Lý luận - Phê bình

Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt

Nguyễn Thị Thiện • 07:43 31/08/2026

Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.

Dựng tượng đài người nông dân bằng thơ

“Thần Nông” là hình tượng của vị thần trong truyền thuyết phương Đông, tổ của nghề nông, biểu tượng của tri thức canh tác, sự khai mở văn minh lúa nước và sức sống của nông nghiệp. “Chân đất” là hình ảnh gợi tả người nông dân bình dị, lam lũ, gắn trực tiếp với ruộng đồng, bùn đất và đời sống thôn quê. Kết hợp hai hình ảnh “Thần Nông” và “chân đất”, nhan đề trường ca tạo nên ý nghĩa nghệ thuật: cái lớn lao, huyền thoại hòa vào cái bình dị, đời thường. Qua đó, tác giả tôn vinh người nông dân Việt Nam như những “vị thần của ruộng đất”, âm thầm, mộc mạc nhưng gìn giữ sự sống và văn hóa dân tộc.

Với cảm hứng sử thi đậm nét, nhà thơ Phùng Trung Tập không nhìn người nông dân như những cá thể nhỏ bé của đời sống thường nhật mà nâng họ thành chủ thể lịch sử, chủ thể văn hóa dân tộc. Ngay từ phần mở đầu, nguồn gốc người nông dân được nối với huyền thoại khai sinh dân tộc: “Những Thần Nông chân đất Việt Nam/ sinh ra từ giống Tiên Rồng/ Cha Lạc Long Quân,/ Mẹ Âu Cơ trai tài gái sắc…”. Hình tượng “Thần Nông” ở đây không mang nghĩa thần linh siêu nhiên mà là sự “hóa thần” của nhân dân lao động. Đây là một thủ pháp nghệ thuật giàu ý nghĩa tư tưởng: thiêng hóa người nông dân để khẳng định vai trò nền móng của họ trong lịch sử dân tộc.

Trong trường ca, tác giả nhiều lần nhấn mạnh: “Những Thần Nông làm nên lịch sử/ Những Thần Nông giữ cho dân tộc trường tồn”. Câu thơ có kết cấu điệp trùng, giọng điệu trang trọng như một lời tuyên ngôn lịch sử. Người nông dân không phải đứng bên lề lịch sử mà trở thành lực lượng trung tâm tạo dựng và bảo vệ quốc gia từ bao đời nay. Hơn nữa, tác giả đặt người nông dân trong hành trình “mở cõi non sông”: “Có hay chăng người khai thiên lập địa/ Không phải Thánh thần,/ mà là những Nhà Nông!”. Đây là tư tưởng nhân văn rõ nét của tác phẩm. Lịch sử đất nước không được làm nên bởi những huyền thoại xa vời mà bằng mồ hôi, máu xương và lao động của những con người “đầu trần chân đất”.

Nếu chất sử thi làm nên “tầm vóc” của tác phẩm thì cảm hứng nhân văn tạo nên “chiều sâu” của bản trường ca. Người nông dân trong tác phẩm hiện lên lam lũ, nhọc nhằn nhưng giàu nghị lực sống: “Lại khai hoang, lại lần hồi/ Lại gieo hạt, lại đứng ngồi không yên”. Điệp từ “lại” diễn tả vòng tuần hoàn bất tận của lao động và sự hồi sinh. Dù thiên tai, đói nghèo, mất mùa, người nông dân vẫn kiên cường đứng vững, quyết không gục ngã.

Đáng chú ý, tác giả nhấn mạnh đức hi sinh của người mẹ nông dân: “Bầu vú mẹ tóp teo tà áo bẹp nút cài”. Đây là chi tiết hiện thực giàu sức ám ảnh, gợi cả sự nghèo đói vật chất lẫn sự hao kiệt thể chất của người mẹ nông dân. Những câu thơ: “Nuôi từ vua chúa quan lang/ Nuôi từng người chẳng tơ màng hàm ơn!” đã chạm đến bi kịch của người nông dân. Tuy là lực lượng nuôi sống xã hội nhưng họ thường chịu thiệt thòi và bị lãng quên. Tuy vậy, trường ca không sa vào bi lụy. Tác giả luôn nhìn người nông dân bằng cái nhìn biết ơn và tôn kính: “Chẳng màng đúc tượng khắc tên/ Thần Nông chân đất vững bền non sông”. Đó là vẻ đẹp của sự vô danh, bình dị mà vĩ đại.

Tái hiện nền văn minh nông nghiệp lúa nước

Ở chừng mực nhất định, có thể ghi nhận “Thần Nông chân đất” như một “bảo tàng thi ca” về văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Nhà thơ làm sống lại gần như toàn bộ không gian sinh hoạt của cư dân nông nghiệp: từ khai hoang mở đất, đắp đập, be bờ làm ruộng nương đến chọn giống, gieo trồng, chăm sóc lúa, rồi chống lũ, chống hạn đến cả tín ngưỡng mùa màng. Trong quá trình lao động sản xuất ấy, người nông dân đã sáng tạo nên kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca, đã làm nên biết bao tác phẩm nghệ thuật…

Tác phẩm cho thấy chiều sâu tri thức dân gian của người nông dân qua việc tích lũy quy luật thời tiết: “Nhìn trăng tính tháng tính ngày/ Nhìn mây tránh mưa tránh nắng/ Nhìn nước sông biết mùa lũ, hạn”. Đó là những kinh nghiệm được chắt lọc qua hàng nghìn năm cộng cư với thiên nhiên.

Đặc biệt, hình tượng “Đất” xuất hiện dày đặc và mang tính biểu tượng cao: “Đất lành hoa trái mùa mùa tốt tươi/ Đất thiêng gắn bó cùng người”. Và đây nữa: “Đất xám, sỏi cằn, cát pha, tơi mịn/ Đất thó tím gan gà/ Đất phù sa, đất đỏ/ đất tơi xốp, đất bùn, đất mặn/ Chọn chất đất như kén người tri kỷ”. Trong cảm thức của tác giả, đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là linh hồn văn hóa, là ký ức tổ tiên, là nơi khởi nguồn và cũng là nơi trở về của con người: “Sống nương tựa đất thành thân/ Chết về với đất hóa thành non sông.”

Một trong những chiều sâu tư tưởng đáng chú ý của trường ca là những triết lý về cội nguồn dân tộc. Rất nhiều lần tác phẩm nhắc đến quan hệ giữa các thế hệ: “Như nước có nguồn, như cây có cội/ Con người có tổ, có tông”. Đây là sự tiếp nối trực tiếp của đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân tổ tiên của người Việt. Tác giả cảnh báo: “Quên nguồn gốc tổ tiên/ Coi là mất sạch!”. Câu thơ ngắn, mạnh, có tính cách ngôn, cho thấy trong cái nhìn minh triết của nhà thơ, đánh mất ký ức văn hóa đồng nghĩa với việc đánh mất bản thể dân tộc. Hình tượng “Thần Nông chân đất” vì thế vừa là tổ tiên cụ thể, vừa là biểu tượng của căn tính Việt Nam.

Cảm hứng sử thi và chất liệu dân gian

Trường ca “Thần Nông chân đất” kết hợp hài hòa cảm hứng sử thi với chất liệu dân gian. Nếu cảm hứng sử thi tạo nên tầm vóc của hình tượng người nông dân thì chất liệu dân gian lại đem đến cho tác phẩm vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi và đậm bản sắc văn hóa.
Trước hết, cảm hứng sử thi được thể hiện rõ qua giọng điệu hợp xướng ngợi ca. Nhà thơ lặp lại kết cấu “Hát về…” ở nhiều đoạn thơ, như: “Hát về Tổ tiên/ Những Thần Nông chân đất…”, tạo nên nhịp điệu ngân vang và âm hưởng của một bản hợp xướng cộng đồng. Bên cạnh đó, kết cấu trường ca được triển khai theo dòng lịch sử dân tộc. Tên các chương như: “Hóa thần”, “Giao hưởng vũ trụ”, “Mở cõi non sông”, “Trằn trọc theo mùa”… không chỉ là sự phân chia nội dung mà còn gợi tiến trình văn hóa từ huyền thoại khai sinh cộng đồng đến quá trình mở đất, duy trì sự sống và tiếp nối các thế hệ. Chính kết cấu ấy đã tạo nên tầm vóc trường thiên sử thi cho tác phẩm.

Nếu cảm hứng sử thi tạo nên chiều cao tư tưởng thì chất liệu dân gian lại tạo nên vẻ đẹp gần gũi, đậm hồn quê của trường ca. Đọc “Thần Nông chân đất”, dễ nhận thấy ngôn ngữ tác phẩm thấm đẫm chất dân gian. Nhà thơ vận dụng nhiều tục ngữ, thành ngữ, ca dao và lối nói của người nông dân, tiêu biểu như: “Nuôi lợn ăn cơm nằm/ Nuôi tằm ăn cơm đứng”, “Tay làm hàm nhai”, “Tắt lửa tối đèn”, “Nuôi cái cùng con”, “Cái cò lặn lội bờ tre”… Những chất liệu ấy tạo nên “hồn quê” đậm đà, khiến trường ca vừa gần gũi, vừa giàu chiều sâu văn hóa.

Không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, chất liệu dân gian còn được bồi đắp qua hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng, như: đất, hạt giống, bàn chân, mồ hôi, ruộng đồng, mưa nắng... Đặc biệt, hình ảnh “chân đất” trở thành biểu tượng xuyên suốt, gợi thân phận lam lũ, sự gắn bó với đất đai, căn cước nông nghiệp và sức sống bền bỉ của người nông dân Việt Nam.

Chính sự hòa quyện giữa cảm hứng sử thi và chất liệu dân gian đã tạo nên nét riêng của “Thần Nông chân đất” trong dòng thơ nông thôn đương đại. Trong khi nhiều tác phẩm viết về người nông dân thường nghiêng về phản ánh hiện thực xã hội, bi kịch nông thôn hay hoài niệm làng quê thì “Thần Nông chân đất” lại đi theo hướng xây dựng một “đại tự sự” về người nông dân Việt. Tác phẩm không chỉ phản ánh đời sống nông thôn mà còn truy nguyên văn hóa dân tộc, thiêng hóa lao động, phục dựng ký ức cộng đồng, khẳng định vai trò lịch sử của người nông dân trong sự tồn tại của quốc gia. Ở phương diện này, trường ca mang dáng dấp của một “biên niên sử thi ca” về nền văn minh lúa nước Việt Nam.

Toàn bộ trường ca là sự lý giải và cũng là lời đáp đền ân nghĩa đối với người nông dân - giai tầng đông đảo nhất của dân tộc. Nếu nói đến những hạn chế của tác phẩm thì đó là đôi chỗ nhà thơ sử dụng từ ghép theo lối đảo trật tự chưa thật hợp lý, một vài chỗ gieo vần chưa thật nhuần nhị. Tuy nhiên, những hạn chế ấy không làm giảm giá trị của một trường ca có dung lượng lớn và nhiều tìm tòi nghệ thuật.

Nhìn một cách tổng quát, “Thần Nông chân đất” của Phùng Trung Tập là một trường ca giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm đã dựng nên tượng đài sử thi về người nông dân Việt Nam, khơi dậy chiều sâu văn hóa nông nghiệp dân tộc, thể hiện đạo lý nguồn cội, cất lên bản hợp xướng ngợi ca nhân dân lao động. Qua hình tượng “Thần Nông chân đất”, nhà thơ khẳng định một chân lý: chính nhân dân - những con người lam lũ, vô danh là chủ thể đích thực làm nên đất nước và giữ cho non sông trường tồn qua mọi biến thiên lịch sử./.

Bài liên quan
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
(0) Bình luận
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Tản văn: Hà Nội ở Sài Gòn
    Chuyến bay tới Sài Gòn của tôi sẽ khởi hành sau hai giờ đồng hồ nữa, vậy mà tôi vẫn loay hoay với đống đồ cá nhân. Mãi một hồi lâu tôi mới ra được đường lớn để bắt taxi tới sân bay Nội Bài...
  • Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát: Hành trình sáng tạo, làm mới sơn mài truyền thống
    Từ những bức tranh sơn mài trên mặt phẳng đến các tác phẩm tạo hình, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) đã lựa chọn một hướng đi riêng với chất liệu truyền thống. Quá trình học tập, thực hành và tìm tòi thiết kế, anh không chỉ khai thác những đặc trưng vốn có của sơn mài mà còn thử nghiệm cách làm mới, đưa chất liệu sơn mài đến gần hơn với không gian đương đại, bồi đắp hình ảnh sáng tạo của con người Thủ đô.
  • Tận dụng dữ liệu số, Hà Nội cắt giảm nhiều thủ tục trong lĩnh vực văn hóa và di sản
    Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân cũng như doanh nghiệp, Thành phố Hà Nội đã triển khai phương án cắt giảm, tối ưu hóa 5 quy trình xử lý thuộc các lĩnh vực Quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn và di sản văn hóa...
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Hà Nội khơi thông “điểm nghẽn”, thúc đẩy công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Cụ thể hóa Điều 27 Luật Thủ đô 2026, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết quy định về phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố (Nghị quyết số 34/2026/NQ-HĐND). Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết các “điểm nghẽn” của phát triển kinh tế đêm, định hướng lại không gian phát triển, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị ban đêm của Hà Nội trong thời kỳ mới.
  • Phát vé miễn phí cho khán giả xem Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026
    Từ 9h hôm nay ngày 13/10, Ban tổ chức Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026 bắt đầu phát vé miễn phí phục vụ khán giả tại Rạp Đại Nam (số 89 phố Huế, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội). Liên hoan diễn ra từ ngày 14 đến 23/10, quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 tác phẩm, biểu diễn tại 10 địa điểm trên địa bàn Thủ đô.
  • Hà Nội kiểm kê hơn 2.000 di sản văn hóa phi vật thể
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa chính thức phê duyệt việc tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô. Với 2.098 di sản thuộc 6 loại hình trải rộng khắp 126 xã, phường, đây được xem là bước đi quan trọng nhằm nhận diện, giữ gìn và khơi dậy sức sống cho kho tàng văn hóa dân gian phong phú của Hà Nội.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Lan tỏa tình yêu Hà Nội từ không gian âm nhạc cộng đồng
    Tối 11/10, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Không gian Âm nhạc cộng đồng – Điểm hẹn cuối tuần” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tổ chức mang đến cho công chúng không gian âm nhạc giàu cảm xúc, nơi những giai điệu dân gian truyền thống hòa quyện cùng các ca khúc về Hà Nội, quê hương, đất nước.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Đoan Bui
    Chiều ngày 11/10/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Doan Bui, do dịch giả Thuận chuyển ngữ. Tác phẩm từng được đề cử Giải Femina (Prix Femina) - một giải thưởng văn chương danh giá của Pháp.
Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO