Nhìn lại lịch sử hình thà nh và phát triển của đất nước, trải qua hang nghìn năm Bắc thuộc và bao cuộc đương đầu với nạn ngoại xâm, nửn văn hóa Việt vẫn giữ được bản sắc của mình trong quá trình tiến hóa. Công lao của các bà mẹ, người vợ, người con gái trong các cộng đồng là ng xã Việt Nam đóng vai trò chủ yếu và mang nét đặc trưng so với các quốc gia trên thế giới. Đọc cuốn Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại, nhà xuất bản KHXH-1993 của Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết, ta cà ng thấm thía vử điửu nà y.
Người phụ nữ Việt Nam, ngay trong xã hội phong kiến xưa, đã giữ vai trò quan trọng trong gia đình và ngoà i xã hội. Của chồng công vợ; Thuận vợ thuận chồng tát Biển đông cũng cạn, Ruộng sâu trâu nái/ không bằng con gái đầu lòng, hay Giặc đến nhà đà n bà cũng đánh...Những câu ca dao tục ngữ đó nói lên tâm thức mang tính Minh triết của người Việt nhìn nhận, đánh giá vử phụ nữ.
So với lịch sử Văn hóa Trung Quốc, ngay trong Nho giáo, người ta có cái nhìn khắt khe vử phụ nữ, coi phụ nữ là mầm mống của tội lỗi, là thuộc hạng người hạ tiện, thì trong Văn hóa Việt Nam phụ nữ được trân trọng, được đánh giá cao vử thiên chức là m vợ, là m mẹ trong gia đình và nhiửu người được tôn vinh ngoà i xã hội. Những quan niệm vử Tam tòng, Tứ đức, trọng nam khinh nữ của Nho giáo chỉ có ảnh hưởng nặng nử trong triửu đình phong kiến và các giai tầng trên của xã hội Việt Nam thời trước. Còn trong cộng đồng là ng xã, Minh triết Việt thường giữ truyửn thống nhân văn trong quan hệ tình cảm vợ chồng, trai gái. Nhiửu câu ca dao rất đẹp được truyửn từ đợi nà y sang đời khác, mang tính dân chủ, nhân đạo, công bằng vử giới.
Những phụ nữ Minh triết
Trong Văn hóa dân gian Việt Nam có nhiửu nhân vật nữ già u tính Minh triết, như Quan âm Thị Kính, nhân vật Mẹ Đốp trong vở chèo Quan âm Thị Kính, nà ng Châu Long trong vở chèo Lưu Bình, Dương Lễ, nhân vật Giáng Kiửu trong Bích Câu kử³ ngộ™™, nà ng Tiên Dung trong tích Chử Đổng Tử, nà ng Ngọc Hoa trong tích Sơn Tinh, Thủy Tinh...Ngay đối với Mửµ Châu trong tích Mửµ Châu, Trọng Thủy, thiển nghĩ cũng đừng nên quy kết cho nà ng cái tội Trái tim lầm chỗ để trên đầu bởi sự trong trắng thánh thiện của nà ng đã cải hóa được Trọng Thủy, biến mối tình éo le của hai người trở thà nh những hạt minh châu như tâm thức dân gian Việt...Đó là hiện thân của Minh triết Việt nhìn nhận vử phụ nữ, là tiếng nói của tình yêu chung thủy, tình bạn, lòng bác ái đồng thời là sự phản kháng tính giả dối, khuôn sáo của lễ giáo phong kiến đương thời.
Các văn nhân là phụ nữ Việt Nam qua các thời đại đã thể hiện tà i năng và tính Minh triết Việt. Nữ Thi sĩ Hồ Xuân Hương ngay trong xã hội phong kiến đã dám cất lên tiếng nói bảo vử quyửn phụ nữ và quyửn cá nhân con người. Quả cau nho nhử, miếng trầu hôi/ Nà y của Xuân Hương đã quệt rồi...Sự khẳng định cái tôi, bản lĩnh Hồ Xuân Hương thật là độc nhất vô nhị trong thế giới phụ nữ!
Ngay trong thời kử³ Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa và xưng Vương của Hai Bà Trưng đã đánh dấu cái mốc son trong cuộc trường kử³ chống giặc ngoại xâm, già nh độc lập dân tộc. Những lời thơ ca ngợi vử sự nghiệp Hai Bà Trưng của thi sĩ Ngân Giang nói lên hà o khí và vẻ đẹp đầy nữ tính của Hai Bà : Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp và ng khăn trở lạnh đầu voi./Chà ng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi™™.
Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của bà Triệu chống giặc Ngô đã là một sự nghiệp phi thường mà người đương thời đã có bà i hát: Kiửu Kiửu nữ tướng quân/Tiếng tăm động phong trần/Là m tướng Ngô mất vía/Nhan sắc động nhân tâm. Rồi vử sau đến cuối thế kỷ 19 Đinh Tiên Hoà ng dẹp loạn mười hai xứ quân, lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt, khi nhà vua băng hà thì sự hà nh xử của Hoà ng hậu Dương Vân Nga trong việc tái giá và nhường ngôi cho Lê Hoà n để dẹp giặc ngoại xâm và sự chia rẽ nội bộ, phải chăng nên coi đó là một sự Minh triết của người phụ nữ Việt. Đời vua Trần Duệ Tông có bà Bích Châu cũng là một tấm gương Nữ liệt. Trước nguy cơ chính sự suy vi, bà đã thảo Kê minh thập sách để khuyên nhủ nhà vua lấy Dân là m gốc, trọng dụng hiửn tà i ,dẹp bử hủ tục, trọng sự thiết thực, trừ tham quan ô lại... Bao tấm gương kiên trung, tiết liệt của phụ nữ Việt Nam qua các thời đại không sao kể xiết. Bà Bùi Thị Xuân giúp vua Quang Trung trong công cuộc đại phá quân Thanh giải phóng đất nước, nhưng kết cục đã cùng chồng con bị hà nh hình mà không chịu cúi đầu...Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, già nh độc lập, thống nhất cho Tổ quốc vừa qua, phụ nữ Việt Nam rất xứng đáng với tám chữ Và ng được Bác Hồ trao tặng: Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang. Đặc biệt là đức Hy sinh ở người phụ nữ Việt Nam thật lớn lao vô cùng, nói như nhà thơ Hồ DZếnh, thì phải được nạm bằng và ng dòng.
Khác xa với những nhân vật nữ tiếm ngôi vị trong các triửu đình phong kiến Trung Quốc như Đát Kỷ đời Trụ, Lữ Hậu đời Hán, Võ Tắc Thiên đời Đường..., những nữ danh nhân Việt Nam hy sinh, cúc cung tận tụy vì sự nghiệp của chồng con, của đất nước mà không hử tranh già nh quyửn lực, danh lợi.
Trong gia đình Việt Nam, người phụ nữ luôn lo là m tròn thiên chức của mình, bên cạnh Chữ Tình là Chữ Nghĩa, đó là keo sơn, gắn bó vợ chồng trăm năm, khác với các mô hình gia đình Phương Tây hiện đại chỉ chú trọng vử tình mà xem thường Nghĩa. Trong các gia đình hiện nay, nên chăng cần chú trọng phát huy truyửn thống Tình và Nghĩa trong truyửn thống Minh Triết Việt Nam để chống lại các xu hướng lai căng du nhập từ Phương Tây, nhằm giữ vững truyửn thống trong ấm ngoà i êm của gia đình là tế bà o của xã hội.
Minh triết Việt đặc biệt chú trọng đến việc gắn bó cá nhân con người với cộng đồng xã hội và với tổ tiên, trong đó người phụ nữ đóng một vai trò trung tâm như là người mẹ hiửn, dâu thảo, người vợ đảm đang.
Minh triết Việt không nhấn mạnh một chiửu đến tính bình đẳng máy móc giữa hai giới nam và nữ mà một mặt coi trọng thiên chức của mỗi giới mặt khác đòi hửi sự công bằng của nam và nữ trong xã hội. Bởi vậy, trong công cuộc phát triển văn hóa xã hội, Minh triết Việt là động lực và nửn tảng cho việc giải phóng phụ nữ, phát huy các tiửm năng của chị em trong xây dựng gia đình và đóng vai trò ngà y cà ng lớn trong khoa học công nghệ, văn học nghệ thuật, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.