Hà Nội xưa - nay

Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội

PGS.TS Trần Thị An 08:12 20/04/2026

Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.

untitled-2.jpg
Phố Lãn Ông xưa

Hà Nội 36 phố phường

Tên gọi “Hà Nội 36 phố phường” đã trở thành một danh xưng quen thuộc của Thăng Long - Hà Nội. Sự ra đời của Thăng Long được cho là có sự kết hợp giữa “thành” (trung tâm chính trị) và “thị” (trung tâm kinh tế). PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ cho biết: “Từ thế kỷ XI, Thăng Long được thành lập, trước hết là phần thành, sau đó kéo theo phần thị”. Và “phường” ra đời từ các yêu cầu quy hoạch thành phố liên quan đến cả yếu tố chính trị và kinh tế.

Trong công trình “Hà Nội nghìn xưa”, GS. Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Sán cho rằng: “Ngoài chợ còn có phường phố là khu dân sự. Phường không phải là tổ chức xã hội của thợ thủ công, mà đúng ra là một đơn vị hành chính cấp cơ sở của kinh thành. Phường ở thành thị cũng như xã ở nông thôn… Quy hoạch thành thị trung cổ, Đông cũng như Tây, đều dựa theo nguyên tắc chia thành phố thành từng ô như bàn cờ. Cho nên chữ “phường”, theo nguyên nghĩa, là một khu đất vuông. Trên khu đất đó, thường tập trung thợ thủ công cùng một nghề, và thường cùng một quê”.
Nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ cũng chỉ ra rõ mối quan hệ giữa “phường” và “phố”. Ông viết: “Nếu phường được coi như một diện tích thì phố chính là một trục của phường gồm có một con đường, hai bên có nhà cửa - nhà ở và thường là cửa hiệu có bề mặt trông ra mặt đường. Các cửa hiệu đó thường vừa là cửa hàng sản xuất một số mặt hàng thủ công đòi hỏi kỹ thuật tinh (đồ vàng, bạc, đồ thêu, giày hài…) vừa là cửa hàng bày bán các hàng hóa đó”.

Về sự ra đời của đơn vị hành chính “phường”, thư tịch cho biết đã có từ trước năm 1230. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: năm 1230, “định các phường về 2 bên tả hữu của kinh thành, bắt chước đời trước chia làm 61 phường”. “Phố” là tên gọi xuất hiện muộn hơn “phường”. Trong cuốn “Phố phường Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII - XVIII - XIX”, PGS.TSNguyễn Thừa Hỷ cho biết: “Trong chính sử, từ “phố” xuất hiện khá muộn so với từ “phường”. Không tìm thấy tên các “phố” trong sách sử thời Lý - Trần và ngay cả ở đời Lê. Trong “An Nam chí nguyên”, khi nói về An Nam thời thuộc Minh, Cao Hùng Trưng có dùng từ “phố xá”, nhưng với ý nghĩa là các trạm dịch. Từ phố mang ý nghĩa kinh tế hình như chỉ chính thức xuất hiện từ thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn. Về nguồn gốc, “phố” vừa có nghĩa là một bến, bờ, một đường dọc sông (như Nam phố, bến Nam tức phố Hàng Bè), vừa có nghĩa là phố xá, cửa hiệu”.

Con số 36 phố phường có thể bắt nguồn từ việc vua Lê Hiển Tông (ở ngôi 1740-1786, niên hiệu Cảnh Hưng) chia kinh thành thành 36 khu nhằm phục vụ mục đích an ninh. “Đại Việt sử ký tục biên” chép: “hạ lệnh chia bên trong kinh thành làm 36 khu, mỗi khu đặt một quan coi giữ việc tuần phòng, khám xét”. Con số này cũng đã xuất hiện trong “Đại Nam nhất thống chí”. Sách này chép: “Hà Nội là kinh đô xưa nguyên trước có 36 phường phố, nay ở quanh phía Đông Nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng nhân vật cũng phồn thịnh”.

tac-pham-sap-dat-cua-hoa-si-tran-thi-hoi-tai-dinh-tu-thi..jpg
Tác phẩm sắp đặt của họa sĩ Trần Thị Hội tại đình Tú Thị.

Đây có lẽ cũng là căn cứ để một bài ca dao được Dương Quảng Hàm ghi lại trong cuốn “Việt Nam thi văn hợp tuyển”, bài “Ba mươi sáu phố ở Hà Nội” (“Rủ nhau chơi khắp Long Thành/ Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai”) xuất bản lần đầu năm 1940 hay cuốn tản văn “Hà Nội ba mươi sáu phố phường” của Thạch Lam, xuất bản năm 1943. Sự lan truyền mạnh mẽ của bài ca dao (thậm chí trở thành lời của một bài hát xẩm vang lên khắp chợ cùng quê) và cuốn tản văn nói trên khiến con số 36 gắn với Hà Nội và danh xưng “Hà Nội 36 phố phường” trở thành một mặc định phổ biến cho đến hôm nay.
Bên cạnh nghĩa là “một tập hợp các con phố kinh doanh”, là “một đơn vị hành chính”, là “nơi tập trung dân cư của thợ thủ công cùng làm nghề”, thì “phường” còn có nghĩa là chỉ những người cùng chung một nghề, theo nghĩa “phường nghề”. Tục ngữ có câu: “Buôn có bạn, bán có phường” là để chỉ nghĩa này.

Ở Hà Nội, các phố phường được chia thành 3 khu: khu liên quan đến thành, khu liên quan đến quy hoạch mới của Pháp từ cuối thế kỷ XIX và khu phố cổ được biết đến với tên gọi 36 phố phường.
Các con phố gắn với nghĩa phường nghề ở khu phố cổ được nhận diện bởi tên gọi có chữ “Hàng” kết hợp với một nghề nào đó, ví dụ Hàng Bạc, Hàng Mã. Điều này cho thấy, ở đây, phố gắn với phường và phường gắn với nghĩa là nơi tập trung hoặc tổ chức của một nghề thủ công nhất định. Tuy nhiên, các thống kê cho thấy ngoài 36 phố phường được liệt kê trong bài ca dao “36 phố ở Hà Nội”, số lượng các phố có chữ “Hàng” ở trước thực tế nhiều hơn. Qua thời gian, cùng với sự phát triển của dân cư đô thị, các cơ quan quản lý đã có những điều chỉnh khiến con số này có nhiều thay đổi. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có hơn 60 con phố mang chữ “Hàng” ở trước, nhiều trong số đó vẫn là nơi sản xuất hoặc buôn bán mặt hàng gắn với tên phố.

Về đặc điểm địa lý, các phố “Hàng” đều nằm ở phía Đông thành phố, nơi có điều kiện giao thương thuận lợi bằng đường thủy trong nội khu cũng như với bên ngoài. Cư dân của các phường nghề ở Thăng Long - Hà Nội hầu hết đều từ các vùng quê có nghề này chuyển đến. Trong cuốn “Phố phường Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII-XVIII-XIX”, PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ viết: “Nguồn gốc của những thợ thủ công này không thuần nhất. Một số ít là dân gốc bản địa tại các phố phường, sinh sống qua nhiều thế hệ. Đại bộ phận là dân di cư từ các địa phương khác đã đến sinh cơ lập nghiệp tại Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII - XVIII, một số có thể sớm hơn hoặc muộn hơn”. Ông cũng cho biết cách di chuyển của nhóm dân cư này như sau: “Phương thức di dân phổ biến là đồng loạt: cả một tập thể thôn xóm hoặc làng đã theo những người họ hàng hoặc các vị tổ nghề; cùng nhau lên kinh đô, rồi cũng lại cùng nhau quây quần cư trú tại một địa điểm, một phố phường nhất định. Sự kiện này đã góp phần tạo nên đặc điểm chuyên nghề và chuyên mặt hàng của các phố phường Thăng Long - Hà Nội xưa, một phố đều sản xuất và cũng chỉ sản xuất hoặc bày bán một loại mặt hàng nhất định”.

Phường nghề, phố buôn bán hoặc sản xuất một loại mặt hàng đã trở thành một nét đặc trưng về sinh kế và văn hóa của phố cổ. Do đặc điểm này, khu phố cổ đã được đưa vào diện quy hoạch và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Năm 1995, phạm vi khu phố cổ Hà Nội được xác định tại Quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30/3/1995 của Bộ Xây dựng về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ, tồn tại và phát triển khu phố cổ Hà Nội, kèm theo phụ lục danh sách các công trình di tích lịch sử văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng.

Đến năm 2004, khu phố cổ Hà Nội gồm 10 phường của quận Hoàn Kiếm: Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Mã, Cửa Đông, Lý Thái Tổ, Đồng Xuân, Hàng Gai, Hàng Đào đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.

Đình thờ tổ nghề phố cổ - phác thảo một bức tranh

Khu phố cổ Hà Nội trước đây từng có nhiều ngôi đình. Theo khảo cứu của giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, hiện còn dấu tích của khoảng 60 ngôi đình, trong đó chỉ còn khoảng 20 ngôi đình tương đối nguyên vẹn. Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu một tuyến đình thờ tổ nghề gồm 7 ngôi đình tiêu biểu. Đó là: đình Kim Ngân, đình Phả Trúc Lâm, đình Tú Thị, đình Hà Vĩ, đình Lò Rèn, đình Đồng Lạc và đình Phúc Hậu.

dien-mao-moi-cua-dinh-ha-vi-sau-khi-tu-bo-ton-tao..jpg
Diện mạo mới của đình Hà Vĩ sau khi tu bổ, tôn tạo.

Đình Kim Ngân (42-44 phố Hàng Bạc, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) là di tích gắn với lịch sử hình thành và phát triển nghề kim hoàn Thăng Long. Đình có hai tầng: tầng một thờ tổ nghề vàng bạc Lưu Xuân Tín, tầng hai thờ Hiên Viên Hoàng Đế - vị tổ bách nghề theo huyền tích phương Đông.

Lưu Xuân Tín là Thượng thư Bộ Lại dưới thời vu Lê Thánh Tông. Sau chuyến đi sứ Trung Quốc, ông được phép lập xưởng đúc bạc nén cho triều đình và đưa thợ làng Châu Khê lên Thăng Long hành nghề. Khi ông qua đời, thợ kim hoàn phố Hàng Bạc tôn ông làm tổ nghề. Về sau, thợ từ Định Công (Thanh Trì, Hà Nội), Đồng Xâm (Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình) cùng hội tụ, tạo nên một phường nghề sầm uất. Do mỗi nơi có một vị tổ riêng, thợ kim hoàn đã phối thờ thêm Hiên Viên Hoàng Đế - ông tổ bách nghề theo huyền tích cổ Trung Hoa.

dinh-kim-ngan-la-diem-di-tich-duoc-nhieu-du-khach-lua-chon-khi-toi-tham-quan-pho-co-ha-noi..jpg
Đình Kim Ngân là điểm di tích được nhiều du khách lựa chọn khi tới tham quan phố cổ Hà Nội.

Sau năm 1954, đình từng là nơi ở của nhiều hộ dân. Từ năm 2009-2011, đình được trùng tu, phục hồi nguyên trạng với ba gian đại đình và ba gian hậu cung, lưu giữ nhiều chạm khắc tinh xảo. Năm 2012, đình được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia.

Đình Phả Trúc Lâm (số 40 phố Hàng Hành, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) là nơi thờ tổ nghề da giày của cư dân phố cổ. Đình tôn thờ 4 vị tổ: Nguyễn Thời Trung, Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân - những người có công truyền nghề cho dân làng Tam Lâm.

dinh-dong-lac-38-p-hang-dao-hang-dao-hoan-kiem-ha-noi-3.jpg
Đình Đồng Lạc ở 38 phố Hàng Đào

Nguyễn Thời Trung quê ở thôn Trúc Lâm (trước thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hải Dương), đỗ tiến sĩ thời Lê - Mạc. Trong chuyến đi sứ Trung Quốc, cùng các ông Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân, ông đã học được kỹ thuật thuộc da, đóng giày tại Hàng Châu - nơi nghề này phát triển sớm. Khi trở về, các ông truyền dạy cho dân quê, khiến nghề da giày Tam Lâm hưng thịnh. Sau này, thợ Tam Lâm mang nghề lên Thăng Long lập nghiệp, dựng đình Phả Trúc Lâm để tưởng nhớ nguồn cội; “Phả” nghĩa là gốc, thể hiện sự tri ân quê hương nghề.

Tương truyền nghề da giày ở Tam Lâm đã có hơn 500 năm. Từ thế kỷ XVII, thợ giày Hải Dương lên Thăng Long, cư trú tại các phố Hàng Giầy, Hàng Hành và dựng đình thờ tổ nghề trên phố Hàng Hành. Đến năm 1869, thời vua Tự Đức, đình được trùng tu bằng gạch ngói, hoàn chỉnh đồ thờ và duy trì lễ tế xuân thu.

Sau Đổi mới, ngành da giày phát triển mạnh, đóng góp lớn cho xuất khẩu. Trước nhu cầu bảo tồn di tích, đình được tu bổ từ năm 2011 và hoàn thành sau một năm, với kiến trúc ba gian kiểu tiền đường - hậu cung như hiện nay. Hằng năm, vào tháng hai và tháng tám âm lịch, các phường nghề về đây làm lễ giỗ tổ. Năm 1995, đình được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Đình Tú Thị còn gọi là đình Chợ Thêu, nay thuộc phường Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi thờ tổ nghề thêu Lê Công Hành (1606-1661) người làng Quất Động. Ông đỗ tiến sĩ năm 1637, làm quan triều Lê, từng đi sứ Trung Quốc và học được kỹ thuật thêu, làm lọng tinh xảo. Sau khi về nước, ông truyền nghề cho dân quê, góp phần hình thành làng nghề thêu Quất Động nổi tiếng. Nhân dân tôn ông là tổ nghề và lấy ngày 12 tháng 6 âm lịch làm ngày giỗ Tổ.

Từ thế kỷ XIX, thợ thêu Quất Động lên Thăng Long lập nghiệp, cư trú tại làng Yên Thái và dựng đình Tú Thị để thờ tổ nghề. Sau năm 1954, đình từng là nơi ở của nhiều hộ dân, đồng thời khu vực xung quanh trở thành nơi họp chợ. Năm 2012, đình được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Từ năm 2015, đình được trùng tu, tôn tạo và trở thành không gian văn hóa sáng tạo, nơi phục dựng và giới thiệu nghề thêu truyền thống, góp phần kết nối quá khứ với đời sống đương đại của phố cổ Hà Nội.

Đình Hà Vĩ (11 phố Hàng Hòm, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) gắn với nghề sơn và làm đồ gỗ sơn. Từ giữa thế kỷ XIX, người làng Hà Vĩ (trước thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông; nay thuộc Hà Nội) mang nghề làm đồ gỗ phủ sơn ta lên Thăng Long lập nghiệp, sau đó có thêm thợ làng Đa Sĩ tham gia, hình thành phường nghề sầm uất. Sản phẩm chủ yếu là hòm, tráp sơn, từ đó hình thành tên phố Hàng Hòm.

Người dân lập đình Hà Vĩ để thờ tổ nghề sơn Trần Lư (1470-1540), người làng Bình Vọng, đỗ tiến sĩ năm 1502, từng đi sứ và học được kỹ thuật sơn son thếp vàng truyền dạy cho dân. Theo văn bia hiện còn, đình đã nhiều lần trùng tu vào các năm 1914, 1921, 1941; bị phá hủy năm 1947 và được phục dựng năm 1951. Trải qua thời gian, đình xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2022, dự án tu bổ được triển khai và hoàn thành vào tháng 6/2023, góp phần bảo tồn di tích gắn với một nghề thủ công truyền thống của Thăng Long. Năm 2014, đình được xếp hạng Di tích lịch sử - nghệ thuật của Hà Nội.
Đình Lò Rèn nằm trong con hẻm của ngõ 1 phố Lò Rèn, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ tổ nghề rèn gồm các vị thần: Phạm Nguyệt thánh sư, Nguyễn Nga thánh sư, Cao Sơn - Quý Minh đại vương thượng đẳng thần, Tả hầu thánh sư, Nguyễn Cẩn thánh sư Quảng gia đô bác đại vương trung hưng thượng đẳng thần, Tý cung thánh sư, Đỗ Sắc thánh sư Vinh quang Linh ứng Đại vương Trung hưng Thượng đẳng thần.

Theo các bậc cao niên, đình được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Ban đầu đình ở mặt phố, nhưng khi nghề rèn phát triển, không gian sản xuất mở rộng, đình được chuyển vào trong như hiện nay. Nội thất giản dị (chủ yếu bằng sắt, gỗ và gạch) nhưng đình vẫn giữ được vẻ trang nghiêm.

giay-da-11-10584951.jpg
Đình Phả Trúc Lâm

Các nghiên cứu cho biết, phường nghề rèn sắt đến Thăng Long theo hai nhóm chính. Một nhóm đến khu vực gần Cửa Nam, lập nên phố làm dao kéo Sinh Từ; nhóm thứ hai đông hơn, chuyên sản xuất nông cụ như lưỡi cày, bừa, cuốc, liềm, hái, dao phát bờ… Trong đó, đông nhất là thợ rèn làng Hoè Thị, đến lập nghiệp tại khu Tân Khai - Tân Thị (tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương xưa), nay là phố Lò Rèn. Do sản xuất nông cụ, đầu thế kỷ XX, nơi đây từng mang tên phố Hàng Bừa. Về sau, khi các phường thợ sắt từ Nam Định, Thanh Hoá tụ cư, nghề phát triển, hình ảnh bễ lò đặt trước cửa nhà trở nên phổ biến, phố được gọi là Lò Rèn. Từ đó, các phường nghề lập đình chung thờ tổ nghề, hình thành đình Lò Rèn ngày nay. Năm 2000, đình Lò Rèn được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa, ghi dấu một nghề thủ công từng rất phát đạt của Thăng Long xưa.

Đình Đồng Lạc ở số 38 phố Hàng Đào, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Theo tư liệu, tổ nghề là bà Nguyễn Thị Diệu Quyên, quê Đại Áng, Thanh Trì, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) người đã truyền dạy nghề làm yếm từ thời Lê. Sau khi mất, bà được tôn là Quyến yếm thị tiên sư và được phối thờ cùng các vị thần Cao Sơn, Linh Lang, Bạch Mã.

Đình mang đặc trưng “đình chợ”, vừa là nơi thờ tự, vừa là nơi buôn bán sản phẩm nghề. Từ thế kỷ XVII, đây đã là điểm giao thương yếm lụa. Đình nhiều lần bị phá hủy và trùng tu, đến năm 1941 được xây dựng hai tầng, tầng dưới buôn bán, tầng trên thờ tự.

Từ năm 2000, đình được phục dựng theo tư liệu cổ trong khuôn khổ hợp tác Hà Nội - Toulouse (Pháp). Hiện nay, tầng một là không gian trưng bày, kinh doanh sản phẩm thủ công, tầng hai là nơi thờ cúng. Năm 2004, đình được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia và trở thành điểm đến văn hóa đặc sắc của phố cổ.
Đình Phúc Hậu (số 2 phố Hàng Bông, phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) thờ tổ nghề tráng gương - thần Phúc Hậu (tên thật là Trần Nhuận Đình). Tương truyền, ông đi sứ thời Trần, học được nghề tráng gương và truyền dạy cho dân. Sau khi ông mất, để tỏ lòng biết ơn ông, người dân ở khu vực thôn Kim Cổ, nơi có nghề làm thiếc và tráng gương đã lập đền thờ ông.

Tương truyền, ông còn nổi tiếng yêu trẻ, thông thạo mọi ngóc ngách kinh thành Thăng Long, kể cả những nơi lũ trẻ thường lui tới. Hễ gia đình có con thất lạc tìm đến, ông đều tận tình giúp đỡ. Vì thế, sau khi ông mất, người dân đến đình khấn cầu tìm người lạc đều linh ứng, nên tôn ông là Phúc Hậu.

Theo thần tích làng Kim Cổ được, ngôi đình này nằm trong quần thể đình - đền - chùa của làng Kim Cổ, huyện Thọ Xương, Hà Nội. Trước đây, khuôn viên đình rộng tới 1 héc ta, nhưng sau năm 1954, khuôn viên đình bị thu hẹp dần. Hiện nay đình có diện tích rất nhỏ, chỉ khoảng 5,5m², gồm hai tầng. Tầng trên đặt ban thờ thần Phúc Hậu và ban thờ Mẫu. Trước đây, đền nằm trong quần thể đình - đền - chùa của làng Kim Cổ. Vào ngày mùng một và ngày rằm, người dân quanh khu vực thường đến cầu bình an, may mắn.

Có thể nói, các đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội là những di sản đặc sắc, phản ánh lịch sử hình thành đô thị gắn với các phường nghề. Ở đó, có thể nhận ra mối quan hệ bền chặt giữa nông thôn và đô thị, giữa sinh kế và tín ngưỡng, giữa truyền thống và hiện đại. Dù trải qua nhiều biến động, các đình vẫn giữ vai trò là không gian văn hóa cộng đồng, lưu giữ ký ức nghề nghiệp và bản sắc đô thị. Việc bảo tồn và phát huy giá trị các đình thờ tổ nghề vì thế không chỉ là gìn giữ di tích, mà còn là tiếp nối mạch sống văn hóa của một đô thị nghìn năm./.

Bài liên quan
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Hà Nội đào tạo 120 tiến sĩ ngành khoa học, công nghệ
    Theo chỉ đạo từ Phó Chủ tịch UBND Thành phố Dương Đức Tuấn, Hà Nội phấn đấu đến hết năm học 2030 - 2031 sẽ hoàn thành đào tạo 120 Tiến sĩ chuyên sâu. Trong đó, 4 chỉ tiêu dành cho công chức Sở Giáo dục và Đào tạo, 116 chỉ tiêu dành cho khối viên chức giảng dạy và quản lý chuyên môn.
  • Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội: Chủ động triển khai chương trình công tác bám sát nhiệm vụ chính trị của Thành phố
    Sáng 11/8, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức Hội nghị sơ kết công tác văn học nghệ thuật 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO