Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
Dựng tượng đài người nông dân bằng thơ
“Thần Nông” là hình tượng của vị thần trong truyền thuyết phương Đông, tổ của nghề nông, biểu tượng của tri thức canh tác, sự khai mở văn minh lúa nước và sức sống của nông nghiệp. “Chân đất” là hình ảnh gợi tả người nông dân bình dị, lam lũ, gắn trực tiếp với ruộng đồng, bùn đất và đời sống thôn quê. Kết hợp hai hình ảnh “Thần Nông” và “chân đất”, nhan đề trường ca tạo nên ý nghĩa nghệ thuật: cái lớn lao, huyền thoại hòa vào cái bình dị, đời thường. Qua đó, tác giả tôn vinh người nông dân Việt Nam như những “vị thần của ruộng đất”, âm thầm, mộc mạc nhưng gìn giữ sự sống và văn hóa dân tộc.

Với cảm hứng sử thi đậm nét, nhà thơ Phùng Trung Tập không nhìn người nông dân như những cá thể nhỏ bé của đời sống thường nhật mà nâng họ thành chủ thể lịch sử, chủ thể văn hóa dân tộc. Ngay từ phần mở đầu, nguồn gốc người nông dân được nối với huyền thoại khai sinh dân tộc: “Những Thần Nông chân đất Việt Nam/ sinh ra từ giống Tiên Rồng/ Cha Lạc Long Quân,/ Mẹ Âu Cơ trai tài gái sắc…”. Hình tượng “Thần Nông” ở đây không mang nghĩa thần linh siêu nhiên mà là sự “hóa thần” của nhân dân lao động. Đây là một thủ pháp nghệ thuật giàu ý nghĩa tư tưởng: thiêng hóa người nông dân để khẳng định vai trò nền móng của họ trong lịch sử dân tộc.
Trong trường ca, tác giả nhiều lần nhấn mạnh: “Những Thần Nông làm nên lịch sử/ Những Thần Nông giữ cho dân tộc trường tồn”. Câu thơ có kết cấu điệp trùng, giọng điệu trang trọng như một lời tuyên ngôn lịch sử. Người nông dân không phải đứng bên lề lịch sử mà trở thành lực lượng trung tâm tạo dựng và bảo vệ quốc gia từ bao đời nay. Hơn nữa, tác giả đặt người nông dân trong hành trình “mở cõi non sông”: “Có hay chăng người khai thiên lập địa/ Không phải Thánh thần,/ mà là những Nhà Nông!”. Đây là tư tưởng nhân văn rõ nét của tác phẩm. Lịch sử đất nước không được làm nên bởi những huyền thoại xa vời mà bằng mồ hôi, máu xương và lao động của những con người “đầu trần chân đất”.
Nếu chất sử thi làm nên “tầm vóc” của tác phẩm thì cảm hứng nhân văn tạo nên “chiều sâu” của bản trường ca. Người nông dân trong tác phẩm hiện lên lam lũ, nhọc nhằn nhưng giàu nghị lực sống: “Lại khai hoang, lại lần hồi/ Lại gieo hạt, lại đứng ngồi không yên”. Điệp từ “lại” diễn tả vòng tuần hoàn bất tận của lao động và sự hồi sinh. Dù thiên tai, đói nghèo, mất mùa, người nông dân vẫn kiên cường đứng vững, quyết không gục ngã.
Đáng chú ý, tác giả nhấn mạnh đức hi sinh của người mẹ nông dân: “Bầu vú mẹ tóp teo tà áo bẹp nút cài”. Đây là chi tiết hiện thực giàu sức ám ảnh, gợi cả sự nghèo đói vật chất lẫn sự hao kiệt thể chất của người mẹ nông dân. Những câu thơ: “Nuôi từ vua chúa quan lang/ Nuôi từng người chẳng tơ màng hàm ơn!” đã chạm đến bi kịch của người nông dân. Tuy là lực lượng nuôi sống xã hội nhưng họ thường chịu thiệt thòi và bị lãng quên. Tuy vậy, trường ca không sa vào bi lụy. Tác giả luôn nhìn người nông dân bằng cái nhìn biết ơn và tôn kính: “Chẳng màng đúc tượng khắc tên/ Thần Nông chân đất vững bền non sông”. Đó là vẻ đẹp của sự vô danh, bình dị mà vĩ đại.
Tái hiện nền văn minh nông nghiệp lúa nước
Ở chừng mực nhất định, có thể ghi nhận “Thần Nông chân đất” như một “bảo tàng thi ca” về văn hóa nông nghiệp Việt Nam. Nhà thơ làm sống lại gần như toàn bộ không gian sinh hoạt của cư dân nông nghiệp: từ khai hoang mở đất, đắp đập, be bờ làm ruộng nương đến chọn giống, gieo trồng, chăm sóc lúa, rồi chống lũ, chống hạn đến cả tín ngưỡng mùa màng. Trong quá trình lao động sản xuất ấy, người nông dân đã sáng tạo nên kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca, đã làm nên biết bao tác phẩm nghệ thuật…
Tác phẩm cho thấy chiều sâu tri thức dân gian của người nông dân qua việc tích lũy quy luật thời tiết: “Nhìn trăng tính tháng tính ngày/ Nhìn mây tránh mưa tránh nắng/ Nhìn nước sông biết mùa lũ, hạn”. Đó là những kinh nghiệm được chắt lọc qua hàng nghìn năm cộng cư với thiên nhiên.
Đặc biệt, hình tượng “Đất” xuất hiện dày đặc và mang tính biểu tượng cao: “Đất lành hoa trái mùa mùa tốt tươi/ Đất thiêng gắn bó cùng người”. Và đây nữa: “Đất xám, sỏi cằn, cát pha, tơi mịn/ Đất thó tím gan gà/ Đất phù sa, đất đỏ/ đất tơi xốp, đất bùn, đất mặn/ Chọn chất đất như kén người tri kỷ”. Trong cảm thức của tác giả, đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là linh hồn văn hóa, là ký ức tổ tiên, là nơi khởi nguồn và cũng là nơi trở về của con người: “Sống nương tựa đất thành thân/ Chết về với đất hóa thành non sông.”
Một trong những chiều sâu tư tưởng đáng chú ý của trường ca là những triết lý về cội nguồn dân tộc. Rất nhiều lần tác phẩm nhắc đến quan hệ giữa các thế hệ: “Như nước có nguồn, như cây có cội/ Con người có tổ, có tông”. Đây là sự tiếp nối trực tiếp của đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân tổ tiên của người Việt. Tác giả cảnh báo: “Quên nguồn gốc tổ tiên/ Coi là mất sạch!”. Câu thơ ngắn, mạnh, có tính cách ngôn, cho thấy trong cái nhìn minh triết của nhà thơ, đánh mất ký ức văn hóa đồng nghĩa với việc đánh mất bản thể dân tộc. Hình tượng “Thần Nông chân đất” vì thế vừa là tổ tiên cụ thể, vừa là biểu tượng của căn tính Việt Nam.
Cảm hứng sử thi và chất liệu dân gian
Trường ca “Thần Nông chân đất” kết hợp hài hòa cảm hứng sử thi với chất liệu dân gian. Nếu cảm hứng sử thi tạo nên tầm vóc của hình tượng người nông dân thì chất liệu dân gian lại đem đến cho tác phẩm vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi và đậm bản sắc văn hóa.
Trước hết, cảm hứng sử thi được thể hiện rõ qua giọng điệu hợp xướng ngợi ca. Nhà thơ lặp lại kết cấu “Hát về…” ở nhiều đoạn thơ, như: “Hát về Tổ tiên/ Những Thần Nông chân đất…”, tạo nên nhịp điệu ngân vang và âm hưởng của một bản hợp xướng cộng đồng. Bên cạnh đó, kết cấu trường ca được triển khai theo dòng lịch sử dân tộc. Tên các chương như: “Hóa thần”, “Giao hưởng vũ trụ”, “Mở cõi non sông”, “Trằn trọc theo mùa”… không chỉ là sự phân chia nội dung mà còn gợi tiến trình văn hóa từ huyền thoại khai sinh cộng đồng đến quá trình mở đất, duy trì sự sống và tiếp nối các thế hệ. Chính kết cấu ấy đã tạo nên tầm vóc trường thiên sử thi cho tác phẩm.
Nếu cảm hứng sử thi tạo nên chiều cao tư tưởng thì chất liệu dân gian lại tạo nên vẻ đẹp gần gũi, đậm hồn quê của trường ca. Đọc “Thần Nông chân đất”, dễ nhận thấy ngôn ngữ tác phẩm thấm đẫm chất dân gian. Nhà thơ vận dụng nhiều tục ngữ, thành ngữ, ca dao và lối nói của người nông dân, tiêu biểu như: “Nuôi lợn ăn cơm nằm/ Nuôi tằm ăn cơm đứng”, “Tay làm hàm nhai”, “Tắt lửa tối đèn”, “Nuôi cái cùng con”, “Cái cò lặn lội bờ tre”… Những chất liệu ấy tạo nên “hồn quê” đậm đà, khiến trường ca vừa gần gũi, vừa giàu chiều sâu văn hóa.
Không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, chất liệu dân gian còn được bồi đắp qua hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng, như: đất, hạt giống, bàn chân, mồ hôi, ruộng đồng, mưa nắng... Đặc biệt, hình ảnh “chân đất” trở thành biểu tượng xuyên suốt, gợi thân phận lam lũ, sự gắn bó với đất đai, căn cước nông nghiệp và sức sống bền bỉ của người nông dân Việt Nam.
Chính sự hòa quyện giữa cảm hứng sử thi và chất liệu dân gian đã tạo nên nét riêng của “Thần Nông chân đất” trong dòng thơ nông thôn đương đại. Trong khi nhiều tác phẩm viết về người nông dân thường nghiêng về phản ánh hiện thực xã hội, bi kịch nông thôn hay hoài niệm làng quê thì “Thần Nông chân đất” lại đi theo hướng xây dựng một “đại tự sự” về người nông dân Việt. Tác phẩm không chỉ phản ánh đời sống nông thôn mà còn truy nguyên văn hóa dân tộc, thiêng hóa lao động, phục dựng ký ức cộng đồng, khẳng định vai trò lịch sử của người nông dân trong sự tồn tại của quốc gia. Ở phương diện này, trường ca mang dáng dấp của một “biên niên sử thi ca” về nền văn minh lúa nước Việt Nam.
Toàn bộ trường ca là sự lý giải và cũng là lời đáp đền ân nghĩa đối với người nông dân - giai tầng đông đảo nhất của dân tộc. Nếu nói đến những hạn chế của tác phẩm thì đó là đôi chỗ nhà thơ sử dụng từ ghép theo lối đảo trật tự chưa thật hợp lý, một vài chỗ gieo vần chưa thật nhuần nhị. Tuy nhiên, những hạn chế ấy không làm giảm giá trị của một trường ca có dung lượng lớn và nhiều tìm tòi nghệ thuật.
Nhìn một cách tổng quát, “Thần Nông chân đất” của Phùng Trung Tập là một trường ca giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm đã dựng nên tượng đài sử thi về người nông dân Việt Nam, khơi dậy chiều sâu văn hóa nông nghiệp dân tộc, thể hiện đạo lý nguồn cội, cất lên bản hợp xướng ngợi ca nhân dân lao động. Qua hình tượng “Thần Nông chân đất”, nhà thơ khẳng định một chân lý: chính nhân dân - những con người lam lũ, vô danh là chủ thể đích thực làm nên đất nước và giữ cho non sông trường tồn qua mọi biến thiên lịch sử./.