, thực hiện nhiều năm qua.

Việt Nam không thiếu những chủ thể văn hóa giàu tri thức, chỉ là chưa được tích hợp một cách có hệ thống vào cấu trúc giáo dục. Đội ngũ giáo viên vẫn đóng vai trò trung tâm, trong khi các nghệ nhân và người thực hành di sản - những người nắm giữ các hình thức tri thức gắn với trải nghiệm, kỹ năng và bối cảnh văn hóa cụ thể - chưa có vị trí rõ ràng trong quá trình giảng dạy. Điều này khiến giáo dục văn hóa dễ rơi vào tình trạng “giảng giải về văn hóa” hơn là “học trong văn hóa”.

Từ góc độ chính sách, yêu cầu đặt ra không chỉ là bổ sung lực lượng, mà là thiết lập một cơ chế công nhận và tích hợp các chủ thể văn hóa vào hệ thống giáo dục. Điều này có thể bao gồm việc xây dựng các chuẩn nghề nghiệp và chứng nhận sư phạm đặc thù cho nghệ nhân, thiết kế các mô hình đồng giảng dạy giữa giáo viên và nghệ nhân, cũng như phát triển các chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút sự tham gia của họ.

Đây không đơn thuần là một giải pháp về nhân lực mà là một bước tái cấu trúc nhận thức: từ việc coi tri thức văn hóa là nội dung cần truyền đạt, sang việc nhìn nhận nó như một thực hành sống cần được trải nghiệm và kế thừa. Khi đó, giáo dục văn hóa không chỉ truyền tải tri thức, mà còn tái kết nối người học với những nguồn lực văn hóa đang tồn tại trong chính cộng đồng của họ./.

Bài liên quan
  • Nghị quyết 80-NQ/TW: “Mở đường” cho công nghiệp văn hóa bứt phá
    Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã mở ra một chương mới, nơi nghệ thuật, giải trí và di sản không còn đứng ngoài dòng chảy kinh tế. Đây là lúc công nghiệp văn hóa vươn mình, khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng mũi nhọn, đưa bản sắc Việt Nam tỏa sáng trên bản đồ kinh tế toàn cầu.
(0) Bình luận
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026: Mạch tri thức - Từ trang sách đến không gian số
    Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam không chỉ tôn vinh những giá trị tri thức truyền thống mà còn đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong phương thức đọc và tiếp cận tri thức trong kỷ nguyên số.
  • Tạo thế và lực “xuất khẩu” văn hóa Việt Nam
    Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra mục tiêu nước ta vươn lên nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm, với các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 9% GDP vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, chúng ta phải dịch chuyển tư duy coi văn hóa là lĩnh vực bảo tồn, giao lưu phong trào sang tư duy kiến tạo một nền công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn, tạo động lực phát triển kinh tế và định vị vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
  • Làng Văn Uyên khai hội xuân Bính Ngọ 2026
    Ngày 24/3/2026 (tức mùng 6 tháng 2 âm lịch), xã Nam Phù đã trang trọng tổ chức khai mạc Hội làng truyền thống Văn Uyên năm 2026. Đây không chỉ là dịp để hậu thế tri ân công đức tổ tiên mà còn là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một làng văn hóa tiêu biểu, đang chuyển mình kết nối di sản với phát triển du lịch cộng đồng tại Thủ đô.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn - Nơi lưu giữ ký ức về một nhân cách lớn của Thủ đô Hà Nội
    Những ngày cuối năm 2025, tôi có dịp đến Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn tại thôn Bặt Chùa, xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội. Giữa cánh đồng rộng mở, trong làn gió nhè nhẹ và sự thanh bình của một miền quê còn đậm nét Bắc Bộ ở phía nam Thủ đô, Khu lưu niệm hiện lên trang nghiêm mà gần gũi. Bước chân tôi chợt chậm lại như đang đi vào một không gian của ký ức, nơi lưu giữ câu chuyện về một nhân cách lớn đã dành trọn cuộc đời phụng sự đất nước và Nhân dân.
  • Cá thể hóa điều trị: xu hướng nâng cao hiệu quả cho bệnh nhân tim mạch và chuyển hóa
    Trong bối cảnh mô hình bệnh tật tại Việt Nam đang có những dịch chuyển đáng kể, sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh lý không lây nhiễm, đặc biệt là nhóm bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa, đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho hệ thống y tế. Để giải quyết bài toán này, xu hướng "cá thể hóa điều trị" — tức thiết kế phác đồ chuyên biệt cho từng người bệnh dựa trên các đặc điểm lâm sàng cụ thể — đang trở thành kim chỉ nam trong thực hành lâm sàng hiện đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Phường Phú Lương phấn đấu hoàn thành chiến dịch "45 ngày" xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
    Thực hiện Kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội, chiều ngày 14/7, UBND Phú Lương tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch chiến dịch "45 ngày" hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn phường.
Tái định vị giáo dục văn hóa: Nền tảng để văn hóa trở thành động lực nội sinh, phát triển bền vững của đất nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO