thanh-am-xam.png

Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo, ra đời đã hơn 700 năm. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm còn là loại hình âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn, thẩm mỹ và giáo dục về đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Hà Nội, thành phố của di sản văn hóa, từ lâu đã trở thành nơi lưu giữ và phát triển nhiều loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc, trong đó có hát Xẩm. Từ một loại hình âm nhạc truyền thống độc đáo bị thất truyền, nhờ đam mê và sự cố gắng không mệt mỏi của những người tâm huyết, xẩm Hà thành đã và đang sống lại và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống tinh thần người dân Hà Nội. Không dừng lại ở đó, những người yêu xẩm Hà Nội còn đưa loại hình âm nhạc này "sống" gần hơn với nhân dân Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung bằng việc tạo ra những không gian, "đất diễn" mới cho Xẩm. Đưa Xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng văn hóa phố phường của Thăng Long – Hà Nội.

xam-2.png

Đặc điểm của Xẩm gắn liền với hình ảnh của người dân nghèo khổ, người khiếm thị. Nội dung các bài Xẩm thường phản ánh hiện thực xã hội qua từng thời kỳ cụ thể. Nghệ thuật hát Xẩm yêu cầu cao về biểu đạt cảm xúc và thành thạo chơi nhạc cụ. Nội dung và ca từ trong hát Xẩm thường là hình thức hát nói, vừa hát vừa kể chuyện mang tính tự sự và lời văn, phản ánh tâm tư và suy nghĩ của người dân trước xã hội và nhà nước thời bấy giờ.

Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ, người có nhiều năm nghiên cứu nghệ thuật Xẩm, cho biết: hát Xẩm có 8 làn điệu chính: Xẩm chợ, Xẩm xoan (chênh bong), Huê tình (riềm huê); Xẩm nhà trò (ba bậc), Nữ oán (phồn huê), Hò bốn mùa, Hát ai, Thập ân.

hat-xam-4.png
trang-chu-thu-vien-anh(1).jpg
trang-chu-thu-vien-anh-11.png

Chợ Đồng Xuân do người Pháp xây dựng năm 1889, khánh thành vào năm 1890, sau đó được xây kiên cố vào đầu thế kỷ XX. Chợ Đồng Xuân là chợ bán buôn lớn nhất Bắc kỳ hồi đó, hằng ngày lượng người đổ về Đồng Xuân rất đông - đây là điều kiện “sân khấu” lý tưởng cho Xẩm chợ ra đời, phát triển.

hat-xam-11.png

Xẩm chợ khởi nguồn từ cuộc sống của những người dân lao động bình thường, phần lớn là những nghệ sĩ mù, hát rong khắp nơi. Họ sử dụng các nhạc cụ truyền thống như đàn bầu, đàn nhị, phách và trống, tạo nên những giai điệu đặc trưng, thấm đượm tình cảm và sâu lắng. Lời hát Xẩm thường xoay quanh những câu chuyện về đời sống, tình yêu, công lý và thậm chí là những lời chỉ trích xã hội.

Theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, do người hát hầu hết đều bị khiếm thị nên họ lấy thơ lục bát có nội dung buồn hay éo le hoặc các bài ca dao nói về thân phận người nghèo, do đó dễ khiến người nghe rung động. Sau một ngày mưu sinh vất vả, chiều xuống, vợ chồng con cái những gia đình hát Xẩm tay chiếu tay nhị dắt díu nhau về bãi An Dương (nay thuộc quận Ba Đình). Những năm 1930, khu vực nói trên có tới mấy chục nhóm nên có tên gọi là “xóm Xẩm”.

trang-chu-thu-vien-anh-5(1).png
trang-chu-thu-vien-anh-5.png
trang-chu-thu-vien-anh-6.png

Xẩm tàu điện, còn có tên gọi khác là Xẩm Bờ Hồ. Bởi trạm tàu điện của Hà Nội ở Bờ Hồ – Hồ Gươm. Từ trạm Bờ Hồ, tàu điện tỏa đi các tuyến Yên Phụ, chợ Bưởi, chợ Mơ, Cầu Giấy, Hà Đông, Vọng nối nông thôn với nội thành. Những chuyến tàu điện do Pháp mở có số lượng khách đông đúc, thường xuyên, đã tạo nên “sân khấu” lý tưởng cho Xẩm tàu điện ra đời.

Xẩm tàu điện xuất hiện và phát triển như một hình thức Xẩm thích nghi với đô thị hóa. Các nghệ sĩ Xẩm bắt đầu biểu diễn trong các toa tàu điện để kiếm sống, mang nghệ thuật truyền thống này đến gần hơn với người dân đô thị. Với sân khấu chính là các toa tàu nên khi biểu diễn Xẩm, các nghệ nhân đã rất khéo léo “nương” theo hoàn cảnh, chọn nhạc cụ gọn nhẹ và điều chỉnh âm lượng, cường độ của giọng hát, tiếng đàn sao cho phù hợp, giúp hành khách thư giãn giữa tiếng tàu chạy đinh tai nhức óc.

hat-xam-12.png

Nội dung các bài Xẩm tàu điện cũng không dài lê thê, giai điệu buồn… như Xẩm ở làng quê, Xẩm chợ mà ngắn gọn hơn, tiết tấu nhanh, rộn ràng hơn… Thường mỗi bài Xẩm có cấu trúc, độ dài vừa vặn với lịch trình đón, trả khách của tàu điện, để không một hành khách nào phải nghe dang dở một bài Xẩm. Bên cạnh đó, Xẩm tàu điện còn có các bài quảng cáo bán hàng như: tăm tre, thuốc cam Hàng Bạc, thuốc ho bà lang Trọc, dầu cù là… phục vụ người buôn bán.

thiet-ke-chua-co-ten-2.png
hat-xam-5.png

Xẩm nhà trò là một dòng Xẩm độc đáo, phát triển trong các không gian biểu diễn sang trọng và tư gia ở Hà Nội, phá vỡ quy tắc truyền thống về không gian diễn xướng dân gian. Dòng Xẩm này, xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, thời điểm đời sống đô thị phát triển và hệ thống ca quán nở rộ. Xẩm nhà trò phản ánh nhu cầu thưởng thức văn hóa phong phú của tầng lớp trung lưu, và được biểu diễn trong không gian ca quán, nơi tụ họp của các tao nhân mặc khách. Đặc biệt, dòng Xẩm này đã bổ sung chất trữ tình, văn chương và tính tự sự cho Xẩm Hà thành, mở rộng không gian và nội dung biểu diễn của Xẩm.

Xẩm nhà trò giữ nguyên “hồn cốt” truyền thống của Xẩm với thơ lục bát và chữ Nôm, nhưng chọn lọc tác giả văn học một cách kỹ càng hơn. NSND Xuân Hoạch chia sẻ, cũng như Xẩm chợ và Xẩm tàu điện, Xẩm nhà trò có các tác phẩm đặc trưng cho dòng Xẩm này, như “Anh Xẩm” của Tản Đà và “Mục hạ vô nhân” của Nguyễn Khuyến, được biểu diễn với sự kết hợp của ca và diễn trò. Sự linh hoạt và khả năng ứng tác của các nghệ nhân Xẩm cũng được thể hiện qua việc họ có thể sáng tác ca từ nhanh chóng tùy theo yêu cầu gia chủ.

hat-xam-6.png

Tuy nhiên, giống như ca trù, Xẩm nhà trò đã dần thất truyền do sự suy tàn của hệ thống ca quán. Việc khôi phục dòng Xẩm này gặp khó khăn do tiêu chí khắt khe của nhà trò, không phải nghệ nhân Xẩm nào cũng đủ tiêu chuẩn biểu diễn trong ca quán. Công cuộc hồi sinh Xẩm nhà trò càng gian nan khi hầu hết các nghệ nhân dân gian đều đã khuất núi. Những người còn lại, có khi, cũng chỉ nhớ “mang máng” về một dòng Xẩm Hà thành nức tiếng thuở xưa…

Nội dung & trình bày: Tô Ngọc Oanh

26/06/2024 09:54

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kỳ cuối: Đập tan luận điệu xuyên tạc chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, con người
    Nghị quyết của Đảng xác định, đầu tư cho văn hoá là đầu tư tổng hợp. Trong đó, nguồn lực Nhà nước là dẫn dắt, nguồn lực xã hội (kinh tế tư nhân) rất quan trọng. Từ thấu hiểu các quy luật, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo phương pháp luận triết học Mác- Lênin để nắm bắt thời cơ đề ra đường lối đúng đắn đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.
  • Kỳ 2: Âm mưu đánh tráo khái niệm, phủ định tinh thần yêu nước là giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc Việt Nam
    Đại hội XIV của Đảng đã đưa văn hoá thành nguồn lực nội sinh quan trọng và khơi dậy tinh thần trách nhiệm; làm sáng rõ vai trò của văn nghệ sĩ với việc phát triển văn hoá trong thời đại mới. Đồng thời, Đảng ta cũng có những chính sách ưu việt chăm lo đời sống văn nghệ sĩ. Ấy vậy mà, với mục đích ích kỷ nhằm làm suy yếu “sức mạnh mềm” của dân tộc ta, các thế lực thù địch vẫn ngoan cố ra sức chống phá bằng những luận điệu vô cùng xảo trá.
  • Điện ảnh Hà Nội: Từ di sản ký ức đến chiến lược công nghiệp văn hóa
    Hà Nội không chỉ là trung tâm trong dòng chảy văn hóa và nghệ thuật Việt Nam hiện đại, mà còn là nơi khai sinh và nuôi dưỡng những bước đi đầu tiên của nền điện ảnh dân tộc. Từ những thước phim đầu tiên như Kim Vân Kiều (1923) – được quay tại Hà Nội đến các tác phẩm mang tính biểu tượng của Điện ảnh Cách mạng như Sao tháng Tám, Em bé Hà Nội hay Hà Nội mùa đông năm 1946, điện ảnh Thủ đô luôn gánh vác sức nặng của ký ức lịch sử, của bản sắc văn hóa và tinh thần Tràng An thanh lịch, hào hoa, anh hùng. Trong b
  • Kỳ 1: Vai trò của văn nghệ sĩ trong phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
    Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV của Đảng) là dấu mốc thể hiện bước trưởng thành trong nhận thức của Đảng, chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo, định hướng thành hành động. Đảng đã có những tổng kết 40 năm đổi mới và rút ra lý luận sắc bén để soi đường đưa đất nước bứt phá. Đảng đã chủ động tạo động lực mới hoàn thiện thể chế, phát huy tối đa nguồn lực đặt văn hoá vào vị trí trung tâm, trụ cột phát triển.
  • Kỳ cuối: Xây dựng “bộ lọc tư tưởng” và chiếm lĩnh trận địa cơ sở
    Đấu tranh phản bác dư luận tiêu cực tại cơ sở tuyệt đối không thể dừng lại ở các biện pháp cấm đoán thụ động, mà phải bằng chiến lược định hướng và thuyết phục chủ động. Giải pháp căn cơ mang tính quyết định là thiết lập “bộ lọc tư tưởng” kiên cố cho mỗi công dân, phát huy vai trò “người gác cổng” của đội ngũ đảng viên tại nơi cư trú, đồng thời nâng cao năng lực chủ động chiếm lĩnh không gian thông tin của chính quyền - biến từng góc quán vỉa hè thành pháo đài văn hóa vững chắc.
  • Hà Nội từ mùa thu giải phóng đến tầm nhìn trăm năm
    Kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026) là dịp chúng ta tri ân các thế hệ đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Hà Nội, để từ đó nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm đối với tương lai Thủ đô và đất nước. Trong kỷ nguyên mới, Hà Nội phải không ngừng nâng cao năng lực xây dựng và phát triển, để giá trị của Ngày Giải phóng tiếp tục được bồi đắp, giúp cho cuộc sống của Nhân dân ngày càng tốt đẹp và đóng góp xứng đáng cho đất nước.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • Một Hà Nội hoài niệm với phở gánh
    Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo miền Trung, nơi có cát trắng, gió Lào. Trong những năm tháng tuổi thơ, tôi chưa một lần rời khỏi lũy tre làng. Đến tuổi trưởng thành, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi làm việc ở chiến khu Việt Bắc. Rồi một ngày tháng Mười năm 1954, tôi được về công tác tại Hà Nội. Đêm trước ngày vào nội đô, lòng tôi xốn xang, không sao chợp mắt.
  • RE 13 - Tái ngộ, kết nối và sáng tạo
    Sau 13 năm kể từ ngày tốt nghiệp, 31 học viên lớp Cao học Mỹ thuật K13 sẽ tái ngộ trong triển lãm “RE 13 - Tái ngộ - Kết nối - Sáng tạo” tại ART SPACE (số 42 phố Yết Kiêu, phường Cửa Nam, Hà Nội) từ ngày 1 đến 6/11/2026. Với 71 tác phẩm thuộc nhiều chất liệu, triển lãm đánh dấu cuộc hội ngộ của những người bạn cũ, đồng thời là cơ hội để các nghệ sĩ kết nối chia sẻ những thành quả trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình.
  • VinFast VF 6 chỉ 587 triệu đồng sau ưu đãi, đáp ứng cả đi phố lẫn đường trường
    Từ những chặng đường đèo, dốc đến các chuyến đi trên cao tốc, đường trường, VinFast VF 6 có lợi thế nhờ sức mạnh động cơ tới 201 mã lực, hệ thống treo sau đa điểm và loạt công nghệ hỗ trợ lái an toàn nâng cao (ADAS). Giá mẫu SUV điện hiện chỉ còn 587 triệu đồng sau ưu đãi 9%.
  • Lên kế hoạch về quê cuối năm, chủ xe VinFast thêm “nhẹ đầu” nhờ trạm sạc rộng khắp
    Những chuyến về quê thăm ông bà, họ hàng là một phần quen thuộc trong lịch cuối năm của nhiều gia đình. Với mạng lưới hơn 155.000 cổng sạc V-Green, người dùng VinFast có quá nhiều lựa chọn nạp điện, đồng thời tiết kiệm chi phí nhờ quyền lợi sạc miễn phí.
Đừng bỏ lỡ
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
  • Giải mã sức hấp dẫn của sơn mài qua triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn”
    Từ ngày 30-10 đến 4-11-2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, phường Ba Đình, Hà Nội, triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn” mang đến cho công chúng cơ hội tiếp cận sơn mài từ cả hai phương diện: thưởng thức tác phẩm hoàn chỉnh và tìm hiểu quá trình tạo nên tác phẩm.
  • Hà Nội tập huấn Luật Thủ đô 2026 cùng các văn bản triển khai thi hành về lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
    Sáng 28/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Thủ đô, các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô năm 2026 và đối thoại, giải đáp thắc mắc liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Hội trường Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (số 47 Hàng Dầu, phường Hoàn Kiếm) và kết nối trực tuyến tới điểm cầu 126 xã/phường; các Nhà hát thuộc Sở và Trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Hà Nội.
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • [Podcast] Chè đỗ xanh - Ngọt thanh hương vị Hà Nội xưa
    Nhắc đến chè truyền thống Hà Nội, người ta thường nhớ đến hương vị phong của chè sen thơm dịu, chè cốm mang hương lúa non, chè bà cốt ấm nồng mùi gừng, chè đỗ đen ngọt mát trong những ngày hè. Trong bức tranh ẩm thực đa dạng đó, chè đỗ xanh với nguyên liệu chính đỗ xanh là nguyên liệu quen thuộc trong bữa ăn của người Việt, được dùng để nấu xôi, làm bánh, nấu cháo hay chế biến thành nhiều món chè.
  • Tạo xung lực mới để Hà Nội và Phú Thọ cùng phát triển trong kỷ nguyên mới
    Thành phố Hà Nội đã thực hiện lấy ý kiến Nhân dân về việc “Điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ tại khu vực Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm”. Việc điều chỉnh địa giới hành chính này rất cần thiết, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của hai địa phương cũng như mục tiêu quản lý thống nhất, phát triển bền vững, tăng cường liên kết Vùng Thủ đô và bảo đảm hài hòa lợi ích của Hà Nội và tỉnh Phú Thọ
  • Hà Nội lan tỏa văn hóa số, khuyến khích người dân trở thành công dân số tích cực
    UBND thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 5352/UBND-NC ngày 22/10/2026 về việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập kỹ năng số, khuyến khích người dân tham gia và thụ hưởng các chính sách, dịch vụ số. Đây là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng số trong cộng đồng, tạo điều kiện để người dân chủ động tiếp cận và sử dụng hiệu quả các tiện ích số trong đời sống.
Bài 1: Các dòng Xẩm Hà thành xưa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO