Quy định mới về tiền bản quyền trong các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, báo chí và xuất bản
Trong Nghị định số 287/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 7 năm 2026, các quy định về tiền bản quyền đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản đã được cụ thể hóa minh bạch với nhiều khung định mức chi tiết, đáp ứng tính đặc thù của từng hoạt động sáng tạo và khai thác tác phẩm.

Về phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc chung, Nghị định 287/2026/NĐ-CP tập trung quy định việc trả tiền bản quyền cho hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước, cũng như việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý
Đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm được xác định thông qua hai phương thức chính là chi trả theo khung định mức tính bằng đơn vị mức lương cơ sở hoặc chi trả theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn
Trong phương thức chi trả theo khung, các loại hình sân khấu truyền thống và hiện đại như tuồng, chèo, cải lương, kịch nói, múa rối, tạp kỹ hay các chương trình nghệ thuật tổng hợp được phân loại chi tiết theo quy mô thời lượng, từ tiểu phẩm dưới 20 phút đến vở dài trên 105 phút, để trả cho các chức danh sáng tạo như biên kịch, đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế sân khấu, phục trang và người thiết kế âm thanh, ánh sáng
Địa điểm trình diễn của chương trình nghệ thuật cũng quyết định khung mức chi trả, phân tách rõ giữa biểu diễn trong nhà, biểu diễn tại quảng trường, lễ hội ngoài trời và biểu diễn trên sân vận động
Ngoài ra, các tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống, giao hưởng, Opera, kịch múa, xiếc hoặc tác phẩm về đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số còn được hưởng thêm 15% tiền bản quyền khuyến khích
Trong lĩnh vực báo chí phân định rạch ròi giữa tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm và tiền bản quyền khai thác, sử dụng lại tác phẩm

Tiền bản quyền sáng tạo cho báo in, báo điện tử thực hiện theo cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu, còn đối với phát thanh, truyền hình được tính trực tiếp trong đơn giá sản xuất đã được phê duyệt
Đối với loại hình phát thanh và truyền hình, tiền bản quyền khai thác được quy định theo khung tỷ lệ phần trăm chi phí sản xuất tác phẩm, cụ thể, các thể loại như tin bài thời sự, phóng sự, ký sự, phim tài liệu, tọa đàm hay chương trình ca múa nhạc, thiếu nhi được tính 10% nếu chi phí sản xuất đến 10 triệu đồng, 8% nếu chi phí từ 10 đến 100 triệu đồng và 5% nếu chi phí trên 100 triệu đồng
Việc khai thác từ lần thứ hai trở đi được thực hiện theo thỏa thuận căn cứ trên khung giờ, tần suất và phương tiện phát sóng
Trong lĩnh vực xuất bản thiết lập khung tỷ lệ phần trăm tiền bản quyền đa dạng cho từng thể loại sách và quy định rõ công thức tính tiền bản quyền áp dụng cho cả xuất bản phẩm in lẫn xuất bản phẩm điện tử
Tỷ lệ tiền bản quyền theo khung được quy định cụ thể như văn xuôi từ 8% đến 17%, thơ từ 12% đến 17%, sách nhạc từ 10% đến 17%, từ điển và sách tra cứu từ 12% đến 18%, sách nghiên cứu lý luận từ 12% đến 18%, sách giáo khoa từ 0,1% đến 10%, sách bài tập và tham khảo từ 2% đến 12%, và bản đồ từ 7% đến 23%
Phương thức tính tiền bản quyền cho xuất bản phẩm in được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhân với tổng giá thành sản xuất (gồm chi phí xuất bản, in và phát hành) và nhân với số lượng in ghi trong hợp đồng
Trường hợp xuất bản phẩm thuộc diện khuyến khích như đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số hay sáng tạo bằng tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số sẽ được hưởng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền