Chính sách - Quản lý

Quy định mới về tiền bản quyền trong các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, báo chí và xuất bản

Kim Thoa 21:49 24/07/2026

Trong Nghị định số 287/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 7 năm 2026, các quy định về tiền bản quyền đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản đã được cụ thể hóa minh bạch với nhiều khung định mức chi tiết, đáp ứng tính đặc thù của từng hoạt động sáng tạo và khai thác tác phẩm.

cl4.jpg
Địa điểm trình diễn của chương trình nghệ thuật cũng quyết định khung mức chi trả

Về phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc chung, Nghị định 287/2026/NĐ-CP tập trung quy định việc trả tiền bản quyền cho hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước, cũng như việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý. Các chủ thể chịu sự điều chỉnh bao gồm tổ chức, cá nhân tham gia sáng tạo, cơ quan đại diện quản lý nhà nước và các bên trực tiếp khai thác, sử dụng tác phẩm. Mức tiền bản quyền cụ thể được xác định dựa trên cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu hoặc thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên dựa trên các tiêu chí minh bạch như tần suất, thời lượng, quy mô, mục đích sử dụng và doanh thu thu được. Đáng chú ý, Nghị định dành sự quan tâm đặc biệt đến các chính sách mang tính nhân văn và khuyến khích sáng tạo thông qua việc chi trả thêm tiền bản quyền khuyến khích đối với các đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nghệ thuật truyền thống, hoặc đối với các tác giả sáng tạo trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm.

Đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm được xác định thông qua hai phương thức chính là chi trả theo khung định mức tính bằng đơn vị mức lương cơ sở hoặc chi trả theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn

Trong phương thức chi trả theo khung, các loại hình sân khấu truyền thống và hiện đại như tuồng, chèo, cải lương, kịch nói, múa rối, tạp kỹ hay các chương trình nghệ thuật tổng hợp được phân loại chi tiết theo quy mô thời lượng, từ tiểu phẩm dưới 20 phút đến vở dài trên 105 phút, để trả cho các chức danh sáng tạo như biên kịch, đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế sân khấu, phục trang và người thiết kế âm thanh, ánh sáng.

Địa điểm trình diễn của chương trình nghệ thuật cũng quyết định khung mức chi trả, phân tách rõ giữa biểu diễn trong nhà, biểu diễn tại quảng trường, lễ hội ngoài trời và biểu diễn trên sân vận động. Lĩnh vực múa và âm nhạc được chia nhỏ thành các thể loại đặc thù từ tiết mục múa đơn, thơ múa, kịch múa cho đến giao hưởng, concerto, độc tấu, ca khúc, hợp xướng hay kịch hát. Khi áp dụng phương thức chi trả theo doanh thu bán vé và quảng cáo, biên kịch hưởng từ 4,20% đến 6,00%, đạo diễn hưởng từ 3,50% đến 5,00%, biên đạo múa hưởng từ 0,86% đến 1,25%, và nhạc sĩ hưởng từ 1,40% đến 2,00% doanh thu cuộc biểu diễn sân khấu.

Ngoài ra, các tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống, giao hưởng, Opera, kịch múa, xiếc hoặc tác phẩm về đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số còn được hưởng thêm 15% tiền bản quyền khuyến khích. Khi khai thác, sử dụng tác phẩm sân khấu và biểu diễn trước công chúng mà Nhà nước đại diện quản lý, mức chi trả không được thấp hơn 2% doanh thu cuộc biểu diễn, ngoại trừ các chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền phi thương mại được miễn tiền bản quyền nhưng phải thông tin rõ tên tác giả và xuất xứ.

Trong lĩnh vực báo chí phân định rạch ròi giữa tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm và tiền bản quyền khai thác, sử dụng lại tác phẩm

1776918579136_2761437064289422056_2761437064289422056_48e38ed11bcb87945b5f0045da7c7d22.jpg
Các hoạt động khai thác báo chí nhằm mục tiêu tuyên truyền không vì mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cũng được miễn tiền bản quyền nhưng bắt buộc phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm... (ảnh minh họa: Sinh Nguyễn)

Tiền bản quyền sáng tạo cho báo in, báo điện tử thực hiện theo cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu, còn đối với phát thanh, truyền hình được tính trực tiếp trong đơn giá sản xuất đã được phê duyệt. Khi tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng lại tác phẩm báo in hoặc báo điện tử mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, mức tiền bản quyền thỏa thuận không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.

Đối với loại hình phát thanh và truyền hình, tiền bản quyền khai thác được quy định theo khung tỷ lệ phần trăm chi phí sản xuất tác phẩm, cụ thể, các thể loại như tin bài thời sự, phóng sự, ký sự, phim tài liệu, tọa đàm hay chương trình ca múa nhạc, thiếu nhi được tính 10% nếu chi phí sản xuất đến 10 triệu đồng, 8% nếu chi phí từ 10 đến 100 triệu đồng và 5% nếu chi phí trên 100 triệu đồng. Nếu cơ quan phát thanh, truyền hình khai thác tác phẩm không có nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào thì mức chi trả giảm xuống bằng 30% khung quy định.

Việc khai thác từ lần thứ hai trở đi được thực hiện theo thỏa thuận căn cứ trên khung giờ, tần suất và phương tiện phát sóng. Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhắm mục tiêu tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Trong lĩnh vực xuất bản thiết lập khung tỷ lệ phần trăm tiền bản quyền đa dạng cho từng thể loại sách và quy định rõ công thức tính tiền bản quyền áp dụng cho cả xuất bản phẩm in lẫn xuất bản phẩm điện tử

Tỷ lệ tiền bản quyền theo khung được quy định cụ thể như văn xuôi từ 8% đến 17%, thơ từ 12% đến 17%, sách nhạc từ 10% đến 17%, từ điển và sách tra cứu từ 12% đến 18%, sách nghiên cứu lý luận từ 12% đến 18%, sách giáo khoa từ 0,1% đến 10%, sách bài tập và tham khảo từ 2% đến 12%, và bản đồ từ 7% đến 23%.

Phương thức tính tiền bản quyền cho xuất bản phẩm in được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhân với tổng giá thành sản xuất (gồm chi phí xuất bản, in và phát hành) và nhân với số lượng in ghi trong hợp đồng. Đối với xuất bản phẩm điện tử, tiền bản quyền bằng tỷ lệ phần trăm nhân với giá thành sản xuất (không gồm chi phí phát hành, hạ tầng công nghệ) và nhân với số năm sử dụng theo thỏa thuận. Bên cạnh tiền bản quyền bằng tiền, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả sách in được nhận từ 5 đến 10 bản sách, hoặc được cấp quyền truy cập đối với sách điện tử.

Trường hợp xuất bản phẩm thuộc diện khuyến khích như đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số hay sáng tạo bằng tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số sẽ được hưởng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền. Việc sử dụng xuất bản phẩm thuộc sở hữu nhà nước để phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa đọc không nhằm mục đích thương mại cũng được miễn trả tiền bản quyền nhưng phải thông báo bằng văn bản và trích dẫn đầy đủ tên tác giả, xuất xứ của tác phẩm./.

Kim Thoa