Phạm Huy Thông: Giọng anh hùng ca khởi đầu trong thơ Việt

Vũ Quần Phương| 29/09/2019 13:18

Phạm Huy Thông (22/11/1916 - 23/6/1988) đã học sử, học văn, học luật tại Pháp, có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Trước cách mạng tháng Tám 1945 được học hành đến bằng cấp ấy hiếm lắm. Phạm Huy Thông là nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị xã hội nhưng trước hết và sau cùng ông là nhà thơ. Ông làm thơ khá sớm, năm 15 tuổi đã có thơ đăng báo và liên tiếp trong các năm 1933, 1934, 1935, 1937 xuất bản bốn tập thơ Yêu đương, Anh Nga, Tiếng địch sông Ô, Tần Ngọc. Được Khái Hưng, Nhất Linh, hai ông trùm của Tự lực văn đo

Phạm Huy Thông: Giọng anh hùng ca khởi đầu trong thơ Việt

Phạm Huy Thông (22/11/1916 – 23/6/1988) đã học sử, học văn, học luật tại Pháp, có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Trước cách mạng tháng Tám 1945 được học hành đến bằng cấp ấy hiếm lắm. Phạm Huy Thông là nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị xã hội nhưng trước hết và sau cùng ông là nhà thơ. Ông làm thơ khá sớm, năm 15 tuổi đã có thơ đăng báo và liên tiếp trong các năm 1933, 1934, 1935, 1937 xuất bản bốn tập thơ Yêu đương, Anh Nga, Tiếng địch sông Ô, Tần Ngọc. Được Khái Hưng, Nhất Linh, hai ông trùm của Tự lực văn đoàn, biểu dương khích lệ ngay từ tập thơ đầu. Ở cuối Lời tựa viết cho tập Tiếng sóng, Khái Hưng mạnh dạn khẳng định: Thi sĩ Huy Thông sẽ có thể trở nên một nhà thi hào. Điều đó tôi chắc chắn lắm. Ấy vậy mà sau này Phạm Huy Thông chuyển hẳn sang làm khoa học. Với thơ, có lúc ông quay lại (hồi kháng chiến chống Mỹ) nhưng không còn gây được chú ý trong bạn đọc. Có thể coi thành công thơ ông nằm trong giai đoạn khai sinh phong trào Thơ Mới, nửa đầu thập niên thứ ba của thế kỷ XX.

Thơ Phạm Huy Thông chủ yếu là thơ tình yêu: ca ngợi sắc đẹp và giãi bày nỗi si tình. Ông say đắm và cũng nhiều lời. Đó là buổi đầu của chủ nghĩa lãng mạn ở xứ ta lại là thơ của tuổi mới lớn. Nói được lòng mình say đắm đã là bạo. Cái bạo ấy là chỗ các nhà lãng mạn biểu dương. Ông cũng ham tả cảnh, cảnh như phông nền cho tình, thứ nào ra thứ ấy, ít có sự  lồng ghép hàm xúc lấy cảnh nói tình. Ông không ham khám phá tâm trạng hay sáng tạo tình cảm. Yêu là yêu, là mê đắm, là nhớ mong. Ông thiên về giãi bày nên mạch thơ dễ đều đều bằng phẳng. Lời thơ khi ấy, trước Xuân Diệu có dăm năm, còn nhiều kiểu cách, ước lệ, xa đời sống thường ngày. Người yêu nói với nhau như trên sân khấu ca kịch, lủng củng những từ cao sang và sáo mòn, nghe còn cổ hơn thơ Tú Xương, Nguyễn Khuyến:

Chàng thảo mấy dòng thơ như nhạn múa
Trên tờ mây thiếp vẫn giữ bên tim sầu

 Có lẽ vì thế mà sau những lời biểu dương nồng nhiệt, Khái Hưng cũng phải nhắc nhở: “Nhưng tôi tưởng ông Huy Thông cũng nên thận trọng hơn một chút về sự chọn chữ (…). Có một nền học vấn Hy La và biết châm chước nhập tịch vào văn thơ nước nhà nhiều lối Thơ Mới, như thế cũng chưa đủ. Lại còn phải chọn, lọc, dùng những chữ thực đúng nghĩa, thì tác phẩm của ta mới có thể lưu truyền lại hậu thế được”. Nhưng đấy cũng là dấu tích lúc manh nha của chủ nghĩa lãng mạn, ở nơi  đâu cũng thế. Lãng mạn vốn ưa mộng mị và xa đời. Xa đời bằng cách chui vào ngôi tháp tự mình xây, cách bức với đời, xây bằng mộng thì gọi là tháp ngà, xây bằng kim loại thì gọi là cũi sắt. Thế Lữ, ông nhà thơ quyết định chiến thắng của Thơ Mới, có cả tháp ngà  lẫn cũi sắt Tiên nga xõa tóc bên nguồn Hàng tùng rủ rỉ bên cồn đìu hiu và Trời xanh xanh ngắt ô kìa hai con hạc trắng bay về bồng lai là tháp ngà. Còn cũi sắt, ấy là nơi con hổ trong vườn bách thảo nằm nhớ rừng, nhớ thuở tung hoành phi thường và cũng phi thực Trong hang tối mắt thần khi đã quắc/ Là khiến cho mọi vật đều im hơi. Cố nhiên cái cũi sắt thì có gần đời hơn tháp ngà, nó có tang chứng ở trong đời. Hiện vật trong thơ tình yêu thi sĩ họ Phạm thì toàn mộng mị. Cái thật của nó lại ở nỗi lòng tác giả, ở cái “ái tình” trong lòng ông, nó là cái đáng kể nhất trong cuộc đời này và nó đang choán cả trời đất. Đọc Phạm Huy Thông chặng này phải đọc trong cơn lên đồng ấy mới thấy đồng điệu, mới thấy sáng tạo và đóng góp của tài năng ông. Thanh niên hồi ấy ưa thích ông, cũng như dăm năm sau họ mê mẩn Xuân Diệu và đồng ca theo Xuân Diệu Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi. Phạm Huy Thông là người tiên phong thổi ngọn gió lãng mạn cá nhân vào tâm hồn họ, đánh thức những tình cảm bắt đầu manh nha trong lòng họ: tự do yêu đương, tận hưởng ái tình. Đọc ông, họ như được vào miền đất mới nhiều đắm say, nhiều lạc thú của tình yêu mà trước đó trong thơ cổ điển, ngay đa tình như thơ Phạm Thái cũng không hề có. Điều đó giải thích vì sao khi Huy Thông xuất hiện đã thu hút bạn đọc mạnh mẽ đến mức họ bất chấp những tì vết trong bút pháp của ông. Cách đọc ấy công chúng mấy năm sau không có lại được. Họ tỉnh mất rồi, không đủ say để nhập đồng được nữa. Bây giờ họ đọc ông, thành kính trân trọng trước một khai phá của thơ Việt nhưng quả thật họ có hơi sốt ruột vì những sướt mướt nhớ thương và lê thê than vãn, đôi lúc họ còn mỉm cười vì sự quá dư nước mắt của các bậc nam nhi sức vóc hồi ấy. Tuy nhiên cái chỗ còn là nhược điểm này ở Phạm Huy Thông thì đến khi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên xuất hiện sẽ được khắc phục, tạo nên một thời đại mới trong thi ca, thời đại những tình cảm riêng tư ẩn giấu trong lòng mỗi người, thường là tình yêu, được bộc lộ, được xã hội chia sẻ, cảm thông và ca ngợi. Đó là một đóng góp nhân đạo của thơ cho đời sống.

Thành tựu riêng biệt và đặc trưng cho tài năng Phạm Huy Thông là giọng anh hùng ca trong các bài thơ dài lấy điển tích lịch sử như Hạng Vũ biệt Ngu Cơ thời Hán Sở tranh hùng bên Trung Hoa hoặc như tích công chúa Huyền Trân theo lệnh vua cha Trần Nhân tông từ biệt người yêu, về làm vợ vua Chiêm, dẹp chiến tranh và mở mang bờ cõi. Sức bút Phạm Huy Thông trở nên tung hoành với không gian lớn trong các mối mâu thuẫn của khát vọng quyền lực với sự đắm say tình yêu, của sắc đẹp với ý chí, của sức mạnh con người với khí vận trời đất. Bút pháp lãng mạn Phạm Huy Thông phát huy sở trường ở kích tấc khổng lồ của những tình cảm lớn, những mâu thuẫn lớn. Sự tích lịch sử, mà một phần đã huyền thoại hóa, thành chất men xúc tác cho trí tượng lãng mạn của thơ cất cánh. Tác giả say trong không gian lớn, nơi tình cảm bi thương cùng hành động cao cả ngự trị và chuyển hóa lẫn nhau nhanh, mạnh, bất ngờ. Những câu thơ kể chuyện trở nên âm vang và tràn đầy cảm xúc. Tiếng than của Hạng Tịch khi vận trời đã tận nghe như tiếng vang của sông núi, của thời gian, của trời đất:

Ôi những võ công oanh liệt chốn sa trường
Những buổi tung hoành lăn lộn 
trong rừng thương
Những dũng tướng bị đầu văng trước trận
Nhưng than ôi! Vận trời khi đã tận
Sức lay thành nhổ núi mà làm chi!

Không gian kịch tính của các bài thơ lịch sử Phạm Huy Thông thường được đẩy lên cao trào có tính bi tráng nơi ý chí, nghị lực và lòng son sắt tình yêu bị thực tế đời sống bẻ gãy: Ngu Cơ tự sát để Hạng Tịch tiếp tục sự nghiệp võ công. Vị dũng tướng trăm trận trăm thắng bị sa cơ, sụp đổ bao khát vọng, theo logic lãng mạn Phạm Huy Thông, lại chỉ vì trái tim yêu đằm thắm. 

Trần Khát Chung, vị tướng tài đời Trần nén lòng yêu công chúa Huyền Trân để làm kẻ trung thần. Công chúa Huyền Trân thì lại vì tình yêu mà phải cắt tình yêu. Cuối bài thơ cả hai cõi lòng đều tan nát và không gian bao quanh họ như cũng bước vào hủy diệt: 

Còn đợi chờ chi nữa, cảnh mênh mông…
Mà chưa tan…
Mà chưa tan…
Mà chưa biến ra hư không.

Hình ảnh Lê Hoàn, Phan Bội Châu có một kích tấc kỳ vĩ kể cả trong thất bại. Cái chết của Phan Bội Châu là cái chết của con voi già mà tiếng gầm từ giã lay chuyển cả rừng xanh trời rộng và gọi linh hồn hùng vĩ của loài voi.

Cảm hứng lãng mạn đã tạo sức cho lịch sử khôi phục sự kiện, hơn thế còn sáng tạo tâm trạng cho nhân vật và người đọc. Lịch sử hiện diện theo yêu cầu của cảm xúc, của tâm lý người đương thời. Sự kiện lịch sử và diễn biến tâm lý nhân vật đầy bi tráng làm Phạm Huy Thông thoát khỏi giọng cái tôi ẻo lả của các bài thơ ngắn mấy năm trước tạo nên giọng thơ bi hùng hiếm có của thời ấy. Tôi ngờ rằng khi viết bài Ly rượu thọ mùa xuân năm 1938, một bài thơ cũng có hơi anh hùng ca, Tố Hữu đã ảnh hưởng cảm hứng Phạm Huy Thông khi vào bài bằng tư thế viên tướng Mã Chiếm Sơn trên mình ngựa Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ/ Ngựa rung đầu hí lạnh giữa tàn quân nếu so với tư thế Hạng Võ khi Phạm Huy Thông vào bài Tiếng địch sông Ô:

Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa
Giương mắt buồn say ngắm chân trời xa.

Và hôm nay, đã hơn tám mươi năm đi qua bài thơ này, lịch sử đất nước bao nhiêu biến động, tâm trạng chúng ta cũng nhiều đổi thay nhưng hồn vía chúng ta vẫn mê đắm nhập vào và bị dẫn theo cảm hứng anh hùng ca, lãng mạn Phạm Huy Thông. Đấy là cống hiến đặc sắc của Phạm Huy Thông. Thời gian ông làm thơ chỉ khoảng 5 năm, từ 15 đến 20 tuổi (1932-1937). Giai đoạn này ông thân với Nguyễn Nhược Pháp. Hai tâm hồn trẻ trung, đều say đắm đề tài ngày xưa và đều là tác giả nổi tiếng của phong trào Thơ Mới nhưng thi pháp hoàn toàn khác biệt.  Sau đó, Phạm Huy Thông gác lại việc làm thơ, sang Pháp du học. Về nước, ông đấu tranh chính trị làm công tác khoa học. Từng là Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội, Viện trưởng Viện khảo cổ VN, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử. Đại biểu Quốc hội khóa II  khóa lll. Nhưng không làm thơ nữa. Dù bài  thơ Tiếng địch sông Ô nhiều năm có mặt trong sách giáo khoa bậc trung học và vẫn làm say mê nhiều thế hệ học trò. 
(0) Bình luận
  • Nắng mơ trong biệt thự hoang
    Tôi bị nàng hút đi từ lần thấy hình đại diện Facebook trôi đến. Khoảnh khắc lúc nắng rây xuống những ngón tay thon cầm lọn tóc che nửa phần môi đỏ khiến cho bức selfie ấy đẹp huyền hoặc.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Khai phá” tiềm năng nghệ thuật biểu diễn để công nghiệp văn hóa Hà Nội “cất cánh”
    Trong kỷ nguyên mới, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn của Hà Nội đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, với một tâm thế phát triển mới. Từ ánh sáng của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, nghệ thuật biểu diễn càng có cơ hội trở thành ngành trọng yếu của nền công nghiệp văn hóa, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và lan tỏa hình ảnh Thủ đô Hà Nội trên trường quốc tế.
  • “Hà Nội – Khúc hát tự hào”: Âm vang từ mùa thu độc lập đến khát vọng tương lai
    Tối 1/9, tại khu vực đền Bà Kiệu, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Cửa Nam tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Hà Nội - Khúc hát tự hào”.
  • “Chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả nguồn lực từ quảng cáo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Quá trình phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng và mở rộng không gian công cộng, Hà Nội đã hình thành nhiều vị trí có tiềm năng khai thác quảng cáo, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chỉnh trang đô thị và phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô. Nhất là vừa qua, thực hiện Luật Thủ đô 2026, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 33/2026/NQ-HĐND, là nghị quyết đầu tiên quy định cơ chế quản lý và khai thác hoạt động quảng cáo theo cơ chế đặc thù của Thủ đô Hà Nội,
  • Đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy thành Ban Tuyên giáo Thành ủy
    HNP - Thành ủy Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2763-QĐ/TU, ngày 31/8/2026 về việc đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội thành Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội.
  • Các điểm gửi xe miễn phí tại Hà Nội trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9
    Nhằm phục vụ người dân tham quan và vui chơi dịp Lễ Quốc khánh 2/9, Hà Nội bố trí nhiều điểm trông giữ xe hoàn toàn miễn phí từ 17h00 ngày 31/8/2026 đến hết ngày 02/9/2026. Các vị trí đỗ xe trải rộng tại các tuyến phố trung tâm, di tích lịch sử, công viên lớn, trường học và bến xe cửa ngõ...
Đừng bỏ lỡ
Phạm Huy Thông: Giọng anh hùng ca khởi đầu trong thơ Việt
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO