Theo dược học cổ truyửn, lá ổi có vị đắng sáp, tính ấm, công dụng tiêu thũng, giải độc, cầm máu. Đặc biệt, lá ổi chứa tinh dầu, trong đó có alpha-limonen, beta-sitosterol, axit maslinic, axit guajavalic. Trong lá ổi non và búp ổi còn có 7 - 10% tanin, khoảng 3% nhựa. Lá ổi được dùng là m thuốc chữa tiêu chảy có kết quả tốt do có chứa nhiửu tanin, giúp là m săn niêm mạc ruột, giảm tiết dịch ruột, giảm nhu động ruột đồng thời còn có tác dụng kháng khuẩn.
Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa tiết tả (đi lửng), cửu lửµ (lửµ mạn tính), viêm dạ dà y ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất huyết, tiêu khát (đái tháo đường), băng huyết.
![]() |
| Lá ổi chữa bệnh và ng da |
Chữa tiêu chảy: Dùng búp ổi hoặc lá ổi non 12 - 20g (sao sơ), gừng nướng 10g hoặc củ riửng khô 10 - 12g, vử quýt khô 10 - 12g. Cho các vị và o ấm, sắc với 500ml nước, còn lấy 200ml, chia là m hai lần uống trong ngà y trước bữa ăn. Có thể thêm đường cho dễ uống. Bà i thuốc nà y dùng chữa các trường hợp tiêu chảy thông thường, nhất là tiêu chảy do lạnh kết quả rất tốt.
Chữa viêm dạ dà y - ruột cấp tính: Lá ổi non 30g, cắt nhử, sao chung với một nắm gạo, sau đó cho 500ml nước và o, sắc còn 200ml, lọc lấy nước chia là m hai lần uống trong ngà y và o lúc bụng đói.
Chữa bệnh zona (thường được gọi nôm na là giời leo): Lấy 100g búp ổi non rửa sạch, phèn chua 10g, muối 1g. Cho tất cả và o cối sạch giã nhử, thêm ít nước sạch và o trộn đửu. Dùng nước thuốc nà y bôi lên chỗ đau.
Mới đây, các nhà khoa học thuộc Đại học Y dược Krupanidhi (Ấn Độ) phát hiện ra rằng, chất bột chiết xuất từ lá ổi có thể bảo vệ gan khửi các tổn hại. Thử nghiệm trên loà i chuột cho thấy, những con chuột được cho ăn chất bột chiết xuất từ lá ổi đã tránh được nguy cơ tổn thương ở gan do hóa chất gây ra, trong khi những con chuột không dùng thì gan bị hư hại nặng.
Giới chuyên gia tin rằng, các chất chống oxy hóa có trong lá ổi đã phát huy công dụng ngăn ngừa bệnh. Ngoà i ra, nước sắc từ lá ổi có thể chữa chứng và ng da trong 3 ngà y.
