Lý luận - Phê bình

"Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến 08:39 14/08/2026

Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.

Trong lời thưa của tác giả ở đầu cuốn sách, nhà thơ Hữu Thỉnh nhấn mạnh: “Gần 60 năm qua, kể từ Chiến dịch Tà Mây - Làng Vây, Binh chủng Tăng - Thiết giáp đã làm nên bao nhiêu chiến công hiển hách, tiêu biểu là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Gần 60 năm ấy, biết bao sự kiện đã xảy ra, kéo theo rất nhiều thay đổi về tầm nhìn, về thị hiếu, về cách cảm, cách nghĩ. Viết về Làng Vây phải thỏa mãn những nhu cầu của ngày hôm nay. Người ta không chỉ muốn biết những bí mật của Làng Vây mà muốn giải mã về nó.

Người ta không chỉ bằng lòng về một sự kiện mà còn muốn biết số phận những con người làm nên sự kiện đó sau chiến tranh ra sao. Không còn nhớ gần 60 năm trước, tôi đã viết những gì. Không một trang bản thảo nào của ngày ấy được giữ lại. Tôi bắt đầu bằng hai bàn tay trắng như các nhà văn vẫn thường làm. Trong cuốn “Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp”, Quân đội nhân dân Việt Nam, Chiến dịch Tà Mây - Làng Vây chỉ được viết chưa đến năm trang đánh máy. Tôi xem đó là cái khung để tưởng tượng và hư cấu ra ngoài cái khung đó. Có một số nguyên mẫu được văn học hóa để làm tô đậm dấu ấn lịch sử, còn hầu hết các sự kiện và nhân vật đều là sản phẩm của sáng tạo. “Thép dưới cỏ” viết về Làng Vây, nhưng nó là Làng Vây của văn học, không phải là bản sao của lịch sử. Tôi đã dốc vào đây tất cả tình cảm của tôi qua 13 năm sống và phục vụ trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp và xem đây như sự trả một món nợ lớn đối với cái nôi đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành”.

Chính vì thế, “Thép dưới cỏ” không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh theo nghĩa kể lại một trận đánh. Điều đáng chú ý hơn là Hữu Thỉnh đặt trong câu chuyện Làng Vây những câu hỏi lớn: điều gì làm nên sức mạnh của người lính Việt Nam, giúp một binh chủng còn rất trẻ vượt qua muôn vàn gian khó để làm nên chiến thắng; và sau chiến tranh, những con người ấy mang theo những ký ức, vết thương, phẩm giá và niềm tin ra sao? Bởi vậy, chủ đề tư tưởng nổi bật của Thép dưới cỏ là sự tôn vinh người lính trong chiến tranh hiện đại. Hữu Thỉnh không xây dựng họ như những biểu tượng chung chung mà đặt vào những tình huống cụ thể, nơi phẩm chất được thử thách và khẳng định bằng hành động.

Tác phẩm cho thấy chiến thắng Làng Vây không phải kết quả của cảm hứng nhất thời mà là thành quả của trí tuệ tập thể. Những cuộc họp sở chỉ huy, những tranh luận giữa công binh, pháo binh, xe tăng, tham mưu, hậu cần, địa phương, những cân nhắc về hướng tấn công, phương án vượt sông Sê Pôn, cách sử dụng xe tăng bơi, cách đánh bóc vỏ, cách chống địch tái chiếm... tất cả cho thấy chiến tranh không chỉ là thử thách của lòng dũng cảm mà còn là thử thách của trí tuệ tổ chức và năng lực chỉ huy. Cách tiếp cận ấy khiến chiến thắng trong tác phẩm có cơ sở hiện thực, tránh được sự đơn giản hóa hay huyền thoại hóa.

Tuy vậy, “Thép dưới cỏ” không khô cứng như một bản tổng kết chiến dịch. Sức sống của tác phẩm nằm ở chỗ Hữu Thỉnh luôn kéo lịch sử về với số phận con người. Sau những quyết định quân sự là những người lính thiếu ngủ, sốt rét, nhớ nhà, nhớ người yêu, viết nhật ký, đọc sách, làm thơ, đùa vui giữa gian khổ, thèm một bát rau giá hay một chén nước gạo rang. Họ mang theo gia đình, quê hương và những ước mơ rất đời thường vào chiến trường. Chính điều ấy làm cho tác phẩm có hơi ấm đời sống. Người lính không bị hóa thành công cụ chiến đấu. Họ vẫn là những con người đang sống trọn vẹn, yêu thương trọn vẹn và chiến đấu trọn vẹn.

Dù viết tiểu thuyết nhưng Hữu Thỉnh vẫn giữ được chất thơ trong văn xuôi. Chất thơ không nằm ở việc làm mềm chiến tranh, mà nằm ở cách ông nhìn sự vật. Một hang đá sở chỉ huy có thể gợi ý nghĩ “lịch sử bắt đầu với sự hoang dã”. Một đội hình xe tăng lao qua khói lửa có thể được cảm như “con rồng đất”. Một cảnh hành quân mưa rừng, một bữa chia tay, một tiếng gọi mẹ giữa trận địa tan hoang, một đàn chim bay lên cuối sách đều mang âm hưởng trữ tình. Văn xuôi của Hữu Thỉnh vì thế vừa có tính kể, vừa có tính gợi.
Một thành công khác là giọng điệu và ngôn ngữ. “Thép dưới cỏ” mang âm hưởng sử thi nhưng không lên gân. Tác phẩm ca ngợi chiến thắng nhưng không che giấu mất mát; tôn vinh người lính nhưng vẫn giữ nguyên vẻ bình dị của họ. Ngôn ngữ trong “Thép dưới cỏ” đan xen giữa ngôn ngữ quân sự và ngôn ngữ đời thường. Khi viết về hội nghị tác chiến, ngôn ngữ rành mạch, nhiều thuật ngữ, nhiều phương án, nhiều mệnh lệnh. Khi viết về đời sống đồng đội, ngôn ngữ trở nên tự nhiên, hóm hỉnh, thô ráp mà thân mật. Những lời đối thoại giữa bạn bè làm cho không khí tiểu thuyết bớt trang nghiêm đơn điệu. Hữu Thỉnh hiểu rằng người lính không chỉ sống bằng khẩu hiệu. Họ sống bằng tiếng cười, bằng tình bạn, bằng sự bông đùa, bằng khả năng làm nhẹ cái khốc liệt.

Một điểm đáng chú ý của “Thép dưới cỏ” là kết cấu. Tác phẩm không đi theo một đường thẳng đơn giản từ chuẩn bị đến chiến đấu rồi kết thúc. Nó đan xen nhiều lớp với cách kết cấu làm cho Làng Vây không chỉ là một trận đánh mà là một trường ký ức. Mỗi nhân vật mang theo một đường đời riêng, một quá khứ riêng, một vết thương riêng. Nhờ đó, lịch sử được nhìn như tổng hòa của nhiều phận người.

Phong cách xây dựng nhân vật của Hữu Thỉnh thiên về hành động và tình huống hơn là những đoạn phân tích tâm lý dài. Nhân vật bộc lộ qua cách xử lý công việc, đối diện hiểm nguy, chăm sóc đồng đội, nhớ gia đình hay gìn giữ phẩm giá trong hoàn cảnh khốc liệt. Điều này phù hợp với không khí quân đội và chiến tranh, nơi nhân cách được đo bằng hành động. Tuy vậy, nhà văn vẫn dành những khoảng lặng giàu chất trữ tình để khắc họa thế giới nội tâm: nỗi nhớ mẹ, nhớ người yêu, nỗi đau trước sự hy sinh của đồng đội hay niềm xúc động khi nghe thơ mình qua sóng phát thanh. Chính những chi tiết ấy giúp nhân vật giữ được vẻ chân thực, không trở thành những tượng đài khô cứng.

Tác phẩm cũng làm nổi bật mối quan hệ quân dân như một nguồn sức mạnh của chiến thắng. Đồng bào Vân Kiều, nhân dân Hướng Hóa, những cô gái chèo thuyền đuôi én, những người dẫn đường, giao liên, dân công, y tá, anh nuôi... đều góp phần vào thành công của chiến dịch. Hữu Thỉnh nhìn chiến tranh không chỉ từ góc độ quân sự mà còn từ góc độ xã hội. Một trận đánh không chỉ do người lính ngoài mặt trận tạo nên, mà còn do những con người thầm lặng phía sau như dân công, giao liên, y tá, anh nuôi, công binh, địa phương, những người mẹ, người vợ, người yêu ở hậu phương. Vì thế, chiến thắng trong “Thép dưới cỏ” mang đậm ý nghĩa cộng đồng và sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Một chủ đề quan trọng khác là ký ức chiến tranh sau chiến tranh. Phần cuối tác phẩm mở rộng không gian và thời gian, đưa câu chuyện Làng Vây vượt ra khỏi khoảnh khắc trận đánh để nhìn vào những dư âm kéo dài nhiều thập kỷ. Những người lính trở về đời thường, gặp lại nhau, kể lại chuyện cũ, đối diện với ký ức và cả những người từng ở bên kia chiến tuyến. Chi tiết cuộc gặp với Jean Pao - nguyên cố vấn tại Làng Vây cho thấy Hữu Thỉnh không xem lịch sử là điều đã khép lại. Làng Vây tiếp tục sống trong ký ức của người thắng, người thua, người chứng kiến, người viết và các thế hệ sau. Có kẻ không thoát khỏi thù hận, có người tìm đến sự thật, có người giải mã quá khứ bằng tinh thần nhân văn...

Về nghệ thuật, thành công nổi bật của cuốn tiểu thuyết là sự kết hợp hài hòa giữa tư liệu lịch sử và hư cấu văn học. Tác giả ý thức rõ mình không sao chép lịch sử mà sáng tạo trên nền tảng lịch sử. Tư liệu đem lại độ tin cậy và không khí của một chiến dịch có thật; hư cấu tạo nên số phận nhân vật, chiều sâu tâm lý và sức sống của tác phẩm. Đây là hướng đi phù hợp với tiểu thuyết lịch sử - chiến tranh: lịch sử là cái khung, nhưng văn học phải tạo ra linh hồn.

So với nhiều tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết về chiến tranh và hậu chiến, “Thép dưới cỏ” có vị trí khá riêng. Tác phẩm tập trung phục dựng một chiến dịch lịch sử cụ thể là Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Hữu Thỉnh dành nhiều trang viết cho công tác chuẩn bị, tổ chức, hiệp đồng binh chủng và phẩm chất của người lính, nhưng không dừng ở việc ca ngợi chiến công. Ông vẫn đặt trong chiến thắng những câu hỏi về số phận, đạo đức, tình đồng đội và ký ức hậu chiến. Bởi vậy, tác phẩm vừa mang âm hưởng sử thi, vừa có chiều sâu nhân bản.

Nhìn tổng thể, “Thép dưới cỏ” là một tiểu thuyết chiến tranh giàu ý nghĩa, khẳng định sức mạnh của con người Việt Nam trong chiến tranh hiện đại qua lòng yêu nước, trí tuệ tập thể, tình đồng đội, quan hệ quân dân và niềm tin vào chính nghĩa. Về nghệ thuật, cuốn sách là sự hòa quyện giữa tư liệu và hư cấu, giữa chất sử thi và đời thường, giữa văn xuôi quân sự với cảm quan thơ. Hữu Thỉnh đã đem vào cuốn tiểu thuyết đầu tay kinh nghiệm của một người lính, sự từng trải của một nhà văn và tâm hồn của một nhà thơ. Ở tuổi 85, ông vẫn cho thấy sức sáng tạo bền bỉ và một tình cảm sâu nặng dành cho đồng đội của mình./.

Bài liên quan
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy khả năng sáng tạo và tình yêu văn học, nghệ thuật cho học sinh Thủ đô
    Chiều 12/8, tại Nhà Văn hóa xã Đông Anh (Hà Nội), Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình tổng kết Đề án Sân khấu học đường tại các trường THCS, THPT Hà Nội năm 2026, đánh dấu việc hoàn thành các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, workshop và thực hành biểu diễn dành cho giáo viên, học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố.
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Hội NCT phường Tây Hồ: Tập huấn vận hành CLB liên thế hệ tự giúp nhau
    Trong 2 ngày 13 và 14/8, Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ, Thành phố Hà Nội tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội và quản lý, vận hành CLB Liên thế hệ tự giúp nhau (LTHTGN).
  • An ninh Thủ đô kỷ niệm 50 năm xuất bản số báo đầu tiên
    Chiều 13/8, tại Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm An ninh Thủ đô ra số báo đầu tiên (15/8/1976 - 15/8/2026) đánh dấu hành trình nửa thế kỷ đồng hành cùng lực lượng Công an Thủ đô và bạn đọc cả nước.
Đừng bỏ lỡ
"Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO